Saturday, May 11, 2019

Mạc Văn Trang: TẢN MẠN VỀ BẢO TỒN DI SẢN VẬT THỂ


Tản mạn về bảo tồn di sản vật thể

Mạc Văn Trang
10-5-2019

Nhân chuyện tôi bày tỏ tiếc nuối Nhà thờ Bùi Chu 134 năm lịch sử sẽ bị phá đi xây mới, nhiều bạn “mắng”: “Sao phải thương vay, khóc mướn, khi tất cả giáo dân trong Giáo phận đều đồng ý”! Tôi ngẫm ra, giáo dân thì cũng là người Việt, sống trong thể chế này mấy mươi năm, cũng có tâm lý chung: Cái cũ kỹ, nhỏ bé, nay không sử dụng được thì còn giá trị gì, phá bỏ làm cái mới hiện đại, hoành tráng mới giá trị (!).

Nhân chuyện này, nhớ lan man đến nhiều chuyện chứng tỏ cái tâm lý coi thường di sản vật thể của dân ta. Ở phương diện cá nhân, làng tôi có hàng chục cựu chiến binh từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ; khi phục viên, họ đều trân trọng, tự hào mang về khoe với dân làng cái mũ đan bằng sợi giang, trên phủ vải dù chiến lợi phẩm và có lưới bọc bên ngoài; cái ca sắt tráng men, có chữ Chiến thắng ĐBP với lá cờ “Quyết chiến quyết thắng”; một vài thứ chiến lợi phẩm: Cái bi đông, cái bật lửa, con dao gip, mảnh vài dù… thu được của lính Pháp. Nhưng bây giờ hỏi mấy người con cháu của các cựu chiến binh ấy, họ chả quan tâm giữ làm gì mấy thứ nói trên; họ chỉ chú trọng giữ mấy tấm huân, huy chương treo trên tường nhà…

Tôi có nói với một anh đại gia ở làng, cậu hãy dành mấy gian nhà kho, thu thập hết các thứ cối đá, cối xay, cối giã, guồng nước, gầu sòng, gầu giai, cái nơm, cái đó, cái vó, cái giậm, cày, bừa, liềm, hái, thủng, mủng, nong nia, dần, sàng, rổ rá… tất tần tật những công cụ trước đây dân làng sử dụng đem cất vào đấy. Sau này đem trưng bày cho các cháu học sinh xem, quý lắm đấy, vô giá đấy. Nhưng cậu ta chả để ý.

Trong ngôi nhà đẹp, trước sân, cậu ta dựng một bức tượng. Tôi hỏi, tượng ai đây? – Tượng ông già em đấy… Tôi sững người. Một người đàn ông mặc áo măng- tô, đội mũ phớt, tay chống ba toong, y như ông Tây chủ đồn điền! Mà ông bố cậu, tôi có lạ gì, chỉ là một trung nông, thạo cày cuốc, sau có làm cán bộ xã, cán bộ huyện ít năm. Giá tượng bố cậu là một nông dân, quần sắn trên gối, ngồi trên bờ ruộng, bên con trâu, rít điếu cày… thì tuyệt quá! Nhưng đâu chỉ có mình cậu ta! Cả làng tôi, nhìn lên bàn thờ nhà ai, cũng toàn thấy các cụ bần, cố nông ngày xưa đều com- lê, cà – vạt đỏ choét, hoặc áo gấm hoa, khăn xếp như quan phụ mẫu cả!

Trên bình diện cộng đồng, Đình, Chùa, Đền, Miếu của làng đều bị đập phá hết. Cũng theo nghị quyết chi bộ nhất trí 100% đấy chứ! Nay dân làng lại đồng tâm, nhất trí 100% góp công, góp của xây dựng Đình, Chùa, Nhà thờ họ mới toanh, toàn bê tông cốt thép, hiện đại, hoành tráng. Toàn dân lại hồ hởi, phấn khởi, mở lễ hội tưng bừng “Làng ta đã bao giờ được thế này chưa”? Chả ai đoái tiếc gì cái Đình, Chùa cổ lỗ ngày xưa! Tâm lý dân làng tôi là vậy đó! Không biết các làng khác có thế không?

Người Pháp thì khác. Hôm GS Sử học Philippe Papin về thăm làng, tôi bảo, Đình, Chùa cũ phá hết rồi. Đây là Đình, Chùa mới xây, có vào thăm không? Anh ta lắc đầu, và hỏi: – Đình, Chùa cũ còn dấu vết gì không? – Còn mấy tấm bia. Vậy là anh ta hăm hở ra cặm cụi xem, chụp hình…

Người dân thường ở Pháp cũng rất có ý thức và tình cảm gìn giữ di sản của ông cha. Năm ngoái tôi có đến thăm cụ Bretreau ở làng Tombe, một điền chủ ngoài 80 tuổi, cách Paris hơn 200km; cụ vẫn sở hữu hơn 140 ha ruộng trồng trọt màu mỡ và vài chục ha rừng; nhà cửa khang trang, kho xưởng rộng lớn; cụ ông, cụ bà mỗi người một xe con… Nhưng cụ dắt ra vườn sau nhà khoe cái bờ tường xếp bằng đá và cái giếng nước khoan sâu mấy chục mét.

