Thursday, March 15, 2012

Tiên Lãng và Nguyễn Mạnh Tường

Phạm Hồng Sơn
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1996), trong một phiên họp của Mặt trận Tổ quốc tại Hà Nội vào ngày 30/10/1956, đã có bài diễn văn phê bình Cải cách Ruộng đất (CCRĐ) và chính sách xử lý, sửa sai CCRĐ của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN, lúc đó có tên là Đảng Lao động Việt Nam).
Đề cập cụ thể tới biến cố CCRĐ, nhưng Nguyễn Mạnh Tường không sa vào các chi tiết, vấn đề cục bộ. Ngay từ đầu, không hề úp mở, Nguyễn Mạnh Tường đã chẩn đoán xác định trách nhiệm cao nhất về CCRĐ nằm ở sự lãnh đạo của ĐCSVN, ông nói:
Chủ yếu tôi sẽ phê phán và truy nguyên các sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, nhưng theo ý tôi các sai lầm này chỉ là biểu hiện điển hình và bi đát nhất của những thiếu sót trong sự lãnh đạo của Đảng Lao động…
Tại sao tôi lại tin như vậy? Là vì, không những trong Cải cách Ruộng đất chúng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng mà cả trong nhiều khu vực khác nữa. Trong các khu vực này, sai lầm cũng đã đưa một số người trong quần chúng đến cái chết thê thảm. Do đó, nếu chỉ cục bộ hóa các sai lầm, chúng ta không thể rút được bài học kinh nghiệm.
Có thể do hiểu được tâm lý e ngại của cử tọa khi động chạm tới ĐCSVN, ông lại mạnh mẽ nêu rõ trách nhiệm đó một lần nữa: “các sai lầm ta đã mắc trong cuộc Cải cách Ruộng đất này chỉ là những biểu hiện cực độ của các sai lầm ta đã phạm, và các sai lầm ấy nêu lên, như tôi trình bày trên đây, một vấn đề cực kỳ quan trọng là vấn đề lãnh đạo của Đảng Lao động.
Sau khi xác định rõ trách nhiệm cao nhất về CCRĐ phải thuộc giới lãnh đạo của ĐCSVN, Nguyễn Mạnh Tường đề cập tới các sai lầm có tính kỹ thuật trong CCRĐ, đó là vấn đề pháp lý, đúng hơn là sự bất chấp pháp lý, coi khinh pháp luật của những người thực hiện CCRĐ. Với một sự chân thành tha thiết Nguyễn Mạnh Tường như muốn dốc hết những kiến thức cơ bản về pháp luật để thuyết phục cử tọa:
Tôi xin phép nhắc tóm tắt sau đây các nguyên tắc căn bản mà pháp lý nêu lên để đạt mục đích ấy.
…Một nguyên tắc thứ ba là muốn kết án một người phải có bằng chứng xác đáng. Phải có nhân chứng là những kẻ đã mục kích sự phạm pháp và cung khai một cách cụ thể, rõ ràng, chắc chắn. Một nhân chứng thôi chưa đủ, ít ra cũng phải có hai nhân chứng cung khai phù hợp với nhau mới được coi là đáng kể. Cung khai của các nhân chứng phải ăn khớp với nhau và trong quá trình phạm pháp các tang vật thu được phải có tác dụng hợp lý, sát hợp với kết quả do cuộc điều tra mang lại.
Một nguyên tắc thứ tư là thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị tố nhân. Bị tố nhân có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình, và khi thiếu điều kiện nhờ luật sư, khi nào là một trọng tội, Tòa phải cử luật sư bào chữa không, cho bị can. Trong tất cả, giai đoạn điều tra ở trình độ công an thẩm vấn trong phòng dự thẩm, buộc tội trước tòa, quyền lợi của công tố viện ngang với quyền lợi bị can, nghĩa là nếu công tố viện đưa hết lý lẽ để buộc tội, bị can đưa hết lý lẽ để minh oan. Cuộc đấu lý diễn ra trong tất cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử giữa công tố viện và luật sư. Các vị thẩm phán ngồi xét xử phải là vô tư, đứng giữa để theo rõi cuộc đấu lý diễn ra dưới mắt mình. Như thế mới nhận định đúng và xử công minh. Toà án xét xử không chịu lệnh của ai trong khi xét xử, chỉ biết xét xử theo lương tâm của mình và căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ, sau khi nghe hai tiếng chuông buộc tội và gỡ tội. Người thẩm phán phải được đủ đảm bảo để làm nhiệm vụ của mình mà không sợ ai khiển trách hay gây khó khăn cho mình được. Khi điều tra thẩm vấn, tuyệt đối cấm không được dùng phương pháp tra khảo, đánh đập, hành hạ bị can, mớm cung cho bị can, dọa nạt hay dụ dỗ hắn. Khi nào có điều nghi ngờ thì bị can được miễn nghị. Nếu bị kết án thì còn quyền chống án lên tòa trên. Nếu bị kết án tử hình thì lại còn quyền xin ân giảm trước vị Chủ tịch Chính phủ. Con người của bị can, trong tất cả quá trình truy tố và xét xử phải được tôn trọng triệt để, khi bị can ra trước tòa thì không được xiềng xích họ và không lúc nào được dùng nhục hình đối xử với họ.
