Wednesday, April 25, 2018

TÙ NHÂN TRƯƠNG VĂN SƯƠNG .
November 8, 2013 


Bên bờ giếng hai người đàn ông mặc quần xa lỏn chụm đầu vào nhau. Bốn cái đầu gối lồi lên hai bên bả vai. Con mèo nằm nhe răng, mặc cho bốn bàn tay vò vọc, nhổ từng nắm lông. Nó đã chết từ đêm hôm qua, ngay dưới vuông cửa trực của người tù gác đêm Đào đăng Nhẫn. 

Gã tù việt kiều tay cầm đóa hoa vạn thọ, ngô nghê bước sát lại gần hai người tù đang nhổ lông con mèo. Con mèo bé tí, vừa bằng cổ tay người tù khổ sai! Cả ba rơi vào những giây thời gian im lặng khó diễn tả! Một tay chỉ huy giang hồ khét tiếng. Một tay thơ phú dạt dào và một tên lưu vong quay về từ bên kia quả đất sau mười năm lang bạt. Ba người đàn ông trọng án cùng nhìn vào một một con mèo trắng ởn đã chết đang bị vặt lông. Con mèo bé bỏng, gầy guộc, cái đầu chỉ nhỉnh hơn quả chanh. 


anh Trương Văn Sương (trái) tiếp Mục Sư Thân Văn Trường đến thăm nhân ngày anh được được nhà tù Nam Hà của VC cho về một năm để chữa bệnh (từ 12/7/2010). Tin tức về anh Trương Văn Sương được kể qua lời tường thuật của nhiều tù nhân chính trị khác: Nhờ sự đấu tranh quyết liệt do anh cầm đầu, ban quản trại Nam Hà đã giảm bớt ăn cắp thực phẩm, phần ăn của tù nhân khi tất cả mấy ngàn tù nhân ở trại này đồng loạt tuyệt thực phản đối. Anh Trương Văn Sương sinh năm 1944, nguyên là trung úy Ðịa Phương Quân Quân Lực VNCH. Khi miền Nam sụp đổ 30/4/1975, anh bị cộng sản bắt đi tù cải tạo từ ngày 1 tháng 5, 1975. Sáu năm sau ra tù, anh vượt biên sang Thái Lan, tham gia nhóm phục quốc của Lê Quốc Túy, Mai Văn Hạnh xâm nhập về Việt Nam lập chiến khu thì bị bắt năm 1983, và bị kết án tù chung thân với tội danh gián điệp.
Trong tù, anh nhất định không xin giảm án hay nhận tội dù có thể giảm xuống còn 20 năm tù.
Theo lời nhiều tù chính trị kể lại, anh Trương Văn Sương đã bị biệt giam và bị cùm rất nhiều lần vì tính nết cương nghị, không khuất phục trước các lệnh ngang ngược của quản giáo.

Trại tù buổi trưa lặng im dưới cơn nắng lửa. 

Gã việt kiều bỏ đi khi có tiếng gọi nhỏ của Trương Văn Sương, một người tù mang ba giòng máu Khờme, Việt Nam và Quảng đông. Dưới gốc dừa cao nghễu nghện. Sương để tay trên nắp ấm trà, hỏi. 

- Làm cái chứ?

Gã "việt kiều" ngồi xuống. Con mèo ám ảnh gã nặng nề! Cầm trên tay tách trà không quai hắn hỏi. 

- Ai đang làm thịt mèo vậy anh Sương?

- Thành (tức Nguyễn Thành, cựu sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia) 
Người trẻ hơn là Long. Long Rồng án chính trị bị buộc thành hình sự giết người vì có quất sụm công an trong một vụ vượt ngục ở Hậu Giang Trà Ếch. Cả hai đều chung thân. 

- Chác mấy ảnh không có thăm nuôi?

- … Con bà phước! Như tôi thôi! Anh em cho gì biết nấy... 

Sương cười khẽ, ngúc ngoắc trả lời. 

ảnh Nguyễn Thành chụp ở Lăng Cô - Huế năm 2000 với Thủ Bút anh Nguyễn Thành Huế 28 . 8 . 2014 Kính anh chị/ Đây là hình ảnh chụp khi đứng trên bãi biển Lăng Cô, xa xa phía sau là đèo Hải Vân. Kính chúc chị, anh Út và toàn thể đại gia đình luôn vui vẻ hạnh phúc. Kính, Nguyễn Thành

Tù Chính Trị Trần văn Long trên 1 bản tin của Thông Tin Nhân Quyền Việt Nam 10 tháng 9 năm 2014 (2)
Admin chú thích: trong ảnh là sổ "Hộ Khẩu" của ông Trần văn Long, một loại sổ Liên Gia hay sổ Gia Đình thời quốc gia ở miền nam Việt Nam [một gia đình sinh hoạt -không thường lệ lắm -với 1 loạt các gia đình khác trong khu, xóm dưới quyền của 1 Liên Gia Trưởng, trong đó ghi vắt tắt chi tiết các thành viên của gia đình đó, từ ngữ "chủ hộ" của VC thì thời ấy trong sổ Liên Gia gọi là "Gia Trưởng"].VC đã "cấp" Hộ Khẩu này cho gia đình ông Long vào 28 tháng 4 năm 1997, trong đó, khác với hầu hết các sổ "Hộ Khẩu" bình thường, thì "Hộ Khẩu" của ông Long được ghi các chi tiết rất sơ sài một cách khác thường, chỉ gồm:
-địa chỉ thường trú: Bình Thạnh (tỉnh Gia Định cũ) mà không có số nhà.
-ở dòng "Nơi thường trú trước khi chuyển đến:: thay vì là "nơi" thì cán bộ công an VC chỉ ghi ngày (không nhìn rõ...) /năm 97
-ký chính sổ "Hộ Khẩu" này là tên Thiếu tá VC "phó Công an Quận Bình Thạnh": Nguyễn minh Hoàng.
-trang bên có bút tích của 1 tên VC khác: Hộ gồm (02) hai NK (==> NK tức viết tắt của chữ Nhân Khẩu) và chữ ký với dòng chữ in sẵn: đại úy Trần hữu Chí