Cụ bảo hơn trăm năm trước, bố Cụ cùng một nhóm người đến khu rừng này khai hoang. Khi cày cuốc, gặp cục đá nào lại khuân về xếp thành tường chắn thú dữ. Cái giếng này không hiểu các cụ khoan thế nào mà sâu vậy, nay quay bằng tời vẫn lấy được nước lên… Vào trong nhà, Cụ chỉ khoe mỗi cái đầu lợn rừng cực lớn, bảo, bố Cụ đã phải bắn mấy chục con lợn rừng hung dữ và đây là con to nhất, dữ nhất…

Một lần ra chợ đồ cũ, tôi ngạc nhiên thú vị, thấy rất nhiều thứ đồ cổ, đồ cũ từ mấy thế kỷ trước được người dân bày bán, hoặc đem trưng bầy cho vui. Có một cụ già lắm, chỉ bày 1 cái đục đá và 1 cái búa. Cái đục thì đầu toét ra cuộn xuống một cục; cái búa thì cán lõm vào in dấu mấy ngón tay và mặt búa trũng sâu. Cụ bảo, đây là đồ nghề của Cụ nội, từng đục đá xây nhiều Nhà thờ, lâu đài… Cụ già rồi, sợ không giữ được, nên xem ai biết trân trọng, gìn giữ thì trao lại…

Tôi vào thăm ông bà thân sinh của GS Philippe Papin, bà thì khoe mấy cái nồi đồng và cái cân đĩa bằng đồng, của mẹ bà để lại, tất cả sáng bóng, đặt trang trọng trên giá, trong phòng ăn. Ông thì dắt vào phòng khách, khoe mấy cái mũ sĩ quan của ông nội và dẫn ra vườn khoe gốc Hồng già khụ vẫn ra hoa thơm…

Còn ở trên đất Pháp, đâu đâu cũng thấy những công trình từ thế kỷ XII, XIII, XIV… vẫn được gìn giữ nguyên trạng, hoặc cố giữ lấy một phần dấu tích: một bức tường nhà trát bằng vôi trộn rơm, một cầu thang gỗ, một khúc tường đá, một khung cửa gỗ, vài cột đá buộc ngựa trước nhà hàng, những biển hiệu càng xưa cũ càng quý giá… Có những con phố cổ mấy trăm năm trước, đường không có vỉa hè, rãnh nước chảy giữa lòng đường; từng viên đá lát nơi đây đã mòn nhẵn, lõm xuống… Những cây cột đèn ngày xưa, buổi tối Lính đèn cưỡi ngựa đi thắp nến, nay vẫn những cây cột ấy lắp bóng điện vào…

Những đá kè 2 bên bờ sông Seine, những cây cầu bắc qua sông này, suốt mấy trăm năm vẫn bền chặt…

Nhà Thờ Đức Bà ở Paris vừa bị cháy, cũng được xây từng hạng mục, suốt từ 1160 đến 1260 mới hoàn tất, và sau vụ hỏa hoạn, chắc chắn sẽ được trùng tu như cũ, chứ không “hạ giải” để xây lại cho nhanh chóng và “to, đẹp hơn”!

Phát triển bền vững là thế đó, là thế hệ trước không những không ăn mất phần của thế hệ sau, không để lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ sau, mà để lại một môi trường trong lành và những di sản bền lâu cho các thế hệ tiếp nối…

Trở lại chuyện Nhà thờ Bùi Chu 134 năm tuổi, theo thiển ý, nếu muốn bảo tồn giá trị di tích như cũ, ngày nay chắc có đủ khoa học, công nghệ để gia cố, giữ được nguyên trạng và vẫn sử dụng tốt. Còn nếu muốn xây mới to hơn trên nền đất cũ, cũng nên giữ lại phần tiêu biểu nhất của Nhà thờ, làm sao gia cố và gắn kết với công trình xây mới thành một quần thể kiến trúc hài hòa. Như vậy đòi hỏi nhiều công phu trí tuệ, tình cảm và tốn kém hơn, lâu hơn…nhưng vẫn giữ được một phần di sản quý giá gắn kết quá khứ với hiện tại và tương lai.
 
Nhân chuyện Nhà thờ Bùi Chu lại luận bàn linh tinh, có gì không phải, mong được lượng thứ.
  
