Monday, July 27, 2020

GS. Nguyễn Văn Lục - MIỀN BẮC SAU 1954

31 Tháng Mười 201212:00 SA(Xem: 136110)
GS. Nguyễn Văn Lục - MIỀN BẮC SAU 1954



Miền Bắc sau 1954
Nguyễn Văn Lục  


nguyenvanluc02-content


Tôi bước đi
Không thấy phố
Không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
Trên màu cờ đỏ (1)

(1) Trần Dần, GHI, 1954-1960, nxb Văn Nghệ, trang 151, thơ Ta nhất định thắng
Bài thơ của Trần Dần là hình ảnh tóm gọn đầy đủ về Hà Nội sau 1954. Không ai có thể nói hơn được Trần Dần qua bốn câu thơ đó. Nhưng cũng vì bốn câu thơ này đã làm ông lao đao suốt cả đời. Kể từ đó, không ai viết về Hà Nội như thế được nữa. Đó là Hà Nội thật. Hà Nội đổi chủ. Hà Nội sau 1954. Một Hà Nội cũng theo cách nhìn của Thanh Bình- một nhà thơ miền Nam cùng với Đoàn Giỏi được tập kết ra đất Bắc và đã méo mặt khi lần đầu tiên nhận được tem phiếu thực phẩm viết:
"Rác rến và củi mục từ Việt Bắc
 Trôi về Thủ Đô"

Và phải đợi hơn 20 năm sau đến lượt Nguyễn Ngọc Lan- tác giả Cho cây rừng còn xanh lá, (Đại Nam, 1994) sau 1975, ra thăm miền Bắc- chính xác là ngày 2-9/1975-(2) về viết bài: Hà Nội tôi thế đó trên tờ Đứng Dậy. Thế đó là thế nào? Là nghèo nàn, đói rách, tả tơi? Ông đã "thật thà" nói đến cả cái tốt lẫn cái xấu. Chẳng hạn như thuật lại căn nhà khi ông rời Hà Nội trước 1954 nay trở lại thấy nước vôi cũ vẫn còn y nguyên… Hậu quả là Lm. Huỳnh Công Minh được phái tới gặp ông và nói: ''Thôi thì tờ Đứng Dậy đã “hoàn thành nhiệm vụ” của nó rồi, mình tính sang chuyện khác. Lãnh đạo đã cho ''Đứng Dậy" "Nằm xuống" vĩnh viễn. Nguyễn Ngọc Lan rơi vào cảnh túng quẫn vì hộ khẩu trước đây là tòa báo nay nhà nước không cho chuyển hộ khẩu nên không được mua gạo, không được vô bệnh viện.
Ông trở thành không hiện hữu, không có mặt.
 
Thật ra, Nguyễn Ngọc Lan nói mà không nói, để tự người đọc hiểu thế nào thì hiểu. Nhưng Hà Nội hiểu Nguyễn Ngọc Lan xỏ xiên. Nay thì đến lượt Nguyễn Ngọc Lan lại bị thất sủng.
(2) Khi phái đoàn miền Nam ra Bắc, được ở khách sạn Thắng Lợi, bên Hồ Tây. Khách sạn "tiêu chuẩn 3 sao" nên mỗi ngày được "bồi dưỡng" một chai bia. Những người như Ni sư Huỳnh Liên "kiêng" không uống thì bia được dồn sang phòng của Hồ Ngọc Nhuận. Đêm nằm ở khách sạn Ba Sao có thể nghe gió mùa từ Hồ Tây lọt qua khe cửa phòng khách sạn. Mỗi khi nhận một cái tách, cái ly thì có làm thủ tục ký giấy bàn giao hẳn hoi. Cũng trong dịp may mắn "đời người" này Nguyễn Ngọc Lan được Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và "đô trưởng" Hà Nội bác sĩ Trần Duy Hưng các nhà văn cỡ Nguyễn Đình Thi đón tiếp v.v... Tưởng mình ngon, ông về hứng chí viết bài: Hà Nôi tôi thế đó. Bút Ký "Đời", Hồ Ngọc Nhuận, các trang 46-51
Viết bài này, tôi nhớ đến hai người ấy- một ở miền Nam, một ở miền Bắc và nhiều nhà văn miền Bắc sau 1954. Phần lớn họ là những nhà văn mà khởi đầu theo đảng bao nhiêu thì sau này chống bấy nhiêu.
Tôi không ở lại miền Bắc sau 1954- Tôi "ri cư" trên tàu há mồm của Mỹ. Mà dù có ở lại cũng không đủ tầm nhìn về chế độ ấy. Tôi làm sao hiểu được hoàn cảnh, nỗi nhục và tâm trạng của Tô Hoài - một nhà văn xu thời- một Phùng Quán "tội nghiệp" cũng phải "tranh thủ" đi ra đồng sớm để gắp phân:
"Cái việc khó nhọc nhất vẫn là quang gánh Quán đi gắp phân sớm lỡ muộn là bị nhặt tranh hết".(3)
(3) Tô Hoài, Chiều Chiều, trang 77.
Đó là nỗi nhục dành cho nhà văn sau Nhân Văn Giai Phẩm.
 Cũng vậy, làm thế nào tôi có thể chia sẻ hết được sự "hãnh diện và sung sướng" của nhà thơ Dương Tường -ông nặng 42 cân- đã nghĩ ra kế sách "Đi bán máu". 42 cân thì có quyền bán 200cc máu cho bệnh viện. Lần sau, để có thể bán được 250cc thì ông phải ăn gian, đeo thêm chì cho nặng để bán được 250cc. Bán xong thì "hồ hởi" vì được ăn "bồi dưỡng" một tô phở Quốc doanh, được mua thêm hai cân đường, 4 cân đậu phụ, 2 kí thịt, 2 hộp sữa. Thế là mất đi một ít máu, nhưng túi nằng nặng tiền và tem phiếu "(4).
(4) Bùi Ngọc Tấn, viết về bè bạn, trang 78-79
 Nhờ các nhà văn miền Bắc- họ như là những cái hàn thử biểu đo thời tiết Đảng- và họ mới đủ tư cách xứng đáng nói về Hà Nội sau 1954.
Trước hết là tâm trạng chung qua Nguyễn Đăng Mạnh:
"Bốn giờ sáng ngày 9 tháng 10 năm 1954. Ngày đáng ghi nhớ. Ngày mà còn nhiều cán bộ nhớ lại là trên đường về Hà Nội: ”Tôi nhớ chuyến xe hôm ấy về Hà Nội, hành khách đua nhau hát suốt dọc đường".(5)
(5) Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh, trang 37
Đó là hình ảnh hào hùng, tuyệt vời của những người "đánh trống trên lưng thế kỷ". Hay nói như Hồ chủ tịch: Người mặc áo rách kéo cầy lịch sử. Tâm trạng này của các nhà văn đi kháng chiến về Hà Nội có thể hiểu được.
 Nhưng tâm trạng của dân miền Bắc sau 1954 thì không giống với tâm trạng dân miền Nam sau 1975. Chỉ có thể cắt nghĩa sự khác biệt này hoặc là dân miền Bắc "khéo" quá, giả vờ hay quá và dân miền Nam "khờ" dở quá. Nhưng dù cười bên ngoài hoặc khóc bên trong thì chắc chắn họ có một nỗi niềm chung: lo cho số phận mình không biết ra sao trước cái vạ từ trên trời rơi xuống?
Những ngày đầu phấn khởi
Nhà thơ Trần Dần hơn ai hết đã ghi lại trong nhật ký những ngày đầu tiếp thu Hà Nội với niềm tự hào và tin tưởng: Trần Dần, Ghi 1954-1955 như sau. “Từ ngày hôm qua sang ngày hôm nay là chuyển hẳn từ hai chữ Chiến Tranh sang hai chữ Hòa Bình. Những tiếng đồng hồ này có một giá trị đặc biệt. Dần dần, người ta mới thấy giá trị của những tiếng đồng hồ đó. Số mệnh, nhiệm vụ của hằng triệu con người thay đổi hẳn… Nhưng {…} sự thay đổi nó dần dà, góp gió, góp gió mãi, tôi đợi một cơn Bão chưa lên.
Hôm nọ có bà bảo tháng 10 thì vui thế. Ngày 10.10 là ngày tiếp quản Hà Nội. ''Một phút mà cách nhau hai chế độ mấy trăm năm.”(6)
(6) Trần Dần, Ibid, trang 33
Đó là cảm nhận kỳ diệu của thời gian của một kiếp người. Một phút trước là nô lệ, một phút sau là con người của tự do. Nếu hỏi một người dân thiểu số, cái gì quý nhất: Muối. Nếu hỏi một người Hà Nôi, lúc này đây, cái gì quí nhất: tự do.
Và hôm nay, tất cả người dân Hà Nội đều đang "vượt cạn", vừa sinh đẻ xong đứa con Độc Lập.
Ngày ấy người ta say mê, đầy tương lai trong người. Có cán bộ hay nhắc lại những ngày đó. Họ trách là là dân chóng quên. Dân chúng không thấy hạnh phúc của mình. Hoài Thanh diễn thuyết ở đảng xã hội cũng nói vậy. Chúng ta chóng quên. Quên mất hạnh phúc lớn của mình.
Không quên, nhưng không lẽ cứ mỗi ngày mang dư vị tháng 10 ra "nhấm nháp" mãi? Bởi vì một lẽ dễ hiểu chúng ta không thuộc loài nhai lại.
Hà Nội với rừng cờ, biển người
Trong một bài viết trước đây của tôi, tôi cũng chia sẻ tâm tình của người Hà Nội những ngày tháng 10.1954 như sau: “Rừng cờ, rừng người, một rừng cánh tay giơ lên. Thật khó diễn tả cho hết những gì người ta nhìn thấy. Trong rừng người tiến vào thành phố, thật khó để biết ai là sĩ quan chỉ huy. Chẳng ai có thể nhận ra những đồng chí như Bùi Quang Tạo, Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Thái, Võ Nguyên Giáp, Lê Liêm. Người ta nhốn nhác tìm bóng dáng ông Giáp hay ông Hồ nhưng không thấy. Vài ngày sau, qua báo chí, người dân Hà Nội được biết các ông ấy đã về tới Hà Nội, nhưng ở đâu thì không ai hay.''


mien_bac_sau_1954-large

Quân Việt Minh qua phố Hàng Đào Hà Nội (1954)
Nguồn: Image by © Bettmann/CORBIS

Hà Nội chuyển mình

Hà Nội đã thay đổi diện mạo. Với rừng cờ đỏ. Ở đâu ra mà sẵn vậy?
Đâu đây, người ta thấy một tấm biểu ngữ lớn với hàng chữ thô kệch văn chương lắm:

Cùng nhau múa hát mấy bài
Khải hoàn ngợi khúc xây đài vinh quang

Nhưng đồng thời, người ta cũng nhận thức ngay được phải ứng xử thế nào trong hoàn cảnh mới. Có một chút nhạy bén và sức lan truyền đến lạ lùng trong đám thị dân năm thành phần được cách mạng công nhận là thợ thuyền, nông dân, binh sĩ, tiểu tư sản và tiểu tư sản yêu nước.
Các cô gái con nhà, yểu điệu thục nữ, mượt mà, quần lụa trắng, áo dài mà mỗi bước đi cố gắng vắt xéo đôi chân từ bên này qua bên kia nay áo cánh nâu, quần đen, tay cầm lá cờ đỏ.