* * *


Tôi biết Long từ hôm ấy. 
Buổi chiều bàn ăn của Long, Nguyễn Thành và Lê Văn Thụ có bát thịt mèo vàng lừm. Bàn ăn là chiếc bàn gỗ thấp dưới đầu gối, ngang độ ba gang tay, dài chừng gần thước. Bàn kê sát cửa ra vào của căn nhà được gọi là nhà bếp của nhà 3a, trại tù A20, năm 1993. 
Bước qua hẳn bàn của Long là bàn của trực sinh Bảo Giang /Lê văn Triệu. Giang người Bến Tre, án chung thân, cựu sinh viên luật trước 1975. Bàn này cũng thuộc diện "con bà phước", trên bàn ngày nào cũng chỉ lỏng chỏng mấy cọng rau, lâu lâu thấy vài xâu nhái được đám tù "làm rộng" (*) mang về cột ở chân bàn, nhảy loạn xạ trong sợi dây chuối mỗi khi có người bước qua. 
Sau bàn của Giang là bàn Bình Nam / Trương Nhật Tân, thủ lĩnh vụ án Mặt Trận Phục Hồi Nhân Quyền VN xử ở Thuận Hải năm 1980. 
Sau bàn Trương Nhật Tân là là bàn nhóm tôi, trong góc do Đỗ Bạch Thố chủ trì. Bàn có tôi và Phạm anh Dũng nên anh em có vẻ sung túc hơn, bữa nào hẻo thì cũng có cá khô. Khác hẳn đa phần các bàn còn lại, chỉ có rau và cá bác hồ (1). Nhóm tôi qui tụ thượng vàng hạ cám, hình sự, chính trị, vượt biên …đủ cả, có lúc ngồi đến hơn chục người. Sau giờ ăn là mấy đứa hình sự bò cả ra bàn vừa rít thuốc rê vừa hì hục đuổi con bệnh mù chữ. 

… Chưa bao giờ anh em các bàn khác nhìn sang mâm ăn của chúng tôi. Chưa bào giờ bất cứ ai mở miệng xin tôi bất kỳ một sự chia sẻ nào, mặc dù tôi rất muốn đươc chia sẻ. 

Tất cả còn là quá mới. Đám tù hải ngoại vừa vào trại hơn tháng. Những xáo động không hay cũng đã xảy ra. Những bữa tiệc bia ê hề đã làm tăng khoảng cách xa vời giữa những người được gọi là tù việt kiều và tù quốc nội. Những xốn xang cũng đã làm tách ra thành hai ba nhóm trong đám "tù việt kiều". 

"Đêm gọi ánh mặt trời" - tháng 6/1992, 1 trong những sáng tác tại A20 của nhạc sĩ Lê văn Thụ (vụ án Thẩm Phan 1979), lúc ấy, trong tù anh lấy bút danh là Đặng Quốc Sầu

Rất khó tôi mới làm thân được với Trần văn Long. Long có ngón đờn ghi-ta khá ngọt. Những buổi trưa hy hiếm, nơi chiếc bàn này Lê Thụ và cựu Trung uý trực thăng tên là Bích, người Huế án 18 năm... có những bài song tấu rất đắt đỏ. Lê văn Thụ người bắc di cư, trưởng thành ở Đà Lạt, cựu trung úy Thiết Giáp 1975, chống lệnh cải tạo, lập ổ kháng cự, án chung thân do vụ án Thẩm Phan 1979 bị bể tại Sài Gòn. Đây là một khuôn mặt du ca đặc biệt của 1975 và A20 sau này... 


* * *

Thân nhau đâu chừng 3 tháng, tôi bàn với Long. 

- Phải có người chạy vòng ngoài. Phải ra được đội chăn bò. 

Long bảo Long có thể ra, nhưng tiền mua chân ấy không hề rẻ, vì án Long còn khá cao. 

"Giấy thả tù" vụ bắt lại 1999 của Tù Chính Trị Trần văn Long, đã thụ án 20 năm tại trại A20 Xuân Phước và Z30A Xuân Lộc. Mãn án tù 1997. Bị bắt lại (12/1999) vì đã phối hợp cùng các ông Cựu Trung Úy Không Quân Sư đoàn 2 Đà Nẵng Nguyễn Trọng Nghĩa, Lê Ngọc Vàng và Phan văn Lợi (thường gọi là Bảy Lợi, - án 18 năm - khoảng 7, 8 năm ở A20) tổ chức thăm tù cho những gia đình tù chính trị miền Nam không có khả năng ra Bắc thăm nuôi thân nhân. Viện Kiểm Sát Tối Cao của VC đã buộc phải đình chỉ điều tra vụ bắt lại này và trả tự do cho 4 người sau 17 ngày giam giữ (1999)

Long nổi tiếng lỳ lợm, liều lĩnh. Án Long từ chính trị bị buộc danh hình sự là do từ một vụ vươt ngục. Long giật súng quản tù, đứng lại bắn cản đường cho anh em chính trị vượt thoát. Hành động ấy đưa đến án tử hình của Long. Khi ra sân bắn, chẳng hiều lý do gì Long lại được hủy án bắn khi cái chết chỉ còn trong gang tấc. 
Anh em chính trị thương Long vì Long ngay thẳng, can trường. Phía cán bộ cũng gờm tay «vượt ngục máu lạnh» này. Long bị bao vây tứ bề khi vụ nổi loạn A20 /1994 xảy ra, nhưng cái đầu mưu mô ấy cũng đã chuẩn bị đủ để xoay xở trong những tình thế xấu nhất. Tính cách ấy, khó mà không thể không kính trọng. 

Sau vụ nổi loạn, chúng tôi ra bắc hầu hết, lạc lõng Trần văn Long và Đào Đang Nhẫn xuôi nam. 