Nhà thờ Đức Bà Paris gần 800 tuổi (được trùng tu nhiều lần) 
 
GS Philippe Papin đọc Bia ở Chùa làng Vũ La 
 
Cụ Bretreau dẫn ra vườn xem bức tường và giếng nước 
 
 Cụ Papin khoe cây Hồng cổ thụ
   
Bức tường trát vôi với rơm của ngôi nhà cổ xưa vẫn được bảo tồn trong ngôi nhà hiện đại.

Friday, May 10, 2019

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3259940087353128&set=a.197514143595753&type=3&av=100000115071295&eav=Afaozp7h_DvFk0E9KONekj17n_U1p3cCICN84mcXApa7iGqcV_ir7uvkUryOW9bpSSU&eid=ARCk5xeCSCnTA4mwJBRvKoazqCB99ckgJ_F7bEqGK7Xam72cVHenir2hQV1AdgqykP-usA_RRIPYRSit

Thursday, May 9, 2019

TÀN ĐỘC HƠN BOM NGUYÊN TỬ 


Mỹ thả bom nguyên tử xuống Nhật , giết cả trăm ngàn người trong tíc tắc nhưng tác hại KHÔNG BẰNG những TỘI ÁC LÂU DÀI sau đây mà CSVN đã truyền bá , tiêm nhiễm , v.v... cho dân VN kể từ năm 1954 (miền Bắc) và kể từ năm 1975 (miền Nam) :
- TẠO NGỜ VỰC LẪN NHAU dẫn đến CHIA RẼ , THÙ HẬN . Dẫn chứng : trong cải cách ruộng đất năm 1956 , con tố cha , vợ tố chồng , con dâu tố cha mẹ chồng , người giúp việc tố chủ , bạn bè tố nhau , v.v... (Xin xem hồi ký của những nạn nhân của chiến dịch CCRĐ , họ là đảng viên hay cựu chiến binh dự trận ĐBP) . Bà Nguyễn thị Năm , một nhà tư sản , từng nuôi dưỡng ban lãnh đạo ĐCSVN , xem hình , lại là người đầu tiên bị xử bắn , theo lịnh cố vấn TQ , mà HCM không có ý kiến gì để cứu bà dù biết bà là NGƯỜI ƠN của ĐCSVN . HCM có phải là kẻ BẤT NHÂN BẤT NGHĨA không ? 

Bà Nguyễn thị Năm 
Cô ruột tôi , làm dâu của 1 gia đình địa chủ , dù không bị xử bắn nhưng bị nhốt trong chuồng bò dù sắp sinh con . Bác tôi , mỗi đêm phải rình rập phía ngoài chuồng bò để nếu em mình sinh con thì leo rào vào cắt nhau . Các con trai của cô , bác và chú tôi , đã phải đi bộ đội , vào miền Nam để giết những người anh em , nhằm "giải phóng miền Nam thoát khỏi sự kềm kẹp tàn ác của Mỹ-Ngụy" - mà đảng đã tuyên truyền cho họ từ lúc học tiểu học . ( Do vậy , mỗi khi đv tôi bắt được tù binh CSBV , tôi đều hỏi họ "có ai là dân Quảng Bình không" , nhưng phần lớn họ xuất xứ từ các tỉnh như Sơn Tây , v.v... ở miền Bắc . Dân QB , phần lớn hoạt động ở Quảng Trị và Thừa Thiên vì CS xếp Bình - Trị - Thiên làm một quân khu để để dễ điều động) .
Năm 1975 cũng vậy : CSVN đã tạo không khí ngờ vực , không tin tưởng lẫn nhau giữa những người miền nam .
Họ đã TẨY NÃO những HS hay SV , ở tuổi dưới 25 , biến họ những TAY SAI đắc lực trong các chiến dịch ĐÁNH TƯ SẢN các năm 1976-77 , có tên là chiến dịch X-2 . Họ được đưa đến TT Huấn luyện Quang Trung để học tập cách kiểm kê nhà cửa , đào từng viên gạch trong nhà để kiếm vàng , v.v... Để tới ngày N , sẽ được chở đến các nhà là MỤC TIÊU của chiến dịch này . Người CS tẩy não họ đến độ đã mất TÌNH NGƯỜI khi tham gia chiến dịch X-2 mà nạn nhân có thể là bạn bè của cha mẹ họ .
Với những HÀNG ĐỘC như vậy được tiêm nhiễm ngay từ ngày 30/4/75 thì nên rất nhiều , nếu ko nói là ĐA SỐ dân miền Nam , đã trở nên NGHI NGỜ LẪN NHAU , CHIA RẼ , DỐI TRÁ và VÔ CẢM . Mà đại gia đình tôi là NẠN NHÂN điển hình của chính sách độc ác này !
Vì người CS đã LƯỜNG GẠT người dân khi ra thông cáo "học tập , mang theo 10 ngày ăn" để rồi có người trong chúng tôi đi tù từ 1975 đến 1989 . Rồi thông báo "không đổi tiền" đọc ngay trước ngày đổi tiền , v.v...
Và cuối cùng , người dân đã trở nên VÔ CẢM trước sự tham nhũng và lạm quyền của nhà cầm quyền và họ cũng nghĩ rằng "ngu gì mà biểu tình để mang họa vào thân" . Bạn thấy điều này khi số người biểu tình tại Sài Gòn không bằng 1/NGÀN dân số .