Đôi guốc son thời con gái nay đổi ra đôi dép cao su, hiệu con hổ mầu trắng. Tôi chưa bao giờ có cơ hội hỏi một người con gái Hà Nội của "36 phố phường" buồn hay vui? Nhưng phần đổi lốt chưa kịp nên nhiều người Hà Nội vẫn giữ thói quen: ăn gì cũng là ăn quà. Ăn sáng cũng quà mà ăn tối cũng quà. Xin lỗi, tôi nói sai, ăn phải gọi là xơi. Gặp bạn gái hỏi: Chị xơi quà chưa?
Người ta gọi cái đó là Hà Nội chuyển mình!!- Một thứ Người Hà Nội theo cách nhìn của Nguyễn Đình Thi-. Người Hà Nội nay đều có "lý lịch trích ngang" theo 5 thành phần cả.
Nhưng chủ nghĩa lý lịch không dễ gì trích ngang được. Nhà văn Lê Văn Lân, con trai nhà văn Lê Văn Trương, ông bố di cư vào miền Nam, từ đấy ông Lân phải gánh cái gánh nặng lý lịch của bố mình- phải gánh suốt đời-. Đại úy Kiều Duy Vĩnh, đại úy VNCH ở lại miền Bắc đi tù hầu như suốt quãng đời tuổi trẻ. Trần Văn Giàu suốt đời "ngồi chơi sơi nước" chỉ vì lý lịch "theo tây". Đào Duy Anh dây dưa với đảng Tân Viêt, bị nghi ngờ đưa danh sách đảng viên cho mật thám Tây ở Huế, cũng suốt đời nguyện sống thầm lặng. (Sẽ có bài viết về ông). Ngay như đại tướng Võ Nguyên Giáp và bố vợ là Đặng Thái Mai có lý lịch là con nuôi của trùm mật thám Louis Marty cuộc đời cũng có lúc suýt đi đong vì sự tố giác của Trường Chinh. (Cũng sẽ có bài viết đầy đủ về hai vị).
Riêng các nhà văn, dù theo cụ Hồ, dù là chiến sĩ văn hóa, nhưng quá khứ văn chương tiền chiến cũng phải tự khai tử những đứa con của mình. Những tập Thơ Thơ của Xuân Diệu, Mấy vần thơ của Thế Lữ, Điêu tàn của Chế Lan Viên, Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư cũng bị treo lên cành cây lấy roi đánh như những đứa con hoang và "từ" chúng cả rồi. (7)
(7) Xuân Vũ, Văn Nghệ sĩ miền Bắc như tôi biết, trang 107
Xuân Diệu, Thế Lữ đều có thời thú nhận thời thơ "trụy lạc" của mình. Tự đánh mình thì phải đánh tận tình, đánh quá nữa. Còn đánh nhau thì chỉ phơn phớt, đánh xong rồi chối. Xuân Diệu đã có lần nhận xét thơ Tố Hữu chưa tới đầu gối thơ Nguyễn Du. Đánh xong lại rét, nói là tôi Xuân Diệu nói về chính mình.
Người ta nói rằng dân miền Trung thâm lắm, hơn cả Bắc và Nam. Tố Hữu dân Huế, Xuân Diệu gốc Hà Tĩnh nên thù thì giữ trong lòng, bên ngoài thì thơn thớt nói cười đồng chí, đồng chóe, chờ dịp phạng nhau bằng guốc có sơn mài, gót có đóng đinh. (8).
(8) Xuân Vũ, Ibid, trang 170
So với các nhà văn, nhà thơ miền Bắc thì chưa chắc nhà văn, nhà thơ miền Nam sau 1975 có thể sánh bì. Nhưng về nhân cách nhà văn thì họ lại có thừa. Không một nhà văn, nhà thơ nào của miền Nam sau 1975 chịu cúi đầu công khai "nịnh đảng". Miền Nam có thể không có Nguyễn Tuân, nhưng chắc chắn là không có một Xuân Diệu, một Chế Lan Viên.
Nhận xét đó không phải nói suông. Nhà Văn Nguyễn Minh Châu đà nói rõ ràng như thế này:
"Nhà văn ta bây giờ ai mà chẳng thấy hèn!! Nhà văn gì mà khi viết một câu trung, đã giật mình phải viết một câu nịnh".
 Những cô gái áo dài quần lụa trắng vắng bóng dần. Thay vào đó là những áo cánh nâu chặt chội với những thân hình con gái vạm vỡ, lực lưỡng như những lực điền, đi đứng huỳnh huỵch. Những ông công chức còn sót lại với thói quen complet, cravatte, giầy da, mũ phớt lọt thỏm trong đám đông người giữa những chiếc nón cối.
Phải chăng Nó như báo hiệu một thời đã hết.
 Bời vì lúc ấy nghèo là một chứng chỉ tốt, giầu chỉ thêm mối lo. Vì thế, cũng không thiếu người đã ”giả nghèo” chẳng khác gì “giả câm, giả điếc”, “giả ngu ngơ”.
Hoàn cảnh lúc bấy giờ, nó có sự ngược chiều vô lý. Người Hà Nội cũ ”giả đi xuống”, che dấu đủ thứ. Người mới tới lại thích phô ra.
 Họ xăm xăm đi tìm những phế thải "lỗi thời' còn để lại. Những nhà văn, người có học thì xăm xăm đi tìm lại sách của Tự Lực Văn Đoàn để sống lại cuộc đời với Loan và Dũng. Vớ được cuốn dịch Ngàn lẻ một đêm thì dấm dúi chia nhau đọc.
Cái cảnh đó sau này ở miền Nam xảy ra nguyên vẹn ở mức độ 10 lần hơn .
 Một anh cán bộ vẫn mũ cối, nhưng gắn thêm đôi kính râm vào mặt, chiếc bút máy parker gài trên túi. Chiếc đồng hồ đeo tay phô ra. Chỉ tiếc là nó chưa có hai cửa sổ.
Trông anh lố bịch thêm. Cái lố bịch ấy, người ta cũng tìm thấy một phó bản sau 30 tháng tư 1975. Phải là người Hà Nội chính gốc- người Hà Nội chính gốc sâu sắc cỡ Nguyễn Tuân- mới hiểu thấm thía cái lố bịch của Hà Nội sau 1954.
Thì ngược lại, chỉ cần là một người dân thường như anh Ba, chị Tư của Sài gòn trước 1975 cũng hiễu đến nực cười những lố bịch ấy!! Phải chăng đó là sự khác biệt bản sắc văn hóa giữa hai miền?
 Nhiều anh không ngại ra tiệm trồng răng gắn thêm hai chiếc răng vàng để cười cho sang. Ở nhà thì ráng mua cho bằng được cái màn tuyn nằm cho thoáng, bõ những ngày muỗi cắn, đi ra đi vào súng sính trong bộ pyjama. Hứng quá, thoải mái quá. Mặc luôn bộ đồ ngủ đi ra ngoài đường cho tiện thể.
Các nữ cán bộ thì một chút thoang thoảng môi son, chút má hồng. Đủ để cho người ta biết người mình thơm tho. Nhưng lộ liễu quá thì chưa tiện. Và tại sao chối từ một chút nước hoa thay cho mùi ngai ngái của mồ hôi, mùi tóc muối lâu ngày.
Cứ như thế mà cuộc đấu tranh ai thắng ai trong mỗi con người cứ lớn dần lên!!! Người ta cảnh cáo cẩn thận hiện tượng mất bản chất. Nhà văn Vũ Thư Hiên kể cho tôi nghe, về Hà Nội là rủ nhau đi mấy quán ăn ngon cho đỡ thèm. Cũng bị bá cáo và cảnh cáo.
Cảnh cáo cho có lệ. Nhưng chắc chẳng ai thèm nghe.
Phải chăng đó là những sự thay đổi tận gốc rễ của người Hà Nội và cả của người mới tới?

Các bà mệnh phụ trước đây cứ một bước lại ngồi xe tay, nay lạch bà lạch bạch ráng theo đoàn người đi tới. Mọi người hình như bằng mọi cách khuôn ép, tự sắp xếp mình vào năm thành phần đã được nhà nước quy định. Và chẳng bao lâu sau, Hà Nội có xe điện "bánh hơi" chạy nghênh ngang giữa đường phố như xe điện. Một anh đứng cuối xe làm công việc dí điện. Không dí được điện là xe "chết máy"
 Đường phố vốn nhỏ hẹp nay chật cứng người như nêm cối. Chẳng bao lâu có thêm nhiều đường mới. Như tự phát, từng đám người như thế lũ lượt như những đám rước trên đường phố hết đám này đến đám khác. Trong đám đông ai đó hô Hồ chủ tịch muôn năm!, thế là cả cái cỗ xe người đồng lượt vung cánh tay hô theo. Họ ùn ùn kéo đến Nhà Hát Lớn, đi qua rạp chiếu bóng Eden, nhà in Viễn Đông, còn được gọi là nhà in Ideo, hướng về phía vườn hoa Con Cóc rồi Bắc Bộ phủ. Nổi bật là những đám thanh thiếu niên, không biết bằng cách nào và từ bao giờ, ăn mặc như hướng đạo mà mỗi em đều quàng một chiếc khăn quàng đỏ.
Sau 1975, Sài Gòn rập khuôn nguyên trạng như Hà Nội sau 1954 . Sao nó giống nhau tài tình như thế!! Mặc cảm sợ và mặc cảm có tội cứ lớn dần. Có lẽ chỉ trừ trẻ sơ sinh và kẻ chuẩn bị bước vào quan tài là không biết sợ.

Nhưng người ta nhận ra rằng, lúc ấy hình như cả thành phố chỉ có dân chúng chứ chưa có bóng dáng người lãnh đạo.

Vậy mà cái guồng máy đó chạy đều, nhịp nhàng hăm mươi bốn trên hai mươi bốn. Thành phố như vô chủ, chỉ có đám đông, chỉ có người gặp người, người nhìn người, đi ngược, đi xuôi. Gặp nhau có lối chào mới: giơ nắm tay đồng loạt hô to. Muôn năm, muôn năm!!
Cho đến bây giờ, tôi cũng vẫn chưa vỡ lẽ ra Muôn Năm mang ý nghĩa gì?
Chẳng có gì có thể tả hết được cái ngày như thế, cái khung cảnh như thế, cái vận hành, cái chuyển đổi, lột xác như thế.