Năm 1998 tôi bị trục xuất về Pháp, Đào Đăng Nhẫn cũng mãn án tù, Long gần chết được đưa vào bệnh viện Biên Hòa, rôi sau đó thoát lưỡi hái tử thần và tự do, lập gia đình. Long thay đổi nhiều nơi cư trú và lang bạt sang tận Lào. 

Giờ này, đã mấy năm Long và vợ con lang bạt trên đất Thái. Lạc lõng, cô đơn!

Xót đau rất nhiều, nhưng biết nói gì hơn bây giờ. Cuộc chơi nào cũng có cái giá của nó. Con đường chông gai hôm nay, phải được chuẩn bị đi trong đau đớn, chấp nhận xẻ thịt phơi máu…mới có thể đi đến đích được, dù năm năm hay hai mươi năm. Dù vài tháng hay cả một cuộc đời. 

Trong chúng ta, một khi đã có sự tính toán cân đong, ắt sẽ có ngày đứt gánh giữa đàng. 



Paris, một đêm trống vắng. 
8/11/2013
Phạm Văn Thành 


(*) Chú thích của Admin: làm rộng: một "thuật ngữ" đặc biệt trong nhà tù Việt cộng nếu không chú thích rõ, có thể bạn đọc sẽ nghĩ đây là lỗi đánh máy (ruộng chứ không phải rộng!). Thật ra là làm rộng. Chữ này nhằm chỉ một thứ "quy chế" (do bọn cai tù VC nghĩ ra) có vẻ nhẹ, thoáng hơn dành cho những người tù đã sắp mãn án (còn trên dưới 1 năm...). Thường ngày, tù nhân phải làm việc lao động khổ sai trong trại dưới sự canh gác của cảnh vệ kè kè với súng ống thường trực. Nhưng những người được cho đi "làm rộng" thì được đi làm ở những thửa ruộng "của" trại tù nhưng nằm ngoài phạm vi trại. Tù nhân đi làm rộng được khoán việc ở những thửa ruộng bên ngoài đó mà không có cảnh vệ ôm súng đi theo canh gác họ. Họ tự giác đi, tự giác về vì bọn cai tù tin rằng án sắp mãn cho nên họ sẽ không tìm cách vượt ngục cho dù được đi ra ngoài lao động mà không có ai canh gác. Người tù đi làm rộng còn được "hưởng" một tình trạng quý báu với tù nhân: được giao tiếp xã hội, trao đổi tin tức, chuyện trò... với đồng bào ở bên ngoài, nơi những khu dân cư ở lân cận trại mà đa số đồng bào ở quanh đấy cũng đều là nông dân phải hàng ngày làm việc đồng áng của riêng họ.



1 - Cá rô phi nuôi bằng phân tù, từ các ao cá tù nhân đào đắp chung quanh trại, được gọi là "ao cá bác hồ". Vừa nuôi cá, vừa xây dựng quy hoạch địa hình chống vượt ngục. 

2 - Bản tin của Thông Tin Nhân Quyền Việt Nam:

Multi-lingual Vietnam Human Rights News : Việt ngữ - English - Français - Deutsch - polski - Čeština - Nederlands - 中文

Việt ngữ

Bản án nào dành cho một cựu tù nhân chính trị Việt Nam ?

Ông Trần Văn Long sinh năm 1958 tại Vĩnh Long, thuộc gia đình Quốc Gia Nghĩa Tử Việt Nam Cộng Hòa, là một trong những người bị nhà cầm quyền Việt Nam liên tục gây hại tới đường cùng nên phải rời quê hương để tỵ nạn tại nước ngoài.

Ông bị bỏ tù lần đầu năm 1977 vì tham gia phong trào chống cộng sản của tổ chức Dân Quân Phục Quốc. Trong cuộc giành giật vũ khí của quản tù cho đồng đội vượt ngục, một công an tử vong, ông Long bị kết án chung thân với tội danh "giết người". Kể từ đó, người thanh niên 19 tuổi bị đầy ải qua nhiều nhà tù khắc nghiệt như Trà Ếch, Z30A - Hàm Tân, A20 - Phú Yên (còn được gọi là "Thung lũng tử thần").

Từ trại A20, ông tham gia vào việc bí mật chuyển tin ra bên ngoài về chế độ tù đầy hà khắc và vô nhân đạo. Nhờ các thông tin đó mà từ 20 tới 26 tháng 10 năm 1994, Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc đã có chuyến thị sát 4 nhà tù tiêu biểu tại Việt Nam. Tuy vậy, giám thị trại A20 đã đánh lừa đoàn thị sát bằng cách dồn tù nhân chính trị vào các khu cách biệt, chỉ cho Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tiếp xúc tù thường phạm tại một lán trại riêng. Ngay hôm sau, hơn một trăm tù nhân chính trị đã đồng loạt nổi dậy, hô to "Nhân Quyền cho Việt Nam", "Tự Do cho Việt Nam" liên tục trong 3 ngày, từ 26 tới 28 tháng 10 năm 1994, bất chấp sự đàn áp khốc liệt và tinh vi của quản giáo. Sự kiện này vượt ra ngoài biên bản quan sát của Liên Hiệp Quốc và chỉ được ghi nhận không chính thức.

An ninh trung ương đã khống chế đoàn tù chính trị và lưu đày họ ra ba trại tù phía bắc là Thanh Cẩm, Trại 5 Thanh Hóa và Phủ Lý Nam Hà, nhằm trừng phạt và cách ly với thân nhân vốn nghèo túng của họ ở miền Nam xa xôi. Ông Trần Văn Long bị đưa vào trại Z30A Xuân Lộc giam giữ với chế độ cách ly đặc biệt hà khắc. Ông đã kiệt lực sau gần hai năm sống trong điều kiện giam cầm theo chế độ hành hạ để trả thù. Tháng 4 năm 1996, ông được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Biên Hòa. Nhờ sự can thiệp của Quốc tế Nhân Quyền, ông được trả tự do sau 9 tháng nằm viện, vào ngày 28 tháng 1 năm 1997, sau đúng 20 năm tù cấm cố và khổ sai.