Đọc thêm : https://phanba.wordpress.com/2017/07/09/09071953-ba-nguyen-thi-nam-cat-hanh-long-bi-xu-tu/
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3257365764277227&set=pcb.3257367187610418&type=3&__tn__=HH-R-R&eid=ARAPOx22cvHHDQASTE2Te8eGVwll68GH8B3Wz65KRo2bqe68qIEyZOpWxraG74iVIt8ZZL8H97YgiXL1
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3255895381090932&set=pcb.3255896514424152&type=3&__tn__=HH-R-R&eid=ARBvdCKw1HKcmqt9V20-3FgCTFAPA6kwHVDDPIID0q3UZ03xZPYdNSgcr76NIE9DR2fKoS0tJdvoM2Tf
Xạ thủ đại liên : chuyện về một ca giải phẫu cực kỳ khó khăn .
13 Tháng Tư 201212:00 SA(Xem: 817)
BS Nguyễn Trác Hiếu thuộc QYV Qui Nhơn .
Mùa hè đỏ lửa năm 1972. Chiến sự thật sôi động. Quân ta và địch đang quần thảo nhau dữ dội ở các mặt trận Kon Tum, Tân Cảnh. Tôi trực Cấp Cứu Quân Y Viện Qui Nhơn. Hết đợt nầy đến đợt khác, trực thăng tải thương thay nhau đáp xuống QYV.
Chiều xuống, tôi và toán y tá vừa đói vừa mệt vì làm việc không ngưng nghỉ. Một y tá chạy ra chiếc quán cóc trước QYV mua cho tôi một dĩa bánh cuốn và một chai nước ngọt. Tôi ngồi ngay trong phòng cấp cứu ăn vội dĩa bánh và uống chai nước để lấy sức. Nhiều binh sĩ bị thương nhẹ còn nằm ngồi la liệt trong phòng cấp cứu chờ được săn sóc. Chưa quá 12 tiếng mà chúng tôi đã nhận hơn trăm thương binh. Thêm một y sĩ giải phẫu nữa vừa được chúng tôi gọi vào tăng cường giải quyết những trường hợp cần mổ gấp.
Hai chiếc trực thăng tải thương nữa lại vừa mới bay về từ mặt trận. Một chiếc đang đáp, một chiếc còn đang vần vũ trên QYV chờ bãi. Chiếc trực thăng chở nặng, bay thấp, tiếng máy nổ lớn bùng tai, ran ngực và thật hăm dọa. Toán y tá chụp vội băng ca, chạy khom người dưới làn bụi cát để tiếp nhận thương binh. Một y tá hét vào tai tôi, “Chuyến nầy nhiều bệnh nặng lắm bác sĩ ơi!”
Y tá phòng cấp cứu QYV là những người có rất nhiều kinh nghiệm về cấp cứu chiến thương. Họ làm việc có phương pháp và nhanh chóng. Yếu tố thời gian thật quan trọng trong việc cấp cứu thương binh. Chậm trễ đôi phút cũng đủ để cho tử thần cướp đi những chiến binh ưu tú.
Hai chiếc trực thăng đã mang về cho chúng tôi nhiều thương binh với đủ loại thương tích nặng. Có tới ba thương binh đang bị kích xúc (shock) do mất nhiều máu. Tôi vừa đặt xong một đầu dây truyền máu vào tĩnh mạch của một thương binh bị kích xúc thì nghe một y tá gọi lớn, “Lại ngay đây bác sĩ ơi! Em tìm không ra mạch.” Đây là một thương binh to con, đầu cổ mình mẩy quấn đầy băng trắng thấm đỏ máu. Da mặt anh xanh xám, môi anh tím ngắt và mắt anh nhắm nghiền. Mồ hôi lạnh ứa ra đầy trán anh. Anh đã bất tỉnh, không có phản ứng gì với đau đớn. Huyết áp anh xuống thật thấp, mạch anh không bắt được và hơi thở anh thật cạn như muốn ngưng lúc nào không hay.
Thấy cánh tay trái anh còn một chỗ hở không bị băng bó, tôi dùng dao mổ rạch ngang trên vị trí của một tĩnh mạch rồi dùng ngón tay trỏ moi chiếc tĩnh mạch đã xẹp ra. Y tá tôi cắm đầu dây truyền máu vào tĩnh mạch anh rồi hai tay ra sức siết mạnh bọc máu đỏ. Chúng tôi giúp anh thở bằng cách bơm dưỡng khí vào phổi anh và tiêm truyền cho anh đủ loại thuốc và dung dịch cấp cứu mà chúng tôi đang có đầy đủ trong tay. Huyết áp anh bò lên đôi chút rồi lại tụt xuống đôi ba lần. Có lúc hơi thở anh đứt quãng, tưởng chừng anh không vượt qua nổi cơn kích xúc do đau đớn tột cùng và mất máu nặng.