Những đoàn người cuồn cuộn như dòng nước lớn không dứt, hết đám này đến đám khác cho mãi đến nửa khuya và bắt đầu lại vào sáng sớm ngày mai. Chính quyền mới trong một tích tắc đồng hồ đã biến đổi đám người trước đây có thể là tiểu thương, viên chức của Pháp, nếu không nói là theo Tây, Việt gian của Tây trở thành một đám quần chúng hăng say mà không mất một ngày tập huấn!!
Trong số ấy, có nhiều nhà tư sản kinh doanh hăng say nay muốn hiến hết cho chính quyền tài sản và cơ nghiệp của họ.
 Họ phải tự giác, tự làm đơn chờ đợi xem có được chính quyền chấp nhận hay không, chấp nhận thành kẻ hợp doanh với nhà nước. Đó là một vinh dự cho họ được cải tạo từ chủ nhân nay trở thành người lao động. Sau khi được chấp nhận rồi, họ cất được cái mũ “phớt” tư sản để đội cái ”nón cối”, để hội nhập xã hội mới với những tước danh mới như công thương gia yêu nước, kỹ nghệ gia tiên tiến hay cao hơn nữa được gia nhập Mặt Trận Tổ Quốc và may mắn hơn, xúc động đến òa nước mắt nếu được “xuống” làm phó giám đốc xí nghiệp.
Nhưng thay đổi một cái mũ có đủ để thay đổi được cả một cuộc đời không?
Sau đó thì họ trắng tay, nhưng ngược lại họ trở thành nhân vật được mọi người kính nể. Họ là những người yêu nước tiêu biểu như các ông Ngô Tử Hạ, ông Nguyễn Sơn Hà, ông Bùi Hưng Gia, ông bà Trịnh Văn Bô (9)
(9) Mặt Thật, Thành Tín, trang 84
Ở miền Nam sau này cũng như thế, nhưng ở mức quy mô và lớn gấp 10 lần. Họ tất cả đều hoan hỉ hiến cho chính quyền mới. Các vua kẽm gai, vua sắt, vua máy cầy, vua hãng dệt nay xuống thành thứ dân vô sản.
 Ôi, hạnh phúc biết bao, vì đã được đổi đời?
Trong số những nhân vật uy tín này, người viết có vinh dự được nghe danh ông Ngô Tử Hạ, người đã có công với cách mạng ngay từ những ngày đầu kháng chiến bằng cách in ấn các truyền đơn cho cách mạng và bây giờ hiến toàn bộ cơ sở nhà in, ấn loát cho chính quyền mới.
Nhưng giả dụ, ông Ngô Tử Hạ đã không hiến trước thì liệu ông có giữ được sản nghiệp không và liệu người ta có để yên cho ông làm ăn hay không? Nhưng không ai dám nêu câu hỏi vớ vẩn đó ra nên cũng không bao giờ có câu trả lời.
Tuy vậy, những ngày tháng ấy kéo dài chẳng được bao lâu, vì người ta phải đương đầu với thực tế trước mặt. Người ta dần dần thất vọng. Trong đó có Trần Dần. Và ông đã viết như sau:

 “Tháng 10 là bữa tiệc lớn cho nhân dân thủ đô. Nhưng bây giờ là tháng 3.1955. Người ta phải ăn bằng những bữa cơm hằng ngày”…
 Không thể ăn bằng ký ức một bữa tiệc từ năm ngoái.
Câu hỏi được đặt ra sau 5 tháng sống dưới chế độ mới. Người ta được gì?
Nỗi mừng, niềm vui qua mau và bây giờ là cuộc sống cơm áo với trăm điều phải lo.
Nay thì lo là chính, lo lấn át tất cả. Mừng là phụ.
Nỗi mừng nay biến thành nỗi lo và cả miền Bắc đều lo như vậy.
Bức màn tre phủ xuống trên toàn miền Bắc
Một bức ''màn tre'' đã phủ xuống trên toàn miền Bắc. Chữ bức ''màn tre'' lần đầu tiên được người ta dùng để thay thế cho chữ bức “màn sắt” quen thuộc để chỉ các nước cộng sản như Liên Xô hoặc Đông Âu.
Ngữ nghĩa chữ bức màn tre là chỉ thị một chế độ độc tài, khép kín, bưng bít che đậy không để lọt ra thế giới bên ngoài những gì đang xảy ra bên trong đó.
Trong vòng 20 năm, bức màn tre ở miền Bắc đã xảy ra 3 điều cực kỳ quan trọng là: Một là về chính trị, họ tiến hành chiến tranh nhằm xâm chiếm miền Nam. Hai là, về xã hội, khi cuộc di cư vừa chấm dứt thì vào khoảng tháng 5/1955, chính quyền miền Bắc quay trở lại chính sách Cải cách ruộng đất đã thực hiện từ 1953, sau đó tiến hành Hợp tác hóa nông nghiệp. Ba là, về văn hóa, trấn áp giới văn nghệ sĩ trong vụ án Nhân Văn giai phẩm.
Cả ba vụ việc đó đều dùng Bạo Lực “cách mạng” để đạt được mục đích bằng sự hy sinh xương máu của người dân theo đúng tinh thần của K.Mác: Bạo lực là bà đỡ của Cách Mạng.
Sau này liên lạc giữa hai miền Nam Bắc ngăn cách bởi bức màn tre này thành hai thế giới và sự liên lạc giữa hai miền giới hạn vào những tấm thư bưu phiếu. Nhưng cũng chỉ được một thời gian ngắn rồi mất hẳn. Số phận những người chọn ở lại hay bất đắc dĩ phải ở lại sau bức màn tre đó ra sao? Không còn ai biết được nữa.
Bài viết sau đây dành chọn để ghi lại hoàn cảnh miền Bắc sau 1954 với tất cả những trớ trêu lịch sử oan khiên và những hệ lụy từ chế độ đó mà ra.
Xin ghi tiếp phần nhật ký 1954 của Trần Dần để thấy được những thực trạng Hà Nội sau 1954 và những đổi thay, chuyển biến tâm trạng của nhà thơ Trần Dần.
Nhà thơ viết tiếp những suy tư của mình:
Về Hà Nội được đúng 10 ngày. Hà Nội ít thay đổi. Gặp bố. Anh Đường. Cháu Hà. Anh Lan. Gặp bạn. Trần Mai Châu. Một số người không gặp.
Nay thì những dự định khó thực hiện vì chính sách gò bó.Tôi bị bao vây. Chặt quá, ép quá… Tôi muốn gạt những núi định kiến mà ngoi lên thở. Nhưng sao buồn thế? Khổ thế? Nhiều lúc tôi tưởng như mất cả cuộc đời rồi. Tay buông xuôi. Chân duỗi thẳng. Tôi buồn như người đã chết.(10)
(10) Trần Dần, Ibid trang 63
Cái màn biểu diễn giáng xuống đầu tiên là việc đổi tiền từ tiền Đông Dương sang tiền cụ Hồ. Trong vụ đồi tiền này, người dân tự nhiên mất 2/3 tài sản của mình. Cụ thể là một bát phở trước đây giá là 3 đồng bạc Đông Dương. Mọi người đều bị móc mất số tiền ở trong túi. Nay muốn ăn một bát phở như thế, phải trả là 10 đồng, Người cộng sản quả là có tài tạo ra sự khan hiếm. Muối, đường, vải vóc tự nhiên trở thành khan hiếm. Và người ta kháo với nhau rằng, nếu cộng sản làm chủ sa mạc thì chẳng bao lâu, cát sẽ trở thành khan hiếm, phải xếp hàng mới mua được.
Cuộc sống kể từ ngày hôm nay báo hiệu những ngày đen tối sắp tới.
20.1.1955
Những ngày cuối năm.
Tết năm nay ở Hà Nội. Ít cành đào quá. Hoa thủy tiên cũng hiếm. Hàng sách chưa thấy những bìa xanh đỏ. Phố Hàng Mã có ít hoa giấy. 10 giờ, phố xá đóng im ỉm. Vắng tanh vắng lạnh. Những dãy phố Bà Đanh này phản ảnh tình hình chính trị kinh tế bây giờ. Còn thiết quân luật. Những ngày đầu tiên của Hòa Bình còn gặp nhiều khó khăn. Nạn đói khu tư. Nạn di cư miền công giáo. Khu 4. Vụ Ba Làng nổi loạn. Hải Phòng phá giá đồng bạc. Các ổ Mỹ, Ngô Đình Diệm phá hoại hòa bình, kêu người đi Nam. Đô la Mỹ vẫn làm người ta tối mắt. Chính nghĩa thì nghèo. Kinh tế ta vừa thoát khỏi nanh vuốt Mỹ Pháp, còn non yếu, như đứa bé sơ sinh đỏ hon hỏn. Cán bộ máy móc. Vụ thuế công thương gây một panique lớn. Các rạp hát ế khách. Các hiệu ăn chuyển sang phở nhiều. Giá hàng đắt lên. Tiền Đông Dương ăn hơn 70 rồi. Nhiều người thất nghiệp. 6 vạn công nhân. 3 vạn cán bộ miền Nam. 30 vạn đồng bào miền Nam phải xếp việc. Trí thức không có việc. Nghệ sĩ chưa tìm được cách sống cho bằng trước. Trường tư sụt đi nhiều. Báo chí bán rẻ, ế. Khả năng mua sách của Hà Nội sụt đi. Hiệu cúp tóc vắng. Cyclo bí, cơ quan cán bộ không đi. Lạp sường lồ mát phàn một đêm khéo lắm bán được cho hai người…
Đúng vây. Kẻ tà có đô la. Chính nghĩa không có tiền. Tùy từng người chọn đường.(11)
(11) Trần Dần, Ghi 1954-1960, Phạm Thị Hoài biên tập Văn Nghệ phát hành, trang 72
Đấy là bức tranh toàn cảnh đời sống miền Bắc sau 1954 được Trần Dần ghi lại đầy đủ và trung thực sau khi hòa bình trở lại. Bức tranh đó nhắc nhở người ta nhớ câu nói của Tacite xưa như sau:
“Ils firent un désert et l’appelèrent Paix”. {Họ xây dựng nên một sa mạc và gọi đó là Hòa Bình}.
Những suy nghĩ của Trần Dần viết ra là rất nhân bản, rất gần gũi và hơn 25 năm sau, tháng 10, 1991, một Trần Dần thứ hai xuất hiện. Sâu sắc hơn, cay đắng hơn, “tàn bạo” hơn. Đó là Bảo Ninh với ''Nỗi buồn chiến tranh'' khi ông viết về cuộc sống của ông, đúng hơn về tiểu đoàn 27 mà cho đến 75 chỉ còn sống sót 10 người trong số 500 người lúc đầu: ''Đến bây giờ, lúc này đây, bạn hãy xem thực chất quanh ta có gì khác hơn ngoài cuộc sống tầm thường và thô bạo của thời hậu chiến? Nền hoà bình này… Hừ hình như tôi thấy các mặt nạ người ta đeo trong những năm trước rơi hết. Mặt thật bầy ra gớm chết. Bao nhiêu xương máu đã đổ ra."
Dưới mắt Trần Dần quả thực Hà Nội đã không còn như trước nữa.
Hà Nội- Những ngày đen tối
Nạn đói đe dọa là có thực. 
Nạn đói đe dọa
Khu tư đã rơi vào cảnh đói kém, mất mùa như trong phúc trình của đại sứ Ba Lan. Trong bản báo cáo tháng gửi về nước ông, ông đại sứ viết: Thị trường cần cung cấp thêm lúa gạo và các nông sản khác đang bị thiếu hụt nghiêm trọng. Cần phải ngăn ngừa nạn đói có thể xảy ra ở khu bốn là nơi hội đủ những triệu chứng như: hạn hán, ruộng đất bị bỏ hoang. Nếu Việt Nam không nhận được viện trợ to lớn về lúa gạo thì tình hình sẽ trở thành nguy ngập và cuộc bầu cử sẽ hết sức bấp bênh. Báo cáo của đại sứ Ba Lan tháng 3 như sau: “Một trong những khó khăn nhất mà các đồng chí của chúng ta gặp phải là nguy cơ xảy ra nạn đói... Hiện nay viện trợ của CHNDTQ đã tới nơi, nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu. Vụ mùa tháng 5 không khả quan vì hạn hán kéo dài. May thay, nhờ có viện trợ Trung Quốc nên tháng 5, năm 1955, VNDCCH đã tránh được nạn đói”. Theo báo cáo của đại sứ Ba Lan: “Cuối tháng tư tình hình được cải thiện một chút nhờ gạo, gà và khoai lang gửi từ Trung Quốc đã sang tới nơi.” (12)