Tháng 9 năm 1999, ông Trần Văn Long thay mặt Hiệp Hội Tranh Ðấu Nhân Quyền Việt Nam (có trụ sở tại Paris) phối hợp cùng các ông Lê Ngọc Vàng (cựu tù 20 năm) và Nguyễn Trọng Nghĩa (người Việt tại Pháp) tổ chức cho những gia đình tù nhân miền Nam vượt hơn ngàn cây số để cùng đi thăm thân nhân đang thụ án tại Trại Giam Số 5 Tỉnh Thanh Hóa, gồm các tù nhân Vũ Đình Thụy (thụ án từ năm 1975), Dương Văn Sĩ (án chung thân), Trần Văn Lương (án tử hình xuống chung thân). Khi đoàn xe thăm tù về đến Sài Gòn, các ông Trần Văn Long, Phan Văn Lợi (cựu tù 18 năm) và Lê Ngọc Vàng bị bắt giam tại Bộ Công An B34. Nhờ cuộc điều trần đặc biệt của Hiệp Hội Tranh Ðấu Nhân Quyền Việt Nam với Tiểu Ban Nhân Quyền Quốc Hội Liên Bang Úc giữa tháng 10 năm 1999 mà những người này được cứu thoát ra khỏi nhà giam.

Năm 2002, ông Long bị bắt lần thứ ba sau cuộc tiếp xúc với linh mục Chân Tín để chuyển giao một số phương tiện hoạt động cho Câu Lạc Bộ Sinh Viên Sài Gòn. Vì không hợp tác khai báo mà gia đình ông bị truất quyền cư trú tại Sài Gòn. Suốt các năm sau đó ông Long bị theo dõi gắt gao, mọi quan hệ xã hội, kinh tế, sinh nhai đều bị bẻ gãy. Bạn tù cũ của ông từ nước ngoài gửi tiền quà giúp làm hàng quán cà phê, tạp hóa đều bị an ninh cộng sản tịch thu với lý do là nhận tiền từ người Việt nam ở nước ngoài. Ông buộc lòng cùng vợ con vượt biên giới để tới Băng Cốc – Thái Lan xin tỵ nạn chính trị vào ngày 5 tháng 3 năm 2011.

Nhưng vì án danh "giết người" mà nhà cầm quyền đã buộc cho ông, gia đình ông bị văn phòng Cao ủy Liên Hiệp quốc tại Thái Lan từ chối cấp quy chế tỵ nạn. Ba năm qua và cho tới ngày hôm nay, ông cùng vợ và con trai phải chịu cuộc sống lẩn trốn tại Thái Lan. Gia đình ông phải lao công cực nhọc mà mức lương chỉ bằng phân nửa của người bản xứ. Cuộc sống khốn khó đã khiến vợ ông kiệt sức, hiện đang phải điều trị bệnh lao phổi tại bệnh viện với sự gom góp trợ giúp viện phí của những đồng hương qua tổ chức thiện nguyện BPSOS.

Ông Trần Văn Long là nạn nhân điển hình của chủ trương «đuổi cùng giết tận» được nhà cầm quyền thực hiện đối với những người kiên cường hành động chống lại chế độ cường quyền cộng sản Việt Nam.

10 tháng 9 năm 2014
Vietnam Human Rights News
vietnamhumanrightsnews@gmail.com
ANH HÙNG PHẠM VĂN BE .
Phóng sự của Nhóm Thư Viện Phạm Văn Thành, Vietnam tháng 5/2015


Với những ai đã từng biết những quái ác tàn độc của những trại tù trong hệ thống nhà tù cải tạo dày đặc tại Việt Nam sau biến cố Saigon thất thủ 30 tháng Tư/ 1975…đều không chút ngạc nhiên về cách thế xưng hô bắt buộc do kẻ thắng trận là Việt cộng miền Bắc bày ra giữa tù nhân cải tạo (quân cán chính VNCH) với quản giáo (Việt cộng) ở những trại giam tù cải tạo trên toàn quốc sau tháng Tư đen 1975. 


Tù nhân bị buộc phải gọi cán bộ quản giáo bằng cán bộ, hay bằng “ông” [“ông”: ở các trại tù Phú Túc (quận Hiếu Đức nay VC nhập chung vào thành quận Hòa Vang), trại An Điềm (quận Đại Lộc), trại Sườn Giữa (thuộc trại An Điềm nhưng cao hơn, xa hơn An Điềm và nước độc hơn), trại Tiên Lãnh (quận Tiên Phước)… thuộc vùng ngược miền núi tỉnh Quảng Nam đầy hiểm trở và ma thiêng nước độc], và tự xưng là tôi…dù “ông” đó tuổi chưa đáng tuổi con của những tù nhân VNCH vừa bại trận.

Ông Be, chính là tù nhân chính trị A20 còn rất trẻ, cho tới ngày anh bị tà quyền xử bắn 1982 chỉ mới ba mươi tuổi…………..nhưng sao lại được anh em chiến hữu đang ở tù lẫn bọn cán bộ quản giáo trại tù khét tiếng tàn ác Thung Lũng Tử Thần này gọi bằng ÔNG sau khi bị xử bắn vì vượt ngục???