Trong quá khứ, cũng đã có lần chúng tôi tranh đấu quyết liệt với tử thần mà cũng không giành giựt lại được mạng sống của đồng đội bị kích xúc. Sau gần một giờ cấp cứu tận lực, chúng tôi nhận thấy da anh trở hồng hơn một chút, anh thở sâu hơn và huyết áp bắt đầu lên lại. Chúng tôi khám thấy anh bị gãy nhiều sườn, gãy xương chân, xuất huyết nội trong bụng và gần hai trăm vết thương lớn nhỏ trên khắp thân thể anh. Anh vẫn nằm thiêm thiếp. Y tá tôi túc trực bên anh chờ cho anh hồi phục đủ tiêu chuẩn để được giải phẫu.
Một thương binh cùng đơn vị anh kể cho chúng tôi nghe rằng anh là một trung sĩ xạ thủ đại liên của một thiết vận xa M113. Khi quân ta đang phản công địch thì thiết vận xa của anh bị một quả B40 của địch bắn trúng. Quả đạn nổ gần thổi tung thân anh lên cao rồi rớt xuống đất. Anh còn nói được khi vừa bị thương ở mặt trận nhưng đã ngất đi trên trực thăng tải thương vì mất quá nhiều máu.
Trời bắt đầu tối. Y tá báo cho tôi biết anh xạ thủ đại liên đã hồi phục đủ để được giải phẫu. Tôi đi theo người y tá đẩy băng ca anh lên phòng mổ. Một y sĩ giải phẫu từ phòng mổ bước ra hành lang lắng nghe chúng tôi phúc trình ngắn gọn về ca bệnh. Anh khám nhanh thương binh rồi nhìn chúng tôi lắc đầu buồn bã. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn anh dò hỏi. Người y sĩ giải phẫu nầy thuộc lớp đàn anh của tôi, đã đến phục vụ tại QYV Qui Nhơn hơn 10 năm, khi mà tôi mới vừa tốt nghiệp trung học tại thành phố nầy. Thấy chúng tôi sững sờ, anh dịu dàng giải thích, “Hai em à, qua đã từng mổ rất nhiều ca mà thương binh bị quá nhiều thương tích nặng như ca nầy. Có mổ cũng không thấy ai sống sót... Mình nên để dành thì giờ cho những ca còn lại nhẹ hơn mà mình còn có chút hy vọng cứu sống...”
Tôi bỗng thấy nghèn nghẹn ở cổ. Tôi không hề nghi ngờ gì về thiện chí hay kinh nghiệm của người y sĩ đàn anh của tôi nhưng tôi cảm thấy không thể nào đẩy người thương binh nầy trở lại phòng cấp cứu mà chờ cho anh chết. Đầu tôi chợt như đông đặc lại. May thay, người y tá trẻ đã vội vàng khẩn khoản, “Bác sĩ ơi, mấy ca nhẹ đã được bác sĩ L. tăng cường đêm nay lo rồi, bác sĩ mổ ca nầy đi. Mình gắng hết sức mà anh ấy có mệnh hệ nào thì mình cũng an lòng và gia đình vợ con anh ấy cũng không trách mình được.” Người y sĩ đàn anh của tôi xiêu lòng bảo chúng tôi đẩy thương binh vào phòng mổ. Người y tá tươi cười siết tay tôi nói, “Em sẽ cầu nguyện cho anh ấy, bác sĩ...”
Người y tá trở lại phòng cấp cứu. Tôi đứng nán lại trong một góc phòng mổ quan sát toán y tá phòng mổ sửa soạn nhanh ca mổ. Người lo đánh thuốc mê, người dùng bàn chải cọ xát hàng trăm vết thương trên thân thể anh xạ thủ sau khi đã đổ lên người anh nguyên một thùng nhỏ dung dịch sát trùng màu xanh nhạt. Quả thật khó mà đếm cho hết những vết thương lớn nhỏ lỗ chỗ trên thân anh. Da anh có chỗ bị thuốc nổ cháy đen. Máu đỏ vẫn tiếp tục ứa ra thành nhiều đường dài từ những vết thương hở miệng đó.