Theo một nguyên tắc căn bản, không phải vì một người tác hại cho một người khác mà người ấy phải chịu trách nhiệm trước hình luật. Tác hại cho ai thì chỉ nêu trách nhiệm về phương diện dân sự, nghĩa là bồi thường thôi — của người đã tác hại. Muốn truy tố người ấy để thi hành hình luật đối với hắn thì phải chứng minh rằng hắn phạm một tội, nghĩa là phạm vào một điều khoản nào qui định trong hình luật, và hình luật không bao giờ có tác dụng đối với quá khứ cả: nếu hành động của một người diễn ra trong thời kỳ mà hình luật chưa quan niệm là một tội thì người ấy không thể mang ra truy tố được. Không những bị can phải phạm một tội đã qui định rồi trong pháp luật, mà ta lại còn phải xét xem rằng lúc phạm tội ấy bị can có ý thức, có ý chí phạm pháp hay không, hay là vô tình mà phạm pháp. Sự đối xử trong hai trường hợp ấy khác nhau…
Không dừng lại ở những sai phạm kỹ thuật pháp lý, điều mà có thể nhiều lãnh đạo cao cấp của ĐCSVN lúc đó không phải không biết, Nguyễn Mạnh Tường đã chỉ thẳng vào sai phạm cốt lõi của hệ thống chính trị là tính chất phi dân chủ hay dân chủ giả hiệu. Với con mắt của nhà luật học từ quê hương của Montesquieu, Nguyễn Mạnh Tường đã điểm từng bộ phận giả trong hai nhánh hành pháp, lập pháp của chính thể “dân chủ cộng hòa” giả hiệu, đồng thời kèm theo những lý lẽ chặn trước những bao biện có thể:
Chính thể ta thiếu dân chủ như thế nào, ta đã từng biết. Vai trò của các vị Bộ và Thứ trưởng ngoài Đảng như thế nào, các vị đó làm được những gì trong Hội đồng chính phủ, trong các ngành chuyên môn mà các vị ấy phụ trách, ta không nên đi quá sâu. Ta chỉ cần liếc mắt nhìn qua công việc làm trong mỗi Bộ, ta chỉ cần nghe tiếng than phiền của các cán bộ, công chức làm việc trong các Bộ là ta hiểu. Ta cũng biết rằng chủ trương của Đảng có lẽ không phải như vậy đâu, nhưng trong thực tế công tác, mỗi anh em ta tiếp xúc với các vị Bộ hay Thứ trưởng ngoài Đảng, đều nhận thấy rằng quyền hành của các vị ấy hình như không phải là quan trọng cho lắm. Nhận định như vậy có lẽ ta lầm đấy. Nhất định ta lầm. Nhưng dù sao có “dư luận” không ai chối cãi được. Do đó, nếu chủ trương của Đảng không phải như vậy thì ít ra Đảng cũng mang trách nhiệm không làm thế nào để tiêu tan cái dư luận tai hại mà chúng ta thấy tồn tại từ thời kỳ kháng chiến đến giờ. Nhưng cũng có điều chắc chắn không ai chối cãi được, là các vị Bộ hay Thứ trưởng không có trách nhiệm gì trước Quốc hội, trước nhân dân, chỉ có trách nhiệm trước Chính phủ mà thôi. Chưa bao giờ ta thấy vị Bộ truởng nào bị lật đổ cả. Phải đợi đến các sai lầm đặc biệt nghiêm trọng trong Cải cách mới thấy hai vị Thứ trưởng phải rút lui khỏi Hội đồng Chính phủ. Các hiện tượng ấy chứng tỏ rằng Chính phủ ta chưa thực hiện được dân chủ trong khi lập Hội đồng Chính phủ, vì các vị Bộ hay Thứ trưởng đều được cử hay bị truất, ngoài sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp (qua Quốc hội) của quần chúng.