(12) Báo cáo của đại sứ Pietka, Hà Nội, ngày 2/5/1955. Bản dịch ra tiếng Việt của tiến sĩ Trần Thị Liên

Không có viện trợ thực phẩm của Trung Quốc thì đói to.Tình trạng lương thực ở miền Bắc rất đáng lo ngại mà theo cách tính sơ khởi là mức tiêu thụ gạo không quá 250kg/mỗi đầu người/năm (1955 là 286kg/người. 1957 là 285.7kg/người).
Người Pháp cuốn gói ra đi
Nạn đói kém xảy ra phần lớn là do hậu quả sau chiến tranh và sự ra đi của người Pháp cuốn gói theo họ tất cả những gì có thể chở đi được. Người Pháp trù liệu chuyển vào Nam qua tầu chiến Mỹ toàn bộ xe cộ, xe tăng, thiết giáp, súng ống, đạn dược. Trong đó 200.000 tấn đã được dự liệu đưa vào miền Nam. Thêm vào đó là máy móc, trang thiết bị, nguyên vật liệu (raw materials) kho hàng, tất cả đã được chở vào miền Nam. Tính ước lượng trị giá bằng tiền vào khoảng 2000 triệu francs… Cũng vậy, có 29 trên 30 các xưởng kỹ nghệ của Pháp được tháo gỡ, chuyển vào Nam.
Vì thế, chính quyền mới sau khi tiếp quản các cơ sở kỹ nghệ phải đương đầu với tình trạng bất khả dụng hay khiếm dụng. Chẳng hạn, nhà máy xi măng Hải Phòng, chỉ sản xuất được bằng phân nửa so với trước đây. Sau này nhà máy được xây dựng lại do sự giúp đỡ của Liên Xô từ tháng 9-11/1955 và hoạt động 24/24 với 3 tốp thợ, mỗi tốp 2000 người. Tuy nhiên, cho đến 1956, nó cũng chỉ đạt được 61% tổng sản lượng của năm 1939. Sản lượng xi măng của nhà máy Hải Phòng là 400.000 tấn/năm, trước 1954 đủ cung cấp cho nhu cầu xi măng của miền Bắc.
Nhưng tệ hại nhất vẫn là mỏ than Hòn Gai, trước đây mỏ than Hòn Gai được trang bị máy móc của Mỹ. Năng xuất dĩ nhiên là cao. Nay người Pháp đã tháo gỡ trở đi thứ gi cần phải tháo gỡ, thứ gì dùng được và ngay cả thứ gì xét ra không dùng được, nhưng nếu có thể làm trở ngại cho việc sản xuất thì cũng không từ. Đó là tình trạng Sabotage, phá hoại trước khi bỏ đi. Ấy là chúng tôi không muốn nhắc tới sự phá hoại trực tiếp (sabotage) của nhóm tình báo của đại tá Lansdale vào những ngày cuối cùng của thời hạn 300 ngày theo Hiệp định Genèva.
Vì vậy, việc sản xuất than ở Hòn Gai đã phải quay trở lại thời kỳ tiểu công nghệ lấy sức của người lao động làm chính. Sẽ bốc dỡ than bằng tay, khuân vác bằng sức người. Bao nhiêu công việc nặng nhọc trước đây do máy làm thì nay con người phải lấy sức người ra mà làm.
Từ đào bằng máy chuyển sang đào bằng tay, sự vận dụng sức người ở đây phải được kể là vô cùng khó khăn và vất vả cho người lao động. Và chính quyền mới đã bắt đầu làm lại như thế đấy. Nghĩ tới mà khiếp sợ. Và nên nhớ rằng: với sức người, sỏi đá cũng thành cơm.
Nhà máy sợi Nam Định cũng chỉ hoạt động bình thường sau khi Trung Cộng tặng cho 500 máy dệt tự động vào đầu năm 1957. Nhà máy bột giấy (paper mill) cũng được Trung Cộng trang bị lại máy móc và nay hoạt động lại ở Thái Nguyên.
Nhưng quan trọng nhất là nhà máy cơ khí ở Hà Nội được Liên Xô tài trợ và bắt đầu xây cất vào tháng 12/1955. (13)
(13) Revolution, Socialism and Nationalism in Viet Nam, Volume 1, trang 262-263
Con đường xây dựng Xã Hội chủ nghĩa từ 1954 đến 1975 và từ 1975 đến nay đã đi được bao nhiêu đoạn đường và còn cần thời gian là bao nhiêu năm nữa?
Ruộng đất bỏ hoang
Lý do thứ hai gây khó cho chính quyền mới là ruộng đất bị bỏ hoang. Nhiều ruộng đất lúc chiến tranh đã bị bỏ hoang và chiếm 7% số ruộng đất canh tác ở miền Bắc. Ruộng đất và làng mạc của nông dân các vùng xôi đậu đã bị máy bay Pháp bỏ bom, hoặc nã đạn pháo mỗi ngày, đúng giờ, khoanh vùng tình nghi như một vùng khủng bố trắng ”white zone”, giống như No man’s land của người Mỹ sau này. Nhiều khi, nông dân phải cầy cấy ban đêm vì sợ máy bay, sợ bị đạn pháo. Hơn nữa, cho dù có cầy cấy được thì đất canh tác thuộc vùng Trung Châu Bắc Việt vốn là vùng đất rice- deficit, năng xuất thấp, không đủ cung cấp cho cư dân Bắc Việt, hoặc chỉ là độc canh nên quanh năm thiếu hụt cần sự cung cấp lúa gạo từ trong Nam ra mỗi năm.
Nay tất cả nguồn cung cấp ấy không còn nữa.
Những ruộng đất ấy đã được canh tác cả hàng nghìn năm. Đất đã hẹp, mật độ dân số đông, ruộng đất bị khai thác triệt để như cấy hai mùa, cấy xen kẽ.
Đất không được nghỉ ngơi.
Mỗi mùa, cần đào sâu thêm để được đất mầu, đất tốt. Đào sâu thì chỉ gặp đất thịt, đất đen, mầu mỡ không còn.(14)
(14) Nông dân Bắc Việt, giáo sư Nguyễn Văn Canh, trang 134}
Nạn lụt, hạn hán và giông bão gây mất mùa
Nếu chúng ta còn thuộc một vài câu ca dao còn sót lại để mô tả cái lo lắng của người nông dân miền Bắc, đã hẳn may ra hiểu được hoàn cảnh của họ. Đó là hoàn cảnh bất lực của con người trước thiên nhiên với đủ thứ lo lắng:
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông Trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên bể lặng, mới yên tấm lòng