Vài hàng về xuất thân của Ông Be


Ông Be tức anh Phan Văn Be (theo dòng chữ anh em A20 lập bia mộ ghi nhầm trong các ảnh chụp dưới đây - tháng 5/2015) thực ra chắc chắn họ tên anh chính xác là Phạm văn Be, sinh 1952 tại xã Phước Thạnh, quận Châu Thành, tỉnh Kiến Hòa (ven bờ sông Ba Lai), trước 75 anh là lính trinh sát Trung Đoàn 10 / Sư Đoàn 7 Bộ Binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đóng tại ngã ba Tháp tỉnh Kiến Hòa (tức Bến Tre theo danh xưng của Việt cộng sau 1975)
Sau khi cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, tại Kiến Hòa có 2 tổ chức kháng cộng phục quốc sớm nhất đó là Mặt Trận (MT) Quốc Gia Liên Kết do anh Nguyễn văn Mười và anh Trần văn Hiếu tức Tám Hiếu (TPX tức đoàn Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội do anh Tám Hiếu sáng lập) cầm đầu. 
Tổ chức thứ hai là MT Dân Quân Phục Quốc. Năm 1976, anh Be được anh Trương kim Chi móc nối vào MT Dân Quân Phục Quốc và giao trọng trách tổ chức và kiện toàn lực lượng nầy tại tỉnh Bến Tre chuẩn bị cho đại cuộc lật đổ bạo quyền cộng sản.
Hoạt động chưa đầy năm thì MT Dân Quân Phục Quốc bị lộ và anh em bị bắt (1977) gồm nhiều anh trong đó có các anh anh Hiếu và anh Mười bị tử hình cùng ngày mà khác chỗ, anh Be và nhiều anh khác bị xử chung thân. Vụ này, bạo quyền cộng sản xử vội trong các cái gọi là phiên tòa (rừng rú) của chúng vào 1979 và các án tử thi hành trong năm.

Kiên Cường & Vượt ngục Bến Tre


Giáp Tết Mậu Ngọ 1978, anh Lê Ngọc Vàng (*) chỉ huy một cánh quân chuyển về Bái Đầm thuộc xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre, các anh em tù phục quốc đang bị giam trong trại hay tin này nên lên tình thần và quyết tâm tổ chức phá khám. 

Khu P5 -phòng 5- tại khám lớn Bến Tre là nơi VC chỉ dùng để nhốt những thành phần có Án Chữ chớ không phải Án Số, tức những thành phần đầu vụ kháng chiến phục quốc có tổ chức và những thành phần được Việt cộng gán cho là “có nợ máu với nhân dân”, tức là mang ý nghĩa nguy hiểm cho chế độ của chúng.

Mồng 2 Tết Mậu Ngọ 1978 anh Be cùng với các anh Phơi (cựu Cảnh Sát Quốc Gia), anh Mười Tây, anh Nhân, anh Hòa rắp tâm phá khám lớn (khám lá) tại thị xã Bến Tre, là nơi các anh vừa bị giam vào sau thất bại 1977. 

Cuối năm 1977 qua 1978, anh em tại P5 được các anh em tù đi làm rộng ra bên ngoài, mua và chuyển dần về một số dao mác để làm khí giới, đúng đêm giao thừa cùng nguyện nếu xẻ trái dưa có ruột trắng thì biểu hiện của điềm xui rủi, còn nếu ruột đỏ thì là điềm tốt đẹp, làm việc gì cũng thành công. Giờ giao thừa bổ dưa ra nhằm trái dưa có ruột đỏ, nên anh em lên tinh thần rất cao. 
Giây phút khởi sự, anh Lê văn Hòa và anh Rừng cầm dao từ P5 chạy lên cổng trước trại giam –cách chừng 100m, giết chết tên Lấn Giám thị trưởng, đoạt được khẩu K59. Liền đó 2 anh thừa thắng xông ra chỗ tên gác cổng, nhưng không may, anh Rừng bị trúng đạn vỡ bụng chết tại chỗ, anh Hòa nhanh lẹ cầm khẩu K59 xông lên bắn tên gác cổng và bỏ chạy sau thu được khẩu AK 47 của hắn.
Bên trong, anh em nhất loạt vùng lên làm chủ tình thế vừa chiến đấu với bọn cai tù đang còn ngỡ ngàng vì không khí các ngày Tết khiến chúng vẫn còn buông lơi trong việc canh giữ tù.
Trong diễn biến đó, anh Be dũng cảm chiến đấu rất hiên ngang giữa ban ngày và được dân chúng chào đón như các người hùng trở về giải phóng người dân Bến Tre khỏi ách cộng sản sau tháng Tư đen 1975. Trong vụ phá ngục nầy còn có nhiều người hùng sát cánh cùng anh Be. 

Anh Be có dáng người nhỏ con, tính tình vui vẻ hòa đồng nhưng rất kiên cường và anh hùng khẳng khái, thời là trinh sát Bộ Binh, anh chỉ là hạ sĩ quan nhưng tinh thần quốc gia rất cao, sau khi miền Nam thất thủ anh cũng giữ nguyên khí khái, không hề chịu khuất phục bạo quyền. 
Sau khi giết chết tên Lấn (Giám thị trưởng khám lá Bến Tre), phá kho súng, anh không giết những tên cán bộ trại giam mà bắt chúng giam trở lại vào trong Phòng 5 nơi mà anh và các anh em khác vừa bị nhốt mới đây. Chủ ý của anh Be là tấn công địch nhằm mục đích sống còn và chiến thắng chớ không chịu rút lui và đầu hàng. 
Trong một trận quyết chiến với 1 tốp công an VC (dưới quyền chỉ huy của Trần văn Chiến tức Hai Chiến lúc ấy là trưởng ty công an Bến Tre) mấy ngày sau, anh Be bị bể một cánh vai và bị VC bắt sống. 
Viên đạn thù bắn trúng bả vai khiến anh bị vỡ một bên vai và sau lần ấy, anh Be và đồng đội bị bắt lại tại ngã tư Phú Khương, mang án chung thân với viên đạn thù vẫn còn nằm nguyên trong vai, máu mủ vẫn còn rỉ chảy cho tới ngày bị đưa ra A20. 

Sau chuyến phá ngục ấy, anh và đồng đội bị VC xử án chung thân năm 1980 ở Bến Tre và đến 1982 bị chuyển thẳng từ Bến Tre ra A20 Xuân Phước Phú Yên cùng với vụ của anh Mười và Hiếu tức MT Quốc Gia Liên Kết .