Lại có tiếng trực thăng tải thương vần vũ, hăm dọa trên nóc QYV. Tôi rời nhanh phòng mổ trở lại phòng cấp cứu. Bốn giờ sáng đêm ấy, tôi mệt lả nhưng không đói, chỉ thấy miệng và lưỡi khô rốc. Viên y tá trưởng nói, “Giờ nầy khuya quá, trực thăng không về nữa đâu, bác sĩ về phòng trực nằm nghỉ một chốc. Nếu có thương binh về em sẽ báo ngay.”
Tôi lững thững bước ra khỏi phòng cấp cứu của QYV Qui Nhơn. Đêm yên lặng. Gió biển khuya mát lạnh thổi vi vu qua hàng phi lao trước mặt QYV. Sóng biển vẫn vô tình đều đặn từng chập vỗ bờ. Chòm sao Hiệp Sĩ vẫn còn nằm nghiêng nghiêng trong bầu trời đêm, như đang yên lặng quan sát những đau thương của một cuộc chiến tương tàn.
Về đến phòng trực, tôi nặng nề thảy người trên chiếc giường con, không màng cởi bỏ đôi giày trận hay bộ treilli vấy máu thương binh. Tôi thiếp đi và mơ thấy hàng chục chiếc trực thăng tải thương ào ạt đổ thương binh xuống QYV, người nào mình mẩy cũng đẫm máu...
Chiến trận trên cao nguyên và trong vùng 2 vẫn tiếp tục sôi động. Chúng tôi trực gác liên miên. Có ngày thương bệnh binh được chuyển về ngập phòng cấp cứu QYV. Một ngày tôi được tin một người bạn cùng trường vừa tử trận. Ngày khác, vài người bạn thân nữa mất tích. Tinh thần chúng tôi thường trực căng thẳng. Tôi quên bẵng viên xạ thủ đại liên được giải phẫu vài tuần trước.
Một hôm, khi tôi vừa trở lại phòng cấp cứu thì người y tá từng đẩy anh xạ thủ đại liên lên phòng mổ, chạy đến tươi cười nói với tôi, “Tin vui bác sĩ, anh chàng thoát rồi. Anh chàng trung sĩ xạ thủ đại liên đấy.” Tôi chợt nhớ lại trường hợp cấp cứu ấy và cũng vui lây. Người y tá tiếp, “Anh chàng đang nằm ở trại 14. Khi nào rảnh bác sĩ ghé lại thăm anh chàng nhé!”
Tôi nhìn vào mắt người y tá trai trẻ đầy nhiệt tình, “Nhờ em đã chân thành cầu nguyện cho anh ấy.” Người y tá mỉm cười, “Em nghĩ cũng nhờ tài giải phẩu của bác sĩ C. và sự cố gắng tận tình của anh em y tá phòng mổ nữa.” Tôi hỏi, “Em có tin là người có số không?” Người y tá đáp không ngần ngừ, “Dạ, tin chớ.”
Vài hôm sau tôi ghé trại 14. Tôi nhận ra anh xạ thủ ngay vì vóc dáng cao lớn của anh. Mặt anh còn sưng, mắt anh còn bầm, những vết thương trên khắp thân thể anh còn chưa lành hẳn. Chân anh được băng bột, ruột già bị lủng của anh được bác sĩ C. cắt khâu vào thành bụng đỏ hỏn chờ giải phẫu tiếp. Tình trạng sức khỏe của anh có vẻ khả quan. Tôi ngồi xuống bên thành giường thăm hỏi anh. Anh cho tôi xem tấm ảnh vợ và hai đứa con anh chụp chung. Hai đứa bé thật kháu khỉnh. Nói chuyện một lúc tôi nhận ra quê anh không xa quê tôi mấy. Tôi ở hữu ngạn, anh tả ngạn sông Côn. Anh kể, “Vợ em tưởng em chết rồi nên khóc sưng cả mắt. Khi đến QYV thấy em còn đây nó mừng quá cũng lại khóc bù lu bù loa...”
Nói chuyện với tôi anh nghĩ tôi là một trong những y sĩ điều trị của trại anh. Anh không hề biết tôi là y sĩ trực cấp cứu của ngày anh bị thương thập tử nhất sinh. Tôi ngồi nghe anh nói mà cảm nhận và chia xẽ được nỗi vui mừng của bản thân anh, của gia đình và vợ con anh.
Hôm ấy, tôi bước ra khỏi trại 14, lững thững đi bộ giữa những hàng thông cao trong khuôn viên QYV. Ngoài kia, tiếng sóng biển vỗ bờ dường như nhịp nhàng và êm ả hơn.Tiếng gió biển thổi vi vu qua rặng phi lao mơn man và dịu mát hơn. Nắng vàng tràn ngập QYV hôm đó cũng óng ả và ấm áp hơn.
Nguyễn Trác Hiếu
(Bác Sĩ Quân Y – VNCH)