Cho nên, kẻ thù truyền kiếp của người nông dân vẫn là thời tiết.
Chẳng hạn như các vùng đất tân bồi chung quanh tỉnh Nam Định thường gặp thiên tai mỗi năm. Không lụt thì bão tố, không bão tố thì hạn hán.
Theo John Kleinen, ông liệt kê các vùng như Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Ninh Cơ là vùng đất tân bồi với đụn cát, đất bùn, rộng 72.000 mẫu tây mà người ta chỉ có thể trồng trên đó những cây phi lao. Các vùng đó luôn bị lụt và bão có khi là cấp số 8-9/ giờ. Vì thế, người ta phải nhiều lần đắp các đê biển (sea dykes) từ những năm 1892-1900, 1934-1939 và sau này 1957-1962 và 1962-1971 để ngăn lụt và chống bão. Đê biển ở các vùng trên chạy dài đến 80kilômét với mật độ dân số rất cao, trên 1000 người/ km2.(15)
(15) John Kleinen: Access to Natural Ressources for whom? Aquaculture in Nam Dinh, Viet Nam.
Cho nên lụt cũng chết mà hạn hán cũng chết. Vụ mùa tháng 5.1954 thì hạn hán. Nhưng tháng 12.1954 thì bị lụt. Lụt và hạn hán quanh năm làm khổ người nông dân miền Bắc. Sau này cũng vậy, vào năm 1959, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đã ra trước Quốc Hội cho biết kết quả việc thu hoạch năm vừa qua là thảm bại: Trung bình thu hoạch chỉ là 1.4 tấn/mẫu. Ruộng tốt, trung bình có thể thu hoạch được từ 4 đến 5 mẫu.Vì thế, tổng cộng chỉ thu hoạch được 1.161.000/ tấn. Thiếu hụt 34.3 % của một mùa gặt bình thường.
Vậy mà nạn lụt đã xảy ra vào tháng 12/1954, ngay khi vừa tiếp quản xong Hà Nội. Đã lụt còn rét căm căm. Đói cộng lạnh là hai nỗi khổ của nông dân miền Bắc.
Đã thế, 90% đê điền ở miền Bắc cần phải được tu sửa. Trong lúc chiến tranh, máy bay đã phá hủy 8 hệ thống đập nước dung tích để tưới tiêu cho 252.000 mẫu ruộng. Sự sống còn của nông dân tùy thuộc vào sự sửa chữa tức thời hệ thống đê điền này nên chỉ trong vòng một năm 2 triệu 68 vạn ngày công đã dùng để sửa chữa hệ thống đê điền và sửa chữa 2750 kilômét bờ đê để tránh nạn lụt.
Lại một lần nữa cho thấy sự vận dụng sức người ở đây là ngoài sức tưởng tượng được. Sự khốn khổ và đói nghèo của nông dân miền Bắc ra ngoài sức tưởng tượng của chúng ta.
Chính quyền mới bằng mọi nỗ lực cũng không xong, bắt buộc phải nhập 150.000 tấn gạo từ Miến Điện mà mức thiếu hụt là 200.000 tấn/năm.(16)
(16) Trích tóm lược Revolution, Socialism and Nationalism in Viet Nam. Vol 1, Ken Post, trang 262.
 Nạn thất nghiệp
Tính đến tháng 12/1954, nghĩa là sau hai tháng tiếp quản Hà Nội. Có 6000 cửa tiệm đóng cửa. Trước đây, các khu phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Than, trước cửa chợ Đồng Xuân, lúc nào cũng tấp nập kẻ buôn người bán. Nay chủ hoặc vào Nam hoặc tạm đóng cửa. Nhiều cửa hàng ăn lớn nay đổi ra tiệm phở. Gần 9000 chị em bán hàng rong hết đi rong. Không ai có tiền để ăn quà sáng, quà chiều nữa. 4000 thợ tiểu công nghệ như thợ may, thợ bạc phải đổi nghề, hoặc về quê làm ruộng. Chưa kể 20.000 thợ thuyền đủ loại không có công ăn việc làm.
Hà Nội vắng hoe vì thiếu những người bán hàng rong.
Trần Dần đã thấy một Hà Nội vắng bóng người. Bởi vì thiếu những người bán lẻ, lưu động. Những người bán hàng rong vốn là nét sinh hoạt cá biệt, sinh động của Hà Nội. Cái làm nên Hà Nội là Hà Nội. Đó là những “cửa hàng lưu động” vốn liếng chỉ là quảy đôi quang thúng, hay đôi khi chỉ là một cái thúng đội đầu. Sang ra thì cửa hàng được thiết kế đằng sau chiếc xe đạp như các cửa hàng bán cá giống, bán chim cảnh, bán đồ chơi cho trẻ con, “ciné lưu động”, bán kẹo, nhất là kẹo kéo, bánh bao v.v… Nhiều cửa hàng này đi đến đâu được trẻ con bu lai chung quanh như coi phim (phim thường thường có bón lỗ để nhòm hai bên, phim câm, các loại phim thời đó như Zôrô bịt mặt, hay phim Tarzanv.v…) xem cá cảnh, bán kẹo kéo. Những tiếng rao hàng đủ loại từ sáng đến tối. Tiếng gõ “tục tắc” vui tai đến tiếng lè nhè “phá xang” nay không còn nữa.
Hà Nội im lặng như Trần Dần mô tả.
Những cửa hàng “lưu động” như gánh phở, cà phê buổi sáng, rất hương vị, mùi cà phê, mùi phở buổi sang bay tỏa thơm đến thèm thuồng. Đó là những hương vị Hà Nội hay miếng ngon Hà Nội rất ấn tượng làm nên Hà Nội nay cũng không còn nữa.
Hà Nội “chết” theo cái nghĩa ấy. 9000 người trong số họ phải đổi nghề.
Những người như Trần Dần khi về Hà Nội thèm những hương vị ấy và thấy tiếc nuối cái không khí Hà Nội trước 1954.
Gạo ăn chỉ còn đủ cho 3 tháng. Xăng dầu cạn kiệt chỉ đủ cho một tháng.
Nhất là chính phủ hoàn toàn bất lực trong việc kiểm soát giá cả. Vải một mét trước 1954 là 350 đồng/mét, bây giờ là 495 đồng/mét. Đường 570đồng/kilô nay nhảy vọt lên 2900 đồng/kilo. Xăng dầu 310/lít nay là 1630/lít.
Sự trì trệ và xuống cấp thê thảm của sinh hoạt kinh tế miền Bắc
Kể từ 1955, miền Bắc chỉ giao thương với 7 nước trong khối xã hội chủ nghĩa và 3 nước ngoài khối. Việc xuất cảng nguyên liệu vốn là huyết mạch của kỹ nghệ miền Bắc như than đá, quặng sắt, kẽm. Nhưng mặc đầu còn đói kém, vậy mà lần đầu tiên 1957, ngoài Bắc đã có thể cho xuất cảng bột gạo, sắn, hóa chất Cronit và khoáng chất apatit mà tổng sản lượng lên đến 60% hàng xuất cảng. Việc nhập cảng với các nước anh em chìếm tỉ lệ 52% mà đến 54,6% hàng nhập cảng vào năm 1955 là để đổi lấy sản phẩm tiêu dùng mà miền Bắc chưa sản xuất được. Nhưng sang đến năm 1957, hàng nhập cảng đã tụt xuống còn 32% vào năm 1957.(17)
(17) Trích VNA reports, 18 and 21 June 1956, BBC 572, 26 June 1956, p.25
Tuy nhiên, trên thực tế, chính quyền mới đã không làm được những điều đáng lẽ cần phải làm. Hoặc làm chưa đến nơi, đến chốn. Ông Dương Quang Đông, một đảng viên ở miền Nam đã có lúc phải thốt ra như thế này trên báo Nhân Dân: ”Từ mười một năm nay, đảng tỏ ra không có khả năng cung cấp cho dân một hạt gạo nào, một miếng thịt nào, một giọt nước mắm nào và cũng không có khả năng ỗn định về giá cả. Dân khổ quá. Biện pháp tốt nhất là đảng nên để cho dân được tự do sản xuất, tự do sinh sống, tự do học hành.'' (18)
(18)Trích Việt Nam 1920-1945, Cách Mạng và phản cách mạng thời đô hộ thuộc địa, tác giả Ngô Văn, trang 367
Xin trích dẫn nhận xét của Ken Post trong chương Crisis in the north về tình trạng miền Bắc vào giữa năm 1954:” By mid-1954 the economy of Bac Bo and northern Trung Bo had suffered a serious decline in productive forces as a direct or indirect effect of the fighting. An area of riceland estimated at between 138.800 and 143.000 hectares, some 7 per cent total, had gone out of cultivation, mostly in so-called “white zones” where the French army had followed a shoot-on-sight policy. On the surface, this was not a large proportion, but it must be remembered that what had now become the” northern regroupment zone” of the new Viet Nam had always been a rice-deficit area in the colonial period, needing to import annually from Cochichina. Hence, any decline in production whilst the new” southern regroupment zone” was politically unstable and under continuing French and increasing US influence was a serious threat”(19)
(19) Revolution, Socialism and Nationalism in Viewt Nam, volume 1, Kent post, trang 262
Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong dịp phát biểu tại quốc hội, tháng 3. 1955 cho rằng: Hòa bình đã trở lại, cần có lãnh đạo tập trung, thống nhất và mạnh… để đáp ứng được những nhu cầu của chính phủ. Cần tăng gấp 80% viên chức nhà nước trong 3 năm.
Khi người Pháp ra đi, còn để lại 7000 viên chức trong số 20.000 người từng làm việc trong chính phủ Liên Hiệp Pháp. Những người ở lại làm việc theo cung cách cũ, thiếu nhiệt tình và tinh thần hy sinh.
Về lương bổng của những viên chức từng làm cho người Pháp, để lưu dụng họ, chính quyền mới cho họ vẫn giữ bậc lương cũ thời Pháp. Gọi là bậc “lương lưu dụng”. Trong khi những người từng đi chiến đấu trở về thi thiếu kiến thức và năng lực chuyên môn nên ăn theo lương ”kháng chiến”. Trái khoáy là lương một ông thư ký thời Pháp cao gấp đôi lương một ông Chánh án của chính quyền mới.
Vào khoảng cuối năm 1960, các cựu viên chức trước đây làm cho Pháp mới tự nguyện xin rút lương và ăn theo lương như các cán bộ chính quyền mới.
Phải chiều lòng viên chức trong chính quyền người Pháp vì thiếu chuyên viên. Cụ thể như ở mỏ than Hòn Gai khi được chuyển giao cho chính quyền mới. Dưới thời quản lý của người Pháp thì có 21 kỹ sư và 62 chuyên viên, sau này chỉ vỏn vẹn còn 30 chuyên viên. Nhà máy dệt Nam Định đã không còn một kỹ sư nào ở lại. Để bù khuyết khoảng trống đó, từ 1955-1960 có sự chi viện lệ thuộc vào 3600 chuyên viên người Tầu, 1400 Liên Xô và 1000 người của các Quốc gia Đông Âu.
Cũng vậy, trong ngành giáo dục, các giáo chức trước đây dạy ở các trường công và trường tư vẫn được lưu dụng. Các trường như Chu Văn An, Nguyễn Trãi vẫn điều hành như cũ. Ngay các trường tư như trường Dũng Lạc, trường tư của Thiên Chúa giáo, nằm bênh cạnh nhà thờ Lớn Hà Nội vẫn được tiếp tục mở cửa. Đặc biệt không ngờ là trường Albert Sarrault của Tây cũng vẫn còn, vẫn dạy tiếng Pháp, chỉ có thay đổi là hiệu trưởng là người Việt.
Trong khi đó, ngân sách từ các năm 1955 đến 1957 đã dành 26.5% cho Quốc Phòng, Xây dựng 24.4, hành chánh 14.5%. Cộng chung ba bộ này chiếm 65%. Phần còn lại dành cho kỹ nghệ có 2.7%, y tế 1.9% và giáo dục có 2.9%.(20)
(20) Revolution, Socialism and Nationalism in Viet Nam, Volume 2, Viet Nam Divided, Ken Post, trang 52-55
Với một ngân sách lệch như thế, chú trọng quá nhiều vào Quốc Phòng, đất nước làm sao khá lên được? Một ngân sách nghiêng về Quốc Phòng như thế, bởi vì kể từ năm 1958, đảng Lao động Việt Nam nhằm hai muc tiêu chiến đấu: chiến đấu xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và chiến đấu hoàn thành cuộc gìải phóng miền Nam.
Sau này thì không phải chỉ có hơn 3000 chuyên viên Trung Quốc nữa. Biên giới phía Bắc được mở rộng để đón tiếp hàng nhập cảng từ Trung Quốc như một “con đường tơ luạ mới của thế kỷ này” cộng với đường biên giới mới của bản đồ được vẽ lại. Con đường tơ lụa nay được ủi phẳng mở đường cho xa lộ kéo dài từ Thái Nguyên, Việt Trì đi thẳng tới Hải Phòng, Hà Nội. Nhất là Khu kỹ nghệ Việt Trì (Viet Tri complex).
Trong kế hoạch 3 năm mà phần lớn vốn liếng do Trung Quốc đầu tư vào như đập thủy điện, nhà máy giấy, nhà máy mỳ chính, nhà máy thuốc trừ sâu, nhà máy cơ khí, nhà máy đường. Từ đó kích cầu các cơ xưởng kỹ nghệ địa phương, với 854 cơ sở, với đủ các nhà máy cùng với trang bị kỹ thuật, vốn liếng xuất phát từ Trung Quốc trải dài xuống các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn v.v…
 Người Pháp vừa xuống tàu về nước thì lại có người láng giềng đến thế chỗ. Bài hát 1000 năm đô hộ Tàu nay phải đổi lời lại như thế nào cho thích hợp?(21)
(21) Mặt Thật, Thành Tín, trang 15.
Tính chung đến thámg 7.1955, nước anh em Trung Quốc đã giúp đỡ chính quyền mới về thực phẩm và trang thiết bị trị giá 325 triệu Mỹ Kim. Và Liên Xô là 150 triệu Mỹ kim. Không kể một vài nước anh em nhỏ khác như Tiệp Khắc, Đông Đức.(22)
(22) Võ Nhân Trị, Croissance économique, 1967, trang 262.
Sau này, trong việc quyết định ”dạy cho Việt Nam một bài học”, Đặng Tiểu Bình mở chiến dịch vì cho rằng Việt Nam đã “vô ơn trước sự giúp đỡ trước đây”. Dĩ nhiên, mọi người hiểu rằng đây chỉ là một cái cớ.
Đã thế, sau chiến tranh và khi hòa bình đã trở lại, nhưng những viên chức cán bộ trong chính quyền mới đổ đốn ra làm việc còn nặng tính cách quan liêu, cửa quyền, bàn giấy. Họ chẳng khác gì những cán bộ trong chính quyền Xô Viết vào những năm 1925-1930.(23)
(23) Cuộc Cách mạng bị phản bội.L.Trôt-Ski, tủ sách nghiên cứu 1993, trang 12
Đó là một thứ 3 thứ lạm phát: lạm phát chữ nghĩa do tuyên truyền- lạm phát quyền lực do một thiểu số nắm giữ- lạm phát kinh tế do tham nhũng.
Tất cả các thứ lạm phát đó là một thứ thuế trực tiếp đánh trên đầu trên cổ giai cấp giới lao động và dân nghèo.
Như Chế Lan Viên cuối đời thú nhận rằng, ông vẫn thường chỉ ăn bánh vẽ và tiếp tực ăn như thế. Bà Vũ Thị Thường, vợ nhà văn đã công bố bài thơ Bánh vẽ của ông có những câu như sau:
 ''Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
 Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
 Cầm lên nhấm nháp
 Chả là nếu anh từ chối
 Chúng sẽ bảo anh phá rối.''