Tình trạng của Quốc hội lại rõ hơn nữa. Mười năm Quốc hội đã thành lập. Các vị đại biểu Quốc hội còn phản ảnh được ý nguyện của quần chúng không, quần chúng có tín nhiệm ở Quốc hội nữa không, đó là một vấn đề. Nhưng dù vấn đề ấy ta giải quyết như thế nào đi nữa, có một điều chắc chắn là một Quốc hội già 10 năm rồi mà vẫn tồn tại ngoài sự can thiệp của quần chúng, sự lựa chọn của quần chúng, chứng minh rằng quần chúng 10 năm nay đã bị truất quyền cử đại biểu của mình rồi. Dĩ nhiên trong thời kỳ kháng chiến, bầu lại Quốc hội là một điều không làm được. Và hiện thời, Nam-Bắc bị tạm chia cắt, do đó sự bầu lại toàn thể Quốc hội cũng là khó khăn. Nhưng dù sao riêng ở các miền giải phóng này, nếu ta chú ý đến quyền người dân cử đại biểu của họ thì nhất định ta phải cho phép người dân bỏ phiếu rồi. Từ khi hòa bình trở lại, 2 năm đã qua, mãi bây giờ trước phong trào quần chúng đòi thực hiện dân chủ, ta mới nghĩ đến quyền bỏ phiếu của người dân và bổ sung Quốc hội.
Nào có thế thôi đâu? Ngay cái Quốc hội ta đang có hiện thời, ta có thực hiện dân chủ với nó không? Chắc chắn là không. Thỉnh thoảng ta mới họp Quốc hội, và trong các buổi họp đó ta chỉ thấy Chính phủ đưa ra các báo cáo để Quốc hội nghiên cứu, xây dựng, hay các chính sách để Quốc hội tán thành và bổ khuyết. Quyền lập pháp của Quốc hội ở đâu? Quyền đề ra đường lối, chủ trương trong nội trị, ngoại giao, quyền nêu trách nhiệm của Chính phủ và các Bộ, quyền lựa chọn nhân viên trong Hội đồng Chính phủ, bấy nhiêu quyền, Quốc hội có được hưởng dụng không? Dư luận quần chúng quan niệm rằng Quốc hội chỉ có quyền thông qua các chính sách mà thôi. Còn như các sắc lệnh hay đạo luật thì thường thường, quyền thông qua ấy chỉ thuộc ban Thường trực của Quốc hội. Nếu Quốc hội là tổ chức cao nhất của quần chúng, đại diện cho quần chúng, thì ta phải khách quan nhận thấy rằng, với vai trò vô cùng yếu ớt của Quốc hội hiện thời, quyền dân chủ của quần chúng không được thực hiện.
Về Mặt trận Tổ quốc, theo ngôn ngữ ngày nay, là một tổ chức dân sự mẹ của mọi tổ chức dân sự khác, Nguyễn Mạnh Tường đã vạch thẳng ra ý đồ của ĐCSVN chỉ muốn cái tổ chức dân sự đó đóng vai trò làm fan, làm đẹp cho Đảng:
Ta thấy khó chịu khi nó thỏ thẻ —chỉ thỏ thẻ thôi— những lời làm ta một phút chốc tỉnh giấc mộng chủ quan mà ta trong cấp lãnh đạo đang say sưa. Vì vậy ta chỉ thường cho phép nó, chỉ khuyến khích nó phụ họa ta, tán đồng ta với thái độ của đứa con khen hay khi mẹ nó hát.