Wednesday, May 8, 2019

JOHN FITZGERALD KENNEDY hay John F. Kennedy hay JFK sanh ngày 29/5/1917
1/ Dựa vào LTS , tôi phân tách tên cúng cơm của ông .
JOHN = 1 7 5 5 = 18 = 9
FITZGERALD = 8 1 4 7 3 5 2 1 3 4 = 38 = 11 = ko thể rút gọn
KENNEDY = 2 5 5 5 5 4 1 = 27 = 9
Cộng lại : 9 11 9 = 29
Như vậy cuộc đời của ông chịu tác động bởi số 29 HAI LẦN . Sau đây là ý nghĩa của số này .
Hưởng hồng ân Chúa dưới áp lực (Grace under Pressure)
Số 29 có lẽ là số xấu nhứt trong các số . Số này thử thách con nguời hay thực thể - mà nó đại diện - về sức mạnh tâm linh , thông qua những thử thách và nỗi đau khổ , nhắc nhớ (chúng ta) câu chuyện về ông Job trong Kinh Cựu Uớc (trials and tribulations echoing the Old Testament story of Job) . Cuộc đời của họ thì đầy rẫy những bất trắc , sự phản bội và lừa gạt (the life is filled with uncertainties , treachery and deception) từ những nguời khác , bạn bè không đáng tin cậy , những nguy hiểm không ngờ (unexpected dangers) - và nhiều nỗi đau buồn và lo âu (and considerable grief and anxiety) tạo ra bởi nguời khác phái . Đó là số của cảnh báo nghiêm trọng (grave warning) trong mọi lãnh vực của đời sống cá nhân và nghề nghiệp . Nếu tên bằng 29 , điều tất nhiên là phải đổi tên để lấy/bỏ đi tác động xấu nầy , trừ khi nguời đó là kẻ khổ dâm (it’s obvious that the spelling of the name should be changed to lift this difficult vibration , unless one is a masochist) .
Nếu 29 là ngày sanh , và do đó không thể tránh đuợc , phải ý thức rằng mình phải cố gắng để giảm bớt và cuối cùng sẽ hủy bỏ , làm vô hiệu/mất tác dụng , hoặc xóa đi nghiệp quả này (conscious effort must be made to dilute and eventually to negate , neutralize , or erase this karmic burden) . Nghiệp quả này , trong một chừng mực nào đó (to a great extent) , có thể giảm nhẹ bằng cách chọn một cái tên mới có độ tích cực cao (be eased by choosing a new name with a strongly positive compound key number) . Xa hơn nữa , nguời nào sinh vào ngày 29 nên làm mọi điều đã chỉ dẫn ở Chuơng 4 liên quan đến Nhân quả và luân hồi .
Trong truờng hợp đặc thù của số 29 , cùng đến với nó là tác động thứ cấp của số 11 ; (số 11) cũng nên đuợc đọc/xem xét để tìm cách giảm nhẹ nghiệp quả này - hãy nhớ rằng sự phát triển của niềm tin tuyệt đối vào đức hạnh và sức mạnh của Bản ngã (development of absolute faith in goodness and the power of the Self) . . . liên tục và mạnh mẽ trau dồi/nuôi duỡng sự lạc quan (the constant and energetic cultivation of optimism) . . . sẽ tác động như là một liều thuốc kỳ diệu đối với những vấn đề của số 29 .
Cuối cùng , những gánh nặng/món nợ của ông Job sẽ đuợc dở đi/lấy đi , một khi ông ta đã học cách chịu hoàn toàn trách nhiệm cho những khó khăn/khốn khổ của ông , mà không đổ lỗi cho kẻ khác hoặc tìm cách trả thù cho những đau khổ mà ông đã hứng chịu (after all , Job’s burdens were finally lifted , when he had learned to accept full responsibility for his troubles, and not to blame others or seek revenge for the hurts he suffered) . Cuối cùng , chẳng những vận số xui xẻo dài lâu của ông đã chấm dứt , ông còn nhận lại đuợc mọi thứ mà ông đã mất (not only did his long bad-luck streak end at last , he was given back everything he’d lost , several times over) . Do đó , nếu bạn sanh vào ngày 29 , hãy thay đổi tác động của tên bạn bằng một số đầy quyền lực , như số 19 ; hãy theo guơng ông Job , và chẳng bao lâu bạn sẽ hạnh phúc như - hoặc hạnh phúc hơn - bất cứ ai khác ( change the vibration of your name to a powerful number , such as 19 , follow Job’s exemple , and soon you’ll be as happy as - or happier than - anyone else ) . Thật là thú vị , tên “Job” lại bằng số 10 đầy quyền lực - một tác động khó mà đánh bại ( interestingly, the name “Job” equals the powerful compound number 10 - a difficult vibration to defeat ) . /.