Vượt ngục ở A20


Nhóm vượt ngục lần nầy toàn là người của tỉnh Bến Tre cùng vụ anh Be, vừa mới chuyển ra A20 là anh em đã mau chóng toan tính tổ chức vượt ngục liền, vì tinh thần nầy các anh đã được hun đúc từ thời P5 của nhà giam tỉnh Bến Tre 2 năm trước, trong vụ nầy còn có Thiếu Úy Hải Quân VNCH Nguyễn văn Hiệp, vì kháng cự nên bị VC bắn chết tại chỗ, việc này lấp trong loạt diễn biến đầy sôi động và kiên cường của thuở đó nên ngày nay ít ai còn nhớ tới, nhắc tới. Trước 1975, Thiếu Úy Hiệp bị thương một bên mắt khi giao tranh với cộng quân. 
Trong nhóm vượt ngục từ Bến Tre, có Lê văn Hòa vốn được anh Lê Ngọc Vàng là người đỡ đầu cho (nghi thức rửa tội do Linh Mục Phạm hoàng Điềm thực hiện ngay trong nhà tù), và các anh đã hạ quyết tâm dù có bị đưa đi giam ở bất cứ nơi đâu cũng phải vượt ngục chứ không chịu thủ phận chờ ngày thả.

1982, lúc anh em Bến Tre vừa mới chuyển ra nên khi còn bị nhốt chung phòng, chính Triệu là người nhắc lại lời đồng tâm đã nguyện và khởi xướng lại quyết tâm vượt ngục, còn Hiệp đóng góp và phân tích, Tây –Nguyễn phương Tây, là Trung Úy địa phương quân QLVNCH- quyết định cưa song sắt. Lúc ấy, các anh đã cùng nhận định lợi dụng lúc mới chuyển ra này, nhà trại không kịp để ý thì tổ chức vượt ngục sẽ dễ dàng hơn bởi anh em e rằng sau khi ổn định tù nhân thì nhà trại có thể tổ chức lại và phân anh em ra tứ tán thì việc cùng chung lưng đâu cật rắp tâm vượt ngục sẽ khó hơn nhiều. Đây là việc cấp bách và hệ trọng bởi anh em ai cũng ý thức rằng, VC cực kỳ tàn ác, nếu chuyện vượt ngục bất thành thì coi như cầm chắc cái chết thảm khốc dưới bàn tay của lũ quỷ đỏ vô thần mất hết nhân tính. 
Nhân lúc ấy Lê văn Hòa được nhà trại phân công trực sinh đã cùng các anh em khác (cũng từ Bến Tre ra) âm thầm cưa song sắt. Khi đã phá được song sắt, anh em lợi dụng lúc nhà trại tổ chức bữa văn nghệ ngày Xuân, đã đồng loạt vượt ra. Hòa đi thoát. 
Anh Be, Triệu, Hiệp đều vượt rào thoát ra được khỏi trại, nhưng do vì toàn là những người sống quen với vùng đồng bằng sông nước Nam phần nên khi gặp rừng núi hiểm trở, lạ địa hình lại không thông thạo vì chưa ở đây lâu… cho nên các anh không biết đường đi thoát. Cả tuần lễ các anh cứ lẩn quẩn ở vùng núi gần quanh trại A20 chứ không đi xa được, phần vì bị đói nhiều ngày nên việc dò đường thoát đi của các anh thập phần khó khăn…

Cũng nên biết thời đó (7 năm sau khi miền Nam thất thủ) toàn quốc lâm vào cảnh đói kém chưa từng thấy do chính sách kinh tế Sô Viết quái đản ngăn sông cấm chợ mà tập đoàn cộng sản Hà Nội bê nguyên xi về Việt Nam áp dụng…đã khiến người dân sống quanh vùng Xuân Phước vốn đã nghèo nàn lạc hậu nay còn nghèo khổ hơn bội phần. Chỉ cần bọn quản giáo trại tù hứa cho 1 chiếc áo, quần hay 1 tấm chăn đắp thôi chứ chưa cần đem thực phẩm gạo thóc ra dụ, là họ cũng sẵn sàng hè nhau đi truy tìm tù nhân vượt ngục đem về nộp để lãnh thưởng. 
Khi bị phát hiện thì Hiệp bị bắn chết, Be, Triệu, Phương Tây bị bắt trở lại. Anh Tây trước đây bị kêu án 20 năm thì nay bị xử lên chung thân, Triệu 20 năm lên chung thân, anh Be trước đây chung thân nay lên tử hình.

Theo anh Lê Ngọc Vàng, năm 1990 khi anh bị chuyển ra A20 (từ trại tù Z30A Xuân Lộc) thì có gặp anh Triệu. Triệu có chỉ cho anh Vàng những cụm núi nằm trong vùng núi chung quanh trại A20 là nơi mà các anh cứ bị lẩn quẩn cả tuần mà không đi thoát được 8 năm trước. Triệu nhìn nhận chung thất bại nầy phần lớn do Triệu, bởi Triệu trước đây còn là học sinh, nhỏ tuổi, không kịp thích nghi với gian khổ cũng như không có kinh nghiệm địa hình địa vật…Triệu vốn là học trò của một người bạn (chung vụ với) anh Vàng ở huyện Ba Tri, Bến Tre 1977 (tức vụ Mặt Trận Dân Tộc Tự Quyết, bị bắt 1978, ra tòa 1982)

Thời các tổ chức kháng chiến phục quốc vùng Kiến Hòa (Bến Tre) còn có các anh hùng Lê văn Bé, Trần thị Bạch Phượng, ở Long An còn có anh hùng Nguyễn văn Te....thuộc MT Dân Tộc Tự Quyết, chúng tôi hy vọng sẽ dần bổ túc và tái hiện lại đầy đủ hình ảnh, nhân dáng của những lớp người tiền phong anh hùng này.


Ông Be


Anh Be là người trai rất hiền lành, khiêm tốn, khi nói hay cười, dáng nhỏ con với cặp mắt mí lót, da ngăm ngăm chứng tỏ con người rất lì lợm, gan dạ, anh chưa có gia đình, nhà nghèo và đơn chiếc, với tính tình dễ thương như thế, không ai có thể ghét anh được.