Là một trí thức đầy uy tín về cả chuyên môn lẫn tư cách, lại đang được ĐCSVN rất quan tâm, dành cho nhiều ưu ái, nhưng không vì thế mà Nguyễn Mạnh Tường im lặng trước thực trạng  giới trí thức bị hắt hủi, bị biến thành nô lệ, thành công cụ cho quyền lực của ĐCSVN. Chân tình và chua xót, ông giãi bày:
Đại đa số các anh em trí thức nói chung, không mơ ước các cương vị, công tác lộng lẫy đâu, họ vui lòng nhường chỗ cho các nhà chính trị, các đảng viên. Họ chỉ thiết tha đòi hỏi được mang khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của họ ra phục vụ nhân dân mà thôi. Họ chỉ thiết tha mong muốn được bảo toàn danh dự trí thức của họ và cái tự do tư tưởng mà họ quan niệm là cần thiết cho nhân phẩm của người trí thức mà thôi. Họ đã từng nghe thấy Đảng tuyên bố: Người trí thức là vốn quí của dân tộc. Nhưng họ cảm thấy vốn ấy quí quá đến nỗi phải cất nó đi thật kỹ, giữ gìn nó trong một bán ảnh, một hoàng hôn trường cửu. Nếu có ai cho rằng tôi nói không đúng, tôi cứ đề nghị người ấy quay mặt nhìn chung quanh, ở các cương vị công tác trong chính thể của ta. Có một chỗ nào mà người trí thức ngoài Đảng nắm được thực quyền không? Tác dụng “hiếu hỉ” hay “cười gật” thì có, mà lại có nhiều. Nhưng ngay ở các cương vị ấy, ngoài vai trò hiếu hỉ, cười gật, người trí thức có một trách nhiệm gì không, có quyền nói gì làm gì không, quần chúng đã biết và miễn tôi giả nhời.
Các biện pháp sửa sai CCRĐ có tính đối phó, mỵ dân, trốn tội có thể làm hài lòng, thậm chí nức lòng nhiều người nhưng đối với một người yêu nước nồng nàn lại am tường chính trị thì không thể. Nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, Nguyễn Mạnh Tường yêu cầu phải sửa lại toàn bộ tinh thần và qui trình sửa sai:
Đảng Lao động và chính phủ có nhận thấy cần thiết, trong chính sách sửa chữa các sai lầm trong Cải cách, phải “tăng cường chế độ pháp trị” của ta. Tôi e rằng trong tư tưởng lãnh đạo, sự nhận thức về vấn đề pháp trị chưa được rõ và đầy đủ. Chính trị vẫn coi pháp luật như một “bà con nghèo”. Chữ “tăng cường” là một chứng minh. Tuy rằng trong nước ta có một Bộ Tư pháp, có các toà án, có luật lệ, nhưng chế độ pháp trị hầu như không có. Đó là một điều tôi sẽ nghiên cứu sâu sắc hơn khi nào tôi trình bày ý kiến về chế độ pháp trị, một chế độ pháp trị chân chính. Theo ý tôi, thì vấn đề không phải là tăng cường mà là xây dựng.
Một chứng minh khác trong chính sách Sửa sai trong Cải cách này, tôi vẫn thấy chính trị lấn áp pháp lý. Trước hết bức thư của ông Hồ Viết Thắng tự phê bình và xin rút lui khỏi Mặt trận Trung ương chỉ là một giải pháp chính trị mà thôi. Trong cuộc mạn đàm với các vị đại biểu đến họp hội nghị này, tôi nhận thấy không ai “thông” về ý kiến và biện pháp ông Hồ Viết Thắng trình bày cả. Riêng về phần tôi là một nhà luật học, tôi chưa thể nào nhận định được trách nhiệm của ông Thắng. Có thể trách nhiệm của ông ấy rất lớn, có thể rất nhỏ. Đứng trên tinh thần pháp lý, sự nhận tội lỗi của một người không đủ để qui định trách nhiệm của người ấy. Trong Cải cách, khi những đảng viên ưu tú bị đoàn Cải cách gán cho là phản động, ra trước nhân dân, có người cũng nhận tội trong khi biết là mình oan. Ta nên rút kinh nghiệm vừa qua, sửa sai không phải là phạm các sai lầm khác.
Do đó, đứng trên một lập trường pháp trị chân chính, tôi đề nghị phải lập một ủy ban điều tra gồm các vị đại biểu Quốc hội, Mặt trận, Đảng Lao động với sự cộng tác của các vị thẩm phán cao cấp, giàu kinh nghiệm để lập một hồ sơ theo phương pháp pháp lý đã nhận định, trên quá trình đi từ lãnh đạo qua chỉ đạo đến chỗ thực hiện chính sách, trách nhiệm ở chỗ nào và do những ai phải chịu. Sau khi kết thúc cuộc điều tra, ủy ban ấy sẽ phân tách trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý. Ai chịu trách nhiệm chính trị sẽ trả lời trước Quốc hội biến thành Toà án tối cao. Ai chịu trách nhiệm pháp lý sẽ trả lời trước các tòa án tư pháp. Dưới con mắt của quần chúng theo dõi xây dựng cuộc điều tra và xét xử, công lý phát huy, không còn ai thắc mắc nữa.”