Dịch từ trang 262-263 trong quyển Linda Goodman’s Star Signs .
2/ Nếu dựa vào tên thường dùng John F. Kennedy ta có :
JOHN = 9 (đã tính ở phần 1)
F. = 8
KENNEDY = 9 (đã tính ở phần 1)
Cộng lại : 9 8 9 = 26 = RẤT XẤU = TRẢ NỢ DỒN vì 2 + 6 = 8 .
Sau đây là ý nghĩa của 26 .
SỰ HÙN HẠP LÀM ĂN (PARTNERSHIPS)
Số kép nầy sẽ rung động , bằng một cách lạ kỳ , đưa tới một quyền lực độc đáo của thân ái/tử tế (kind power) , (quyền này) đặt căn bản trên lòng nhân đạo (compassion) và sự không ích kỷ , với khả năng giúp đỡ những nguời khác , nhưng luôn luôn không giúp đuợc bản thân mình . Số 26 thì đầy mâu thuẫn . Nó cảnh báo về những nguy hiểm , thất vọng (disappointments) , và thất bại , đặc biệt liên quan đến những tham vọng , đã tạo ra (brought about) thông qua sự cố vấn sai lầm , liên kết với những kẻ khác , và những sự hùn hạp làm ăn không khéo chọn / không thích hợp (unhappy) dù lớn hay nhỏ . Nếu 26 là số kép của tên , điều tốt nhứt là đổi tên để có một ảnh huởng may mắn hơn . Nếu 26 là ngày sanh , và vì vậy không thể thay đổi , nguời này nên tránh hùn hạp làm ăn , và nên đeo đuổi nghề nghiệp một mình , không nghe theo sự cố vấn dù cho đầy thiện ý (well-intended) từ những kẻ khác , nhưng chỉ theo những linh cảm (hunches) và trực giác cá nhân – mặc dù những điều này nên đuợc tìm hiểu cẩn thận truớc khi hành động . Nguời số 26 nên ngay lập tức bắt đầu ổn định lợi tức , tiết kiệm tiền , không nên có thói quen tiêu xài hoang phí (behave in a extravagant manner) hoặc đầu tư dựa vào ý kẻ khác . Hãy đầu tư vào chính tuơng lai của bạn , hãy rộng luợng với kẻ khác , đặc biệt là nguời đang hoạn nạn (in need) , nhưng cũng xây dựng một nền tảng vững chắc cho tuơng lai của chính bạn . Nếu tên cộng lại bằng 26 ,và nếu bạn lại sanh vào ngày 26 , bạn hãy đọc cẩn thận đoạn nói về các số 4 và 8 ở cuối chuơng này . (2 cộng 6 bằng 8 , do vậy 26 = 8 ) . Đây là lời khuyên quan trọng nhứt đối với bạn – hay cho bất cứ ai mà tên bằng 4 hay 8 , hay ai sanh vào ngày 8 tây – hay bất cứ ngày nào , sau khi thu nhỏ bằng 4 hay 8 , như ngày 13 , 17 , 22 , 26 , 31 , 35 , và 44 .
(Dịch từ trang 203 trong quyển Linda Goodman's Star Signs) .
San Jose ngày 29 tháng 3 năm 2010 .
3/ Nếu dựa vào tên tắt , ta có :
JFK = 1 8 2 = 11 . (Ông Trọng cũng chịu tác động của số này) . Sau đây là ý nghĩa của số này .
Ý nghĩa của số 11 .
Một sư tử bị khóa mồm - một quả đấm nắm chặt (A lion muzzled - a clenched fist)
Đây là số của những thử thách đuợc giữ kín và sự phản bội từ những kẻ khác . Nó tuợng trưng cho hai nguời cùng hoặc khác phái – hoặc hai tình huống đối nghịch nhau . Trong bất kỳ truờng hợp nào , sự tuơng thích về quyền lợi đều không có (is lacking) và sự cản trở từ một lực luợng thứ ba phải đuợc khắc phục . Những khó khăn này cũng có thể phát sinh từ ảo tuởng của sự phân ly . Điều cần thiết là phải hợp nhứt những mục đích đã bị chia cắt để tránh đi một cảm giác thất vọng của một việc không thành (a sense of frustrated incompletion) . Lực luợng thứ ba hay cản trở này có thể là một nguời hay một ý tuởng ; và nó có dạng của một sự từ chối (refusal) vì xem phe bên kia là một chuớng ngại cho sự hài hòa . Nguồn gốc của lực luợng chia rẽ này phải đuợc nhận dạng , và bạn nên cố gắng tìm kiếm một thỏa hiệp (compromise) . Đôi khi , những uớc muốn mâu thuẫn trong chính con nguời của bạn đuợc thấy như trong một tấm guơng phản chiếu . Hai lực luợng hoặc hai uớc muốn đứng tách ra và cuối cùng phải hợp nhứt để có hạnh phúc . Tuy vậy , mỗi bên đều phải giữ sự đặc thù của mình , bởi vì ngay cả sau khi đuợc kết hợp , mỗi phe vẫn sở hữu giá trị của riêng họ .
Dịch từ sách đã dẫn .