Theo những ký ức chưa phai mờ trong những người anh em cựu tù chính trị A20 đang còn ở trong nước cũng như đã vượt thoát ra hải ngoại thì anh Be sau khi bị bắt lại đã bị bọn cai tù VC ở A20 đánh đập dã man bởi tính khi can cường không chịu khất phục kẻ thù của anh. Chúng rất hèn hạ, đã ỷ thế lại còn dùng số đông đánh đập hành hạ một người tù thất thế. Khoảng 1 tuần sau chúng đem anh Be ra xử vội trong một “phiên tòa” ngay tại trại A20. Theo nhiều anh em thuở ấy cho biết, anh Be không thể có mặt vì gần như đã bất tỉnh bởi sự đánh đập, bỏ đói nhịn khát suốt mấy ngày hung hiểm đó, anh Be hầu như đã đi vào cõi hôn mê.
Án chúng hô xong là đem anh ra bắn ở cây me to mé trái lối mòn đi vào lô 17 (cây me này nay đã không còn sau hơn 30 năm…) vào một ngày tháng 2/ 1982. Các anh A20 cũng không quên chi tiết khi chúng bắn anh Be xong, bạn tù khiêng anh đi tẩm liệm và mai táng còn thấy rõ những vết đạn thủng trước ngực anh chẳng có rỉ máu ra bao nhiêu…như thể bọn cai tù đã hành hạ anh Be đến “hết máu” trong cơ thể!

Anh Be được chôn tại một khoảnh đất nhỏ ở chân đồi cách chỗ xử bắn chừng hơn 200 met. Mộ anh được đặt nông vội tạm ở kế một lạch nước nhỏ tuôn chảy xuống từ trên phía cao của ngọn đồi này, quanh đấy có rất nhiều hòn đá non vàng nhạt nhỏ to vô định hình do đó ngày ngày anh em bạn tù đi làm ngang qua lúc đi cũng như lúc về, chẳng ai bảo ai đều tự nguyện tìm một hòn đá quanh đấy mà đắp lên mộ. Vì các anh em tù A20 e rằng nếu không được đắp đá dần lên như thế thì theo thời gian tàn phá cộng với lạch nước chảy như thế sẽ khiến mộ anh Be rất dễ bị xói lở dẫn đến mất dấu hẳn. Chính nhờ việc làm có ý thức này lâu ngày thành một tập quán mà mộ anh Be mới còn có thể tồn tại đến ngày nay tuy tháng 5/ 2015 này khi chúng tôi đến cúng viếng anh, thì thấy phần nấm đất trên mộ cũng như sụt thấp xuống chứ không cao nhiều như thời 20 năm trước trong trí nhớ của các bạn tù A20.

Ngôi mộ thiêng của người anh hùng


Ngôi mộ thiêng anh Be nay ngập trong cỏ - tháng 5/2015

Cũng theo anh em A20, sau khi chết đi, anh Be rất thiêng. 
Rất nhiều tên quản giáo VC ngang ngạnh vô thần chẳng coi Trời Phật ra gì mà khi ngang qua mộ anh (trong những lần dẫn tù đi làm), chúng cũng tự nguyện tìm một hòn đá đắp lên mộ như bao nhiêu anh em bạn tù khác của anh Be. Sau này có tên tự kể lại rằng chúng đã từng bị anh “phạt” nặng tới nỗi chúng đã rất khiếp sợ mỗi khi đi ngang qua đây, và phải noi gương các anh em tù đắp đá lên mộ thì mới được yên thân.

Cựu A20 Phạm Văn Thành nhớ lại...: “năm 1994, tôi có lần được cho ra đội 12 tát ao bắt cá cho giám thị đem bán. Anh Phan văn Bàn chỉ về hướng một cây lớn, bảo "Mộ anh Be ở đấy! Rất linh! Công an, Cán bộ... đều né không muốn đi qua ...".
Buổi chiều tôi cố nài nỉ người sĩ quan võ trang canh tù nhưng bất thành. Y ta nói "ở đây có ngôi mộ lớn và đẹp, xây bằng đá ong ... của một vị lãnh tụ Phong Trào Cần Vương, anh có đến đấy thì đưọc, nhưng anh Be thì không ..." .
Tôi đã đến ngôi mộ của vị lãnh tụ Cần Vương ấy để đưọc nhìn gần hơn về mộ anh Be! Chỉ thấy bạt ngàn cỏ và cỏ ...”


Với anh em bạn tù thì mỗi khi ai bị đi lạc trong núi, cứ việc khấn nguyện “Ông Be” là y như rằng sẽ tìm được lối ra.

Kể từ tiếng linh thiêng của Ông Be, ngay cả bọn cai tù cũng phải gọi anh bằng Ông Be chứ nếu chỉ cần bọn chúng thất kính khi nói tới anh thì sẽ bị anh “phạt” nặng.
Từ sợ hãi dần dần chuyển sang mê tín. Chẳng ai ngờ bọn người tàn ác vô luân vô thần cộng sản, lại rất tin vào một linh hồn bị chúng giết chết oan uổng là anh Be…sẽ phù hộ cho chúng trúng vé số hay trúng số đề!!! Bọn quản giáo rất thường hay ra mộ anh nhang khói và cầu xin số đề khởi từ đó!