Rất hệ thống, hàn lâm và quyết liệt trong việc truy nguyên sai phạm nhưng khi đề cập tới giải pháp, Nguyễn Mạnh Tường lại rất thực tế, dung dị, nhưng vẫn nền tảng, chỉ nêu ra ba vấn đề cấp thiết nhằm thực hiện một “yêu cầu thiết tha nhất hiện thời của quần chúng là được phản ảnh lên ý nguyện của mình”. Một trong ba vấn đề cấp thiết đó là “Một chế độ tự do ngôn luận, xuất bản báo chí.” Đó là lối tiếp cận giải quyết, nói theo Fareed Zakaria, có tính Dân chủ Tự do (liberal democracy), vừa kinh điển kiểu Thomas Jefferson, vừa dân tộc kiểu Phan Chu Trinh và lại rất toàn cầu hóa.
Bài diễn văn kết thúc với những ngôn từ thường có ở một nhân cách lớn: “Các ý kiến của tôi, dù sai hay đúng, tôi cứ thành khẩn đề đạt lên các vị, gọi là để góp phần vào hội nghị, một phần nhỏ mọn nhưng chan chứa một niềm hi vọng và tin tưởng vô biên ở tương lai của đất nước.
Người đọc diễn văn sau đó đã bị cầm cố cho đến tận cuối đời. Và hơn 55 năm sau khi bài diễn văn vang lên ở Hà Nội, một biến cố về đất đai lại xảy ra ở Tiên Lãng.
Biến cố Tiên Lãng so với Cải cách Ruộng đất –“cách mạng long trời lở đất” (chữ của Hồ Chí Minh) – chỉ như một giọt nước độc trong một hồ nước độc. Nhưng cả hai đều cùng chung một cái nền sinh ra chất độc. Lớp trên của cái nền đó là chính sách (luật) về đất đai, còn lớp dưới cùng là hệ thống chính trị phi dân chủ do ĐCSVN nắm giữ. Để thay hay sửa cái nền đó không thể là việc đơn giản hay không nguy hiểm. Nhưng nếu muốn nước sạch thì không thể vì sự phức tạp hay nguy hiểm mà lại cho rằng không có hay quên đi cái nền độc tính đó.
Bài đăng ngày 29.2.2012
© 2012 pro&contra

Wednesday, March 14, 2012

Quân lực Việt Nam Cộng Hoà: 1968-1975
 -Bill Laurie – March 18, 2006. Nguyễn Tiến Việt dịch thuật -



Lời người dịch: Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và nhân chứng được mời tŕnh bày quan điểm trong cuộc hội thảo mang tên “Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà: Suy ngẫm và tái thẩm định sau 30 năm” (ARVN: Reflections and reassessments after 30 years) do Trung Tâm Việt Nam thuộc đại học Texas Tech tổ chức tại Lubbock trong hai ngày 17 và 18 tháng 3 năm 2006.
Trong số nhiều diễn giả Việt Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm trung thực và thẳng thắn nhất của riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên viên t́nh báo cao cấp trong nhiều năm, song song với những ư kiến không quanh co che đạy về giới truyền thông và chính trị Hoa Kỳ trong thời chiến tranh tại Việt Nam. Bài này dịch thuật nguyên văn bài viết của Bill Laurie, mà ông dùng để tŕnh bày lại, vắn tắt hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie gửi tặng bài viết cho dịch giả, cho phép được dịch và phổ biến trong giới truyền thông Việt ngữ.
Trong bản dịch dưới đây, những chữ in nghiêng trong ngoặc đơn là chú thích thêm của người dịch để làm rơ nghĩa câu văn Mỹ của tác giả, những chữ in đậm là nguyên văn tiếng Việt mà tác giả viết trong tài liệu. Hình ảnh lấy từ website của Trung tâm Việt Nam, Lubbock, Texas.
QLVNCH thay đổi một cách đáng kể cả về số lượng lẫn phẩm chất trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1975. Sự thay đổi không hề được giới truyền thông tin tức (Hoa Kỳ) lưu ý, và nhìn chung thì đến nay vẫn không được công chúng Mỹ biết đến, vẫn không được nhận chân và mô tả đầy đủ trong nhiều cuốn sách tự coi là “sách sử”. Một phần nguyên nhân của sự kiện này là do bản chất và tầm mức của sự thay đổi không dễ được tiên đoán hay tiên kiến, dựa trên hiệu quả hoạt động và khả năng của QLVNCH trước năm 1968.