Hà Nội với nạn nhà cửa chật hẹp trước 1954 và sau 1954.
Hà Nội trước 1954, ăn đã là một vấn đề nan giải, nhưng ở còn khổ bội phần. Ấy là Hà Nội thời trước 1954 chỉ có gần một triệu dân. Nhưng Hà Nội vẫn được coi là quá chật chội, không có chỗ ở. Những người làm phu lao động, buôn thúng bán mẹt không thể tìm một chỗ nào để trú ngụ. Đó là những người dân thường như bán hàng rong, những người buôn thúng bán mẹt, những công nhân làm vệ sinh, đổ thùng, quét đường, hốt rác.
 Hầu hết họ đều ở ngoại ô Hà Nội. Mỗi ngày vào Hà Nội làm viêc, tối đến rút ra khỏi Hà Nội. Chẳng han, những nhà vườn trồng rau, trồng hoa cung cấp cho Hà Nội cũng tập trung ở khu Ngọc Hà.
Họ phải ra ngoài thành phố về phía Bắc, phía bên kia cầu Paul Doumer hay xuống phía Gò Đống đa, đường đi về Hà Đông,v.v... Chỉ trừ một vài thành phần du thủ, du thực bám lấy Hà Nội bằng cách lấy các gầm cầu làm chỗ ở qua đêm.
Sáng họ vào Hà Nội, tối họ đi ra. Có những buổi sáng tinh mơ, phu đổ thùng từng đoàn nối đuôi nhau, gánh kĩu kịt những gánh phân đem theo những xú uế của Hà Nội ra ngoài và ngược chiều, những đoàn người đem vào những tốt tươi, thơm tho của đất trời như rau tươi, hoa quả.
 Nhất là hoa đủ loại như thể đó là lẽ tuần hoàn của trời đất. Người đi vào và đi ra để cho Hà Nội được là Hà Nội của thủ đô.
Cho nên, người Hà Nội thường là thứ “nguyên gốc”, không pha trộn từ ngôn ngữ đến nếp sống, nếp nghĩ. Phần đông thuộc thành phần tiểu tư sản, có ăn học. Tất cả các gia đình buôn bán của các phố Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Ngang đều ít nhiều có gốc gác, lập nghiệp lâu đời. Sau này Bà Susan Bayly có viết cuốn Asian Voices in a Post- Colonial Age, trong đó bà đi tìm lại những người Hà Nội trí thức, có truyền thống gia đình, có thể từ thời 1946-1954.
Và những người Hà Nội có một nếp sống tiểu tư sản thành thị thông qua tiếng nói và cách ăn mặc. Tiếng nói của dân Hà Nội không pha trộn, khác biệt với dân Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng và cũng khác biệt ngăn hẳn với dân ở các tỉnh miền xuôi như Phủ Lý, Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình.
Tiếng nói người Hà Nội thanh lịch trong giọng nói và kiểu cách trong cách trao đổi, đối đáp, thưa gửi. Nhưng khéo quá đôi khi không tránh được tác phong phong kiến, kiêu kỳ, phỉnh phờ, không thật lòng giả dối, nịnh bợ cũng có. Nhất là những tiếng danh xưng vừa có ý trân trọng người đối thoại vừa gián tiếp tự đề cao chính mình. Chẳng hạn, khi nào thì gọi là Quan đốc? cụ đốc, cụ lớn, cậu đốc, anh đốc, chú đốc cháu, bác đốc cháu hay bác đốc nhà tôi? Cả một vấn đề, tùy theo tình huống mà có thể trở thành phức tạp, tế nhị, mát mày mát mặt, nhạy cảm, phiền toái, cầu kỳ, rắc rối, bi kịch, giận hờn, thù oán.
Nhưng đó là nếp sống văn hóa nói Hà Nội.
 Như một cơn bão lớn. Sau 1954, những chữ đó và hằng trăm chữ khác tư động biến mất.
Chữ nghĩa có cái thời của nó, thời để sống và thời để chết.
 Cả một nếp sống văn hóa tiêu biểu của Hà Nội không cánh mà bay đi và không bao giờ còn như thế nữa.
Cũng kể từ 1954, một số không nhỏ, khoảng 200.000 người Hà Nội đã dời bỏ thành phố di cư vào miền Nam. Chỗ trống ấy có người lấp ngay. Phần là dân tập kết trong Nam ra. Phần bộ đội và cán bộ vào thành. Phần này là đông nhất. Trong đó không thiếu những người gốc Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh nay là cán bộ kéo vào biến tiếng nói của người Hà Nội thành ọ ẹ. Phần nữa là dân chúng bỏ nhà quê lên tỉnh.
Cho nên, nay mà nói đến dân Hà Nội chính cống, đi tìm một người nói tiếng Hà Nội gốc thì quả thật không dễ, vì họ chỉ chiếm hơn 10% dân số thủ đô. Tôi đã ra Hà Nội và chỉ có thể gặp lại những người họ hàng, bà con mới còn giữ được tiếng nói của người Hà Nội xưa. Đặc biệt là tiếng nói đó không the thé, eo éo như bây giờ.
Cho dù muốn đi tìm lại những ngưòi Hà Nội cũ đi nữa, cho dù tìm được. Họ cũng không còn là họ nữa.
Dân số Hà Nội đã tăng 3, 4 lần sau 1954. Diện tích ở của mỗi đầu người tính ra được 4, 5 mét vuông. Những căn nhà có ngõ dài hun hút, sâu chừng 4,5 chục mét là thường, ở trong các khu phố cổ là vô cùng chật chội, vì một nhà nay phải chứa thêm 4,5 hộ, có khi đến 10 hộ gia đình.
 Nếu các gánh hàng rong là mặt ngoài của Hà Nội thì Ngõ là mặt trong của Hà Nội.
Ở đó có những cảnh đời tăm tối tranh nhau, chen chúc nhau từng phân tấc, từng gáo nước, dòm ngó, kèn cựa từng ly từng tý một.
Tôi không nói sai, nói thêm cho người Hà Nội. Quả tình thật là như thế.
 Đến như có thể nói đến một thứ sinh hoạt văn hóa Ngõ. Người ta phải dựa vào nhau để mà sống, phải nhịn nhục nhau mà sống, phải chấp nhận nhau để mà sống hết năm này qua năm khác. Có khi từ bé tới lớn, tới già. Đó là những nỗi khổ ở đời, nỗi khổ sinh ra làm người, bên cạnh cái khổ túng thiếu, nghèo đói.
Trường hợp ông Nguyễn Đăng Mạnh sau này được sum họp ở Hà Nội. Hãy nghe ông tả oán: ”Năm 1971, vợ chồng tôi mới được phân phối cho một gian nhà lá, nền đất trong một dãy nhà gọi là K2. Bốn người, hai vợ chồng, hai đứa con, có khi lại thêm bà Nhạc đến chơi, ở chen chúc trên mười mấy mét vuông. Mùa hè nóng quá, có khi phải kê giường ngủ ngoài hè. Sách vở đặt trên những xích đông làm bằng tre nứa”.(24)
(24) Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh, trang 53
Đó là hỏa ngục trần gian thu hẹp lại.
Bùi Ngọc Tấn cùng tự thú:
"Phải nói thật rằng ngày ấy thấy bố mẹ ở quê ra chơi cũng đã lo rồi . Lo và cả sợ. (kính mong bố mẹ tha thứ cho con). Tôi nghĩ không chỉ mình tôi có mối lo này. Nên cứ mạnh dạn thú thật bằng mực đen giấy trắng. Tất nhiên là vui nhưng không thể không lo. Bởi vì vợ chồng con cái chen chúc trong một căn buồng rộng trên dưới 20m mét vuông. Bởi vì gạo sang kỳ cứ lùi lùi mãi. Bởi vì mỡ hết cả tuần rôi. Bởi vì rau mậu dịch ôi dập thật đấy nhưng cũng không đến lượt chúng tôi. Xe rau vừa hạ xuống ven đường, người không biết từ đâu đã vòng trong vòng ngoài đen đặc như mít tinh. Chen lấn xô đẩy vào được sát xe mỗi người cũng chỉ được mua hai mớ. Nhưng cũng có những người ôm từng ôm, bê từng sảo. Các vị ấy là người nhà, hay là đã móc ngoặc với mậu dịch viên. Các vị ấy ngả rau ra vỉa hè cạnh đó mà bán lại . Các vị ấy đem rau về nhà băm nuôi lợn".(25)
(25)Bùi Ngọc Tấn, Viết về bè bạn, trang 256
Nhưng nếu người Hà Nội bây giờ chỉ chịu khó đi dọc con đường Hoàng Diệu sẽ nhìn thấy những căn biệt thự kín cổng cao tường dành cho các quan cán bộ cao cấp.
Nhìn những căn biệt thự uy nghi và đồ sộ ấy, chúng ta sẽ thấy rằng, sẽ không bao giờ có Thiên đường Xã Hội chủ nghĩa ở đời này.
Các nhà chính trị ở Hà Nội thường nói đến đồng cam, đồng khổ giữa đồng chí và đồng bào, thế nhưng trong vấn đề nhà ở làm sao có thể coi là đồng cam, đồng khổ giữa một ông lớn ở nhà cao cửa rộng hàng 100, 200 mét vuông với một viên chức cán bộ trung cấp, một đại úy hay thiếu tá ở một buồng con 9 thước vuông cùng vợ và 2 hoặc ba con”... Có vị tướng có đến hai ba nhà, giữ cho vợ và con, sang tên một cách mờ ám để chiếm nhà của nhà nước... Cán bộ cao cấp có mức sống cao vượt lên cán bộ trung cấp, cho nên trên thực tế, tỉ lệ chênh lệch 1/7 trở thành 1/50, 1/100 hoặc hơn rất nhiều nữa Có lúc ông viết 1/1000… Có khi họ phải chờ đợi hàng chục năm mới được phân phối một phòng rộng hơn 4 mét vuông, 6 mét vuông sau khi đẻ 2, 3 con.(26)
(26) Mặt Thật, Thành Tín, trang 274-276
Đôi lời kết luận
Bài viết này thật ra còn ba phần chưa được nói tới là:
- tình hình các tôn giáo sau 1954, sau bức màn tre ở miền Bắc
- Việc cải cách ruộng đất
- và phong trào nhân văn giai phẩm .
Cả ba vấn đề này sẽ được trình bày một cách đầy đủ và chi tiết khi đề cập đến các nhà lãnh đạo khác như Tố Hữu, Trường Chinh v.v...
Nhưng trước khi tạm chấm dứt phần biên khảo này, xin đưa ra một nhận xét thật ngắn ngủi:
- Về việc cải cách ruộng đất, ông Võ Nguyên Giáp đứng ra nhận trách nhiệm thay cho Đảng. Vào một đêm, loa phóng thanh kêu gọi mọi người đi nghe Trung Ương "đả thông" sửa sai CCRĐ. Địa điểm là trường đại học Nhân Dân (Nhưng không có ai học hết). Ông Nguyễn Tuân có đi nghe vì ở gần nhà ông. Diễn giả là đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hôm đó, ông đại tướng mình mặc sơ mi lụa trắng và quần tây cũng trắng nốt. Mới chiến thắng Điện Biên Phủ về nên trên nét mặt ông còn phảng phất cái hãnh diện, sự phởn phơ. Người ta tưởng sẽ được chứng kiến một cảnh buồn thảm, xin lỗi, chia sẻ với nỗi khôn khổ của bao nhiêu nông dân.
 Không. Hoàn toàn nhầm- hoàn toàn trái ngược. Trái lại ông đại tướng vừa cười, vừa nói và đem những câu truyện giành quả thực của địa chủ rồi phải trả lại cho địa chủ mà pha trò, mà cười đùa.
Ở dưới, dân chúng đi nghe không ai cười nổi, trừ diễn giả. Cái cười này của ông đại tướng là một cái cười đểu giả khó tha thứ.
 Nhà văn Nguyễn Tuân có mặt hôm ấy, nghe từ đầu, ông khó chịu, nhăn mặt thốt ra một câu "te-rip" (terrible), rồi bỏ ra về. Nhà văn Xuân Vũ cũng có mặt hôm ấy, chứng kiến từ đầu câu chuyện.(27)
(27) Xuân Vũ, Ibid, trang 19-20
Không lạ gì sau đó có vụ học tập văn nghệ sĩ ở Ấp Thái Hà, trong dinh cũ của Hoàng Cao Khải. Nhà văn Nguyễn Tuân nhắc lại vụ CCRĐ và nói tiếp "Không khéo rồi ta lại có một vụ sửa sai trong Văn Học".. Ở thời điểm đó, chỉ có mình Nguyễn Tuân mới dám phát biểu như thế. Cả Hội trường im lăng. Hoàng Văn Hoan chủ trì hội nghị ngồi tím mặt, chớp mắt lia lịa. Và sau đó, ông Tuân nói oang oang không ai kịp bịt miệng ông lại: "Tôi không đồng ý phương pháp đấu tranh này dùng cho Nhân Văn Giai Phẩm".
Tôi kính trọng nhà văn Nguyễn Tuân và coi thường vị đại tướng.
- Về Nhân Văn Giai phẩm, nhà văn Nguyễn Tuân sau này muốn được yên thân cũng nhận lỗi lầm, xin sửa sai. Nhưng từ đó, ông không muốn nhai món "da lừa Lập trường" và giữ im lặng.
Kể từ đó, miền Bắc không có văn học nữa. Đảng qua Tố Hữu, Trường Chinh đã chôn sống các nhà văn như chôn sống địa chủ. Thơ hết còn là thơ, nhạc hết còn là nhạc, Và văn chỉ còn là những khẩu hiệu.
Còn mình đệ nhị thi sĩ múa kiếm, hoa đao một mình. Thơ Tố Hữu in 200.000 tập phát tận hang cùng ngõ hẻm.
Trong vòng 10 năm, nhạc sĩ Văn Cao, tài hoa của cả nước sáng tác được độc nhất một bài: Dưới lá cờ Đảng.