Thăm Mộ anh Be


Vào một ngày hè tháng 5/ 2015 nắng như đổ lửa ở cái vùng Phú Yên này, chúng tôi trực chỉ Xuân Phước sau khi ghé chợ Phước Lộc sắm sửa vài thức đơn sơ như nhang trầm, hoa, rượu và trái cây mang lên cúng mộ anh Be.
Chúng tôi chọn ngày Chủ Nhật để tránh mọi sự gặp gỡ ngoài ý muốn.
3km sau khi đi từ Chí Thạnh trực chỉ La Hai, đây là ngã ba Phụng Niên, cón cách La Hai 10km
Từ chợ Phước Lộc đi lên Xuân Phước

còn 6km
Ngã Ba đi A20...lên  Kỳ Lộ (rẽ phải)
Cách đây chừng hơn 4 tháng, chúng tôi cũng đã có viếng chớp nhoáng mộ anh Be dịp cận Tết Ất Mùi 2015.
Tuy mộ anh Be nay đã biến dạng khá nhiều so với bao năm qua nhưng vì mới đi thăm nên chúng tôi nhớ chỗ dừng thật chính xác, nếu không từng đi 4 tháng trước thì nay thật khó mà tìm ra vì cảnh vật đã đổi thay quá nhiều so với những mô tả của các anh cựu A20. 

nếu theo con đường đất mà đi thẳng quá điểm "4" thì sẽ vào phân trại B khi xưa (nay bọn chúng  đã dẹp bỏ B - C - D để làm một thủy điện nhỏ khoảng sau năm 2000)

Mộ anh Be không người chăm sóc cho nên cỏ mọc lút đầu rất khó nhìn thấy. Cái lạch nước nhỏ khi xưa nay đã không còn, chỉ nghe người địa phương nói lại rằng vào mùa mưa chính thức thì chỗ lạch nước ấy vẫn còn nước chảy xuống từ trên đồi cao nhưng mạch nước yếu và rất chóng khan khi mùa mưa dứt.


Khi đi hết khúc quanh ven theo ngọn đồi (trong ảnh có mũi tên xanh bên trên) thì tới mộ. Lần này chúng tôi khá ngạc nhiên khi thấy có 1 ngôi mộ đắp nấm đất sơ sài không bia nằm kế mộ anh Be… Vì mua theo 3 bó hoa nên chúng tôi mang qua “hàng xóm” 1 bó và thắp nhang cho bên đó nữa. 
Sở dĩ chúng tôi ngạc nhiên vì lần thăm mộ anh Be trước Tết Ất Mùi vừa rồi chúng tôi chưa thấy có ngôi mộ này. Sau cuộc Nổi Dậy lừng tiếng hồi tháng 10/1994 của hàng trăm tù chính trị A20, tà quyền Hanoi đã vội vã dời hết tù chính trị ra Đầm Đùn Thanh Hóa. Từ đó tới giờ, A20 chỉ là trại tù hình sự nên có lẽ đây là nơi an nghỉ của 1 tù nhân hình sự xấu số mới vừa tạ thế. 
Trên đường đi vào mộ, chúng tôi có gặp 1, 2 tù nhân (mặc bộ đồ sọc tù) chăn bò đi tha thẩn trên lối đường đất lên lô 17 này.

Giữa khung cảnh núi đồi nắng cháy hoang sơ cỏ lá của Thung Lũng Tử Thần…chúng tôi như quên đi cái nắng như thiêu hơn 400C khắc nghiệt ngoài trời, để chỉ còn nghe nỗi tràn dâng xúc động từ tim mình, chúng tôi như thấy rõ nét người tù Phạm Văn Be anh dũng ngày nào, dễ mến nhưng kiên cường vượt ngục chứ không chịu tù đày trong vòng giam nghiệt ác của giặc cộng. 
Trong ban trưa lặng lẽ, anh em chúng tôi người cắm hoa vào bình, người rót rượu ra ly, người thắp nhang, người bày dăm quả trái cây đơn sơ ra dĩa để thực hiện nghi lễ thiêng liêng trước phần mộ anh Be.

Phần Mộ: Phan Văn Be / Năm Sinh 1952 / Sinh Quán: Bến Tre / Tử: tháng 2 – 1982 (không rõ ngày) / Lập Bia: T V A20

Trong tâm cảnh thiêng liêng rợn người giữa một bên là Thung Lũng Tử Thần, một bên là mộ anh Be, chúng tôi đã đồng lòng khấn như sau:

“Kính anh Be

Hôm nay anh em chúng tôi có chút lòng thành đến kính viếng hương hồn anh, cầu mong anh chóng siêu thoát về miền tịnh độ, cầu anh sống khôn thác thiêng xin anh phù trì ủng hộ cho quốc thái dân an, đất nước sớm thoát ách bạo tàn cộng sản, cầu anh phù hộ cho công cuộc của anh em quốc gia đang trực diện đấu tranh gạt bỏ bạo quyền…được an toàn, hanh thông và mau chóng dễ dàng thành tựu mọi sự.”
“Xin hồn anh linh thiêng về hỗ trợ cho anh em Nhóm Cựu Tù A20 gặp được nhiều thuận lợi và đồng tình của đồng bào còn tha thiết với tiền đồ của quê hương xứ sở…
Khi đại cuộc viên thành, Chúng tôi nguyện sẽ dựng lại ngôi mộ anh thành một nơi trang nghiêm kỳ vỹ để vừa làm nơi chiêm bái cho các lớp hậu duệ mai hậu, vừa làm một chứng tích trước công luận về sự tà mỵ, độc ác của bạo quyền cộng sản Hà Nội bán nước hại dân”


Sau nghi thức tưởng niệm và khấn nguyện anh Be như trên, chúng tôi quay về mà lòng ngậm ngùi khôn nguôi trong cái nắng cháy nung người giữa hè 2015 miền trung Vietnam.


ANH HÙNG PHẠM VĂN BE .
Nhóm Thư Viện Phạm Văn Thành, Vietnam tháng 5/2015

©TV PVT 2015



*: Admin chú thích (31/5/2015): anh Lê Ngọc Vàng, một trong những nhân lực chủ chốt của Mặt Trận Dân Tộc Tự Quyết, bị bắt 1978, ra tòa 1982, sắp có bài Bút Ký trên trang Thư Viện Phạm Văn Thành ngày mai, mong bạn đọc đón theo dõi.
https://buonvuidoilinh.wordpress.com/2012/11/18/tran-do-cam-tran-lang-vei/

Tuesday, April 24, 2018

căn cứ hỏa lực bastogne

https://hoiquanphidung.com/showthread.php?12947