https://www.facebook.com/photo/?fbid=930745613605932&set=pcb.930747480272412&__cft__[0]=AZV3DRlZSLnGZWv0mdhVGU93VqzY59qyesmK3f-Adk_G4ydtMvzwOzIV116iG-Fqp94tUMPW13dRtacILkA-Sf-1mjr3l6EVL9x17WLvIplrQPAPbUETahSKaOSuR5rTmAjP-NA3bsZP-gg497pQ4JBf&__tn__=*bH-R
quân y mỹ tại việt nam - an khê - sđ 1 không kỵ
https://www.facebook.com/photo/?fbid=3480660351947766&set=pcb.3480660518614416&__cft__[0]=AZWycUAyEl_TfH98w5arKEuOoRoCW7HOvpBZq_4RoyEKWXyO-56hObhRFRs3FCFKWDWg9ZYNs8q98XSTpg3y_GFBw_kN741iOhpMa2Iqpe-20NkYaaaMebT29TzYgZJP9Lywfr2clZdpOAtbW0poaYlb&__tn__=*bH-R
Người thiếu phụ trong mưa phùn giữa núi rừng Việt Bắc
14 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 518)
Đoàn Trọng Hiếu
Tài Trần : trong truyện này , tác giả nhắc tới một thiếu tá lái trực thăng cho ông Thiệu cũng cùng trại tù .
"Viết để tưởng nhớ quý chiến hữu đã gục chết trong lao tù Cộng Sản, và cũng để tuyên dương những người vợ lính VNCH, đặc biệt là chị quả phụ của cố Đại úy CSQG Trần Thiên Thọ Hải.
Cuối năm 1977, tình hữu nghị anh em xã hội chủ nghĩa giữa Cộng Sản Ta và Cộng Sản Tàu đã trở nên tồi tệ. Đài phát thanh Hà Nội, cái loa tuyên truyền của Cộng Sản Ta đã không còn ra rả phát đi lời tuyên bố của tên Thủ Tướng Đồng "vẩu". Trước kia, nào là "tình hữu nghị Việt-Trung muôn đời bất diệt" nào là "tình hữu nghị Việt-Trung như răng với môi, môi hở thì răng lạnh" .v.v.. Vì sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, các tên lãnh đạo Cộng Sản Ta đã ngả theo Nga, mà quên đi cái ơn của Cộng Sản Tàu trong những năm chiến tranh "anh bộ đội cụ Hồ" đã được Cộng Sản Tàu trang bị cho từ chân lên đến đỉnh đầu, từ đôi dép râu làm bằng lốp xe đến cái nón cối đội trên đầu, thậm chí là cả cái bát ăn cơm, anh bộ đội chỉ có duy nhất "cụ Hồ" là của chính anh. Để trừng trị thằng đàn em cứng đầu vong ơn bội nghĩa, Tàu Cộng liền cho tên Miên Cộng Polpốt quậy phá ở biên giới phía Nam. Nhưng tên Miên này không làm nên chuyện, nên Tàu Cộng đã dàn quân dọc biên giới phía Bắc để chuẩn bị cho Cộng Sản Ta bài học số một, và như vậy là răng đã cắn sứt môi.
Lo sợ khi Cộng Sản Tàu đánh xuống, anh em tù phía Quốc Gia đang bị giam giữ tại các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ .v.v. sẽ tìm cách trốn sang biên giới phối hợp với lực lượng ly khai của Hoàng Văn Hoan đang được Tàu Cộng ủng hộ, nên gần cuối năm 1977 bọn Việt Cộng đã chuyển anh em tù xuống dần phía Nam đến các trại Vinh Quang hay Tân Lập thuộc tỉnh Vĩnh Phú hoặc các trại Hà Tây hay Nam Hà (Đầm Đùn, Ba Sao) gần Hà Nội. Tình hình sức khỏe anh em khi còn ở các trại do quân đội Việt Cộng quản lý đã tồi tệ, thì nay càng tồi tệ hơn dưới sự hà khắc dã man của bọn Công An, mà anh em tù quen gọi là bọn "Chó Vàng", tiêu chuẩn ăn uống thì bị cắt xén ăn bớt. Mỗi bữa ăn chỉ được một thìa cơm với hai khúc sắn tươi, hoặc gần chục lát sắn khô hay một chén sắn duôi (loại sắn được nạo thành sợi hay xắt thành cục phơi khô), vài muỗng canh đại dương (nước muối với vài cọng rau già), hoặc một vài miếng sắn được nấu với muối cho nhừ để làm canh. Họa hoằn, một đôi ba tháng vào các ngày Lễ Tết thì được một chén cơm trắng với hai ba miếng thịt lợn to bằng đốt ngón tay, hoặc một vài miếng thịt trâu từ một con trâu già đã không còn kéo cày nổi hay bị chết vì không chịu nổi cái lạnh mùa đông. Với chế độ ăn uống như vậy mà phải làm việc khổ sai, dẫn đến tình trạng kiệt lực, người nào cũng chỉ còn da bọc xương. Mỗi buổi chiều hết giờ lao động, anh em tù cởi áo xuống ao tắm, trông như một bầy khỉ ốm đói. Tình trạng bệnh tật và không có thuốc men thật là đáng sợ, bệnh kiết lỵ, phù thủng và thổ huyết rất phổ biến. Đã có một số anh em chết mà anh em tù quen gọi là "quay đầu về núi" vì hầu hết tù nhân chết đều được chôn trên các sườn đồi. Xin đơn cử một vài cái chết của vài anh mà tôi có dịp ở chung.
·Thiếu tá Hà Sỹ Phong, phó giám đốc đài phát thanh Tự Do, anh ở cùng đội với tôi, mấy ngày trước anh bị bệnh nên cho nghỉ ở nhà trực phòng, sau đó 2 ngày anh được mẹ ở miền Bắc lên thăm. Buổi tối anh cho tôi nửa chén cơm vắt và hai miếng thịt gà kho mặn, anh thì thầm tâm sự:
-Năm 54 tôi di cư vào Nam chỉ có một mình, ông bà cụ luyến tiếc tài sản không chịu đi, bố tôi bị đi tẩy não (tù cải tạo) trong đợt cải cách ruộng đất và chết trong tù, bây giờ mẹ tôi đã ngoài 70 tuổi lại phải đi thăm con ở tù. Đây là lần đầu gặp lại mẹ tôi sau hơn hai mươi năm xa cách.
Nói rồi hai hàng nước mắt anh lăn dài trên má. Tôi lí nhí cám ơn anh về món quà anh đã cho tôi. Sau gần 3 năm tù, đây là lần đầu tiên tôi được thưởng thức một món ăn quá sang trọng như vậy. Tôi xé từng sớ thịt, rồi lại liếm mấy ngón tay, tận hưởng cái hạnh phúc to lớn ấy rồi thiếp dần vào giấc ngủ. Sáng hôm sau khi ra khỏi phòng để điểm danh thì thiếu một người, tên thường trực thi đua (một tên tù được đưa lên phụ việc đóng mở cửa và kiểm soát anh em) đi vào thì phát hiện anh Phong đã mê man. Chúng tôi vội cõng anh lên trạm xá nhưng anh đã chết vài giờ sau đó. Ít ngày sau lại đến anh Trung Tá Lạc phòng 2 Bộ tư lệnh Quân Đoàn II. Một buổi chiều sau khi lao động về, anh Lạc ghé sang khu tôi ở, móc trong túi ra một cái bánh chưng đưa cho tôi và nói:
- Hai cháu nó mới ra thăm, cả hai đều được đi dậy học lại và là "giáo viên tiên tiến" nên được cho ra thăm "lăng Bác". Nó tìm lên thăm mua cho ít quà, chú dùng cái bánh chia vui với tôi, mấy ngày nữa các cháu sẽ lại lên thăm tôi lần nữa. Tôi đón cái bánh chưng to bằng cái bánh trung thu và lí nhí cám ơn anh rồi vội chia tay, vì sợ tụi cán bộ trông thấy sẽ ghép tôi quan hệ trái phép .v.v.. Quả thật những lúc đói khát khó khăn thế này mới thấy cái tình dành cho nhau nó to lớn và sâu đậm. Nhưng rồi không may cho anh, hai hôm sau anh đã chết ngay tại hiện trường lao động không kịp gặp lại các con. Giữa năm 78 vì đói khát suy dinh dưỡng, cộng thêm cơn sốt vàng da đã khiến tôi kiệt lực, thân thể chỉ còn trên 30kg. Tôi không còn bước đi được nữa, mà chỉ có thể bò được vài ba thước, tôi được đưa xuống trạm xá nằm trong "danh sách chờ". Tại đây đã có anh Tư, anh là người hạm trưởng đã sang Singapore rồi lại quay về, anh bị bệnh phù thủng lại thêm phần ân hận vì đã quay về để rồi bị đi tù mút chỉ, nên chỉ ít ngày thì anh chết. Rồi đến Trung Tá Mai Xuân Hậu, Tỉnh trưởng Kontum, Thiếu Tá Đặng Bình Minh lái trực thăng cho Tổng Thống Thiệu, Trung Tá Lý. Dường như chẳng còn ai quan tâm đến cái chết, chả thế mà vẫn còn nói đùa: "Đ.M. mày qua mặt tao mà đíu bóp còi."
Cũng thời gian này, có một bài hát đã được anh sáng tác tôi vẫn còn nhớ được ít câu: "Rồi một ngày mai không có anh, em không còn phải nhớ phải mong - Rồi một ngày mai thân xác anh quay đầu về núi - Cô đơn ngồi khóc một mình - Không một lần kịp vuốt mắt anh - Ôi mây lang thang về phía trời xa vời, nhìn trông theo cánh chim từng đàn, để mình ta với bao ngày tháng xanh rêu, bụi thời gian lấp kín hồn mình, đớn đau trong lòng mà nhớ về nơi xa, ôi ngày về còn dài bao lâu - Rồi một ngày mai anh chết đi, em không còn phải khóc phải thương - Rồi một ngày mai thân xác anh đi vào lòng đất, cô đơn phủ kín đời mình - Không một lần kịp nói tiếng yêu."
Nhưng rồi may mắn hơn, số tôi chưa tới, nên căn bệnh sốt vàng da không biết có phải nhờ ba cái lá ổi, lá xoan hay không, mà tự nhiên biến mất. Và may mắn thay, nhờ mảnh giấy tôi gửi lén về qua một chị ra thăm chồng, tuy bị tụi công an phát giác, nhưng chị cũng đã nhớ cái địa chỉ ở Biên Hòa, nên chị đã đi tìm báo cho gia đình tôi biết. Nhờ vậy, cuối năm 79 mẹ tôi và vợ con tôi ra thăm, tên Vinh cán bộ giáo dục của trại trước khi tôi ra gặp đã chỉ cho tôi gặp 5 phút vì tôi đã gửi lén thư, nhưng tên công an dắt tôi ra đã cho tôi gặp gần một giờ. Gặp lại mẹ và vợ con sau hơn 4 năm chỉ biết khóc. Chỉ nói được vài câu thì đã hết giờ, tôi đứng dậy chào từ biệt, lòng buồn rã rượi, rồi chống gậy lom khom lết về trại, một tên tù hình sự được chỉ định giúp tôi đẩy cái xe cải tiến chở đồ thăm nuôi vào trại.
Nhờ chuyến ra thăm này mà tôi dần dần hồi phục, lúc này mỗi tuần đều có một vài anh em "quay đầu về núi". Cái đồi sắn ở phía đội 12 sau hơn hai năm đã có gần 300 anh em tù chính trị được chôn ở đó. Gần tết năm 79 tôi chuyển sang đội 17 lâm sản, chuyên đi lấy củi để sử dụng cho bếp trại, thời gian này do áp lực của quốc tế, nên chúng buộc phải cho gia đình đi thăm nuôi, nên sức khỏe của đa số anh em đã dần dần hồi phục. Một số anh em "con bà phước" cũng được anh em đùm bọc, nên cái bóng thần chết đã bị đẩy lùi. Hàng đêm tại các phòng, anh em lại tụ tập quanh ngọn đèn dầu với ấm trà cặm tăm, loại trà thật đặc được pha hoàn toàn bằng búp trà "hai tôm một tép" sao sấy cẩn thận, do anh em đội trà lén mang về. Các tay văn nghệ lại bắt đầu tổ chức ca hát nhạc vàng hàng đêm, khiến tụi cán bộ trại điên đầu, chúng bắt đầu cảm thấy hoang mang vì thấy tù càng bị nhốt lâu lại càng ung dung tự tại, không còn hoang mang lo sợ, lại thêm đám cán bộ nhí bắt đầu bị anh em tù thu phục. Chúng bắt đầu xin anh em chép và dạy cho chúng hát nhạc vàng, có tên còn xin đồ ăn và thuốc hút. Những buổi lên lớp do tên Trung tá Thùy nói chuyện đã bị anh em phản kháng bằng cách vỗ tay và cười, đã làm cho hắn ngượng ngùng. Chẳng hạn như lúc hắn khoác lác về tên Phạm Tuân đã bay Mig21 lên, rồi tắt máy phục kích ở trong mây, đợi B52 đến rồi nổ máy tiêu diệt, hay làm phụ lái cho tàu vũ trụ bay lên không gian nghiên cứu bèo hoa dâu dể nuôi lợn .v.v. Rồi sang đến cuối năm 80 thì cũng chính tin đồn anh em tù sẽ đi Mỹ, phát ra từ trong đám cán bộ, dân chúng quanh vùng quý tù miền Nam và ghét cán bộ ra mặt. Anh em đã san xẻ thuốc men cho dân ốm đau trong vùng, khi đi lao động ngoài Bến Ngọc. Anh em thường gọi đây là công tác dân sự vụ.
Một buổi tối cuối năm, sau khi đã điểm danh vào phòng, anh em đang tụ tập đàn hát như thường lệ, lúc kẻng báo tắt đèn đến giờ ngủ thì tên cán bộ trực tại trại đến cửa phòng nói vọng vào yêu cầu Phan Thanh đội trưởng lâm sản cử 4 người đi "lao động đột xuất". Thanh, Diệp, Tân và tôi mặc quần áo cho thật ấm và cũng không quên mang theo tấm nylon đề phòng mưa, vì mùa đông miền Bắc thật lạnh, lại thường có mưa phùn. Chúng tôi được lệnh xuống chỗ đội 12 lấy cuốc xẻng và thùng xách nước bỏ lên xe cải tiến đi về phía khu nhà tiếp tân. Tên cán bộ đi theo đưa cho tôi cái đèn bão leo lét. Ngang khu nhà tiếp tân thì đã thấy một thiếu phụ trong bộ đồ tang trắng đang đứng đợi. Dường như đã được sắp xếp, người thiếu phụ lặng lẽ đi theo, tên cán bộ ra lệnh cho chúng tôi đi ra khu nghĩa địa. Đến nơi, hắn bảo chúng tôi đi tìm mộ của Trần Thiên Thọ Hải. Chúng tôi nhớ ra đại úy Hải chết vào đợt những anh em đầu tiên năm 1977, như vậy là nằm ở sâu trong cùng sát chân đồi. Sau gần 15 phút chúng tôi đã tìm được ngôi mộ của anh với tấm bia chỉ nhỏ bằng tờ giấy học trò ghi lờ mờ, còn nắm đất thì chỉ cao hơn mặt đất chừng một tấc. Chúng tôi được lệnh là đào để bốc cốt cho chị mang về trong Nam.
Việc đầu tiên là tìm một ít cành khô để đốt một đống lửa sưởi ấm và lấy ánh sáng, chị bắt đầu lấy ra môt bó nhang đốt lên rồi quỳ xuống vái ba lạy. Cầm nguyên bó nhang chị thổn thức khóc và nằm phủ phục lên ngôi mộ. Dưới ánh lửa tôi thấy thiếu phụ còn rất trẻ chỉ khoảng dưới 30, nét mặt xương xương. Chúng tôi đứng lặng yên tôn trọng nỗi đau của chị, cho đến khi tên cán bộ yêu cầu chúng tôi "khẩn trương" bắt tay vào việc, vì trời đã lâm râm mưa phùn.
Chúng tôi dìu chị đứng dậy sang bên cạnh và bắt đầu đào. Chỉ không đầy 20 phút chúng tôi đã đụng lớp ván đã mục, vì khi tù nhân chết thì chỉ được bỏ vào cái quan tài nhỏ vừa khít người được đóng bằng loại gỗ bạch đàn hay bồ đề, một loại cây được trồng để làm giấy, nên rất nhẹ xốp, được xẻ thành từng thanh và đóng hở như cái vạt giường, nên thấy cả xác nằm bên trong và đám tù hình sự khi đi chôn thì chỉ đào sâu khoảng 4 tấc rồi vùi lấp qua loa. Gỡ lớp ván trên mặt, bên trong là bộ quần áo tù đã rữa nát. Tôi đi xách một thùng nước ở dưới ruộng để rửa cho sạch đất, người thiếu phụ cũng đã lấy ra một cái thau nhựa và đổ vào đó một ít rượu. Chúng tôi cẩn thận nhặt từng cái xương rũ cho bớt đất, rửa cho sạch rồi trao cho chị. Chị cầm từng cái rửa trong rượu, rồi bỏ vào cái bịch nylon hai lớp. Chị đưa cho chúng tôi mỗi người một gói thuốc Tam Đảo rồi vừa làm chị vừa tâm sự:
- Giữa năm 79, em có xin phép ra thăm, nhưng khi đến trại thì họ nói là không có anh Hải ở đây, nhưng ít tháng sau thì em được tin anh Hải đã chết từ năm 77, do một chị bạn ra thăm chồng về cho biết. Như vậy là họ đã dấu nhẹm không báo cho gia đình, mới đây một người mách bảo cho em ra Bộ Nội Vụ ngoài Hà Nội làm đơn xin bốc cốt, sau mấy lần làm đơn cuối cùng họ đã phải cho. Nhưng khi đến đây thì họ chỉ cho làm vào ban đêm và sau khi xong, họ không cho em ở lại nhà tiếp qua đêm với lý do là ô uế.
Sau gần một giờ, thấy có thể đã không còn sót cái xương nào, chúng tôi bảo chị để tránh rắc rối chị không nên mặc bộ đồ tang này. Chúng tôi lấy bộ quần áo tang quấn quanh cái bao nylon đựng cốt bỏ vào cái bị cói lớn rồi lấy sợi dây chuối khô khâu miệng lại để không ai nhìn thấy. Trên đường về trại, lúc đến chỗ rẽ, chị lý nhí vừa thổn thức khóc vừa cám ơn rồi dúi vào tay chúng tôi mấy gói thuốc còn lại. Nhìn người thiếu phụ tay xách cái bị cói đựng cốt chồng, lặng lẽ đi trong đêm, trên con đường rừng cô quạnh, khiến chúng tôi vô cùng thương cảm, ngậm ngùi, đứng trông theo. Bỗng sự uất ức trào lên rồi không nén lại được, tôi thốt lên trong kẽ răng:
- Đ.M. Chúng mày rồi sẽ phải trả giá cho hành động này!
Chúng tôi đi vào theo cửa hông của cổng trại, rồi lặng lẽ đi về phòng. Tên thường trực thi đua đã đứng đợi sẵn để mở cửa. Đã quá nửa đêm, cái lạnh đã thấm sâu vào người, nằm co quắp dưới lớp chăn mỏng, tôi thầm ái ngại cho số phận của người đàn bà bất hạnh. Chị mang cốt chồng đi giữa đêm trời giá lạnh của vùng rừng núi Việt Bắc, như người vợ, người mẹ Việt Nam đang mang nỗi đau, nỗi bất hạnh của cả một dân tộc đi trong đêm tối bão bùng".
Đoàn Trọng Hiếu
Khanh Freedom King VuDuc, Si Tran and 4 others