   Bài này không hề muốn chối bỏ những vấn đề nghiêm trọng đă hiện hữu, hay chối bỏ rằng vấn đề tham nhũng, lănh đạo kém cỏi không tiếp tục gây hoạ cho khả năng của QLVNCH bảo vệ đất nước họ. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó những vấn đề này có được giải quyết, và những khía cạnh tích cực của QLVNCH không thể bị xóa khỏi trang lịch sử vinh quang.
   Tôi đă tự chứng nghiệm điều này, khi đến Việt Nam cuối năm 1971, phục vụ 1 năm tại MACV, rồi sau đó trở lại thêm hai năm, từ 1973-1975, làm việc ở pḥng Tuỳ viên quân sự.

   Khởi thủy, được huấn luyện và dự trù phục vụ như một cố vấn, tôi tham dự khoá huấn luyện căn bản sĩ quan lục quân tại Fort Benning, Georgia, Tình báo chiến thuật và chuyên biệt về Đông nam Á ở Ft. Holabird, Maryland, và học trường Việt ngữ tại Ft. Bliss, Texas. Tới Việt Nam thì được biết những nhiệm vụ cố vấn đang được giảm dần để đi đến chỗ bỏ hẳn; nên thay vào đó tôi được chỉ định vào MACV J-2 với cương vị một chuyên viên phân tích tình báo, trước hết phụ trách Cambodia, rồi tập trung vào Quân Khu IV, bao quát toàn vùng đồng bằng châu thổ sông Mekong. Công việc này mở rộng một cách không chính thức để bao gồm công tác liên lạc giữa bộ Tổng tham mưu QLVNCH, các toán cố vấn Mỹ, các chính quyền tỉnh của Việt Nam, và cả các đon vị QLVNCH ở vùng IV. Trong 3 năm đó tôi có mặt lúc chỗ này, lúc chỗ khác, trên khắp 18 trong số 44 tỉnh của VNCH, liên lạc không những với các đơn vị Mỹ và VNCH mà cả với người Úc, cơ quan vịên trợ Mỹ USAID, và CIA. Khi thì đứng vào vị trí rất cao cấp trong những buổi thuyết tŕnh ở tổng hành dinh của MACV cũng như ở bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, tuần lễ sau đó tôi có thể đă lội trên những ruộng lúa tỉnh Kiến Phong cùng với các binh sĩ Địa phương quân, hay bay ngang tỉnh Định Tường trên một chiếc trực thăng Huey của QLVNCH, hoặc là nằm trong căn cứ Biệt động Quân Trà Cú bên sông Vàm Cỏ Đông.

   Nói tiếng Việt là điều vô cùng quan trọng, và trong ṿòng một tháng sau khi tói Việt Nam, thật rơ ràng hiển nhiên là những điều tôi từng nghe ở Mỹ, dù là tin tức báo chí hay là những cuộc thảo luận ngốc nghếch trong các trường đại học, mà có thể diễn tả được những ǵì tôi đang trải qua và gặp phải. Nói vắn tắt, tôi tự hỏi “Nếu tất cả những người ở Mỹ quả là đang nói về Việt Nam, thì ḿnh đang ở nơi nào đây ?”
   Những thời khắc ngoài giờ làm việc của tôi được dàn trải trọn vẹn trong một kích thước thực tế hoàn toàn Việt Nam. Dù là ở Sài Gon, Cao Lãnh, hay Rạch Giá, tôi cũng lui tới những cái quán nhỏ, với những bàn cà-phê, mì, cháo... háo hức lắng nghe người dân người lính Việt Nam nói chuyện, tôi hỏi han, và học được thật nhiều, nhiều hơn những gì tôi từng học ở Hoa Kỳ.
 
   Sự học tập của tôi không dừng lại ở năm 1975. Từ đó đến nay tôi đă đọc hằng feet khối những tài liệu giải mật và hằng trăm cuốn sách, kể cả những tác phẩm tiếng Việt, phỏng vấn đến mức từ kỷ lục này qua kỷ lục nọ những người cựu chiến binh gốc Đông Nam Á và gốc Hoa Kỳ, săn tìm trong hằng trăm trang web Việt Nam và Đông nam Á trên Internet. Vẫn còn rất nhiều điều về Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan hơn là những gì công chúng Hoa Kỳ tưởng, và những kết luận do những người ở những xứ ấy tự trình bày lên thì lại không phù hợp với những gì mà hầu hết mọi con người (ở Mỹ) tưởng là họ biết.
   Quả là có những vấn đề nghiêm trọng về tham nhũng. Đúng là có những tấm gương về lănh đạo bất xứng. Tuy nhiên, chẳng phải ai nói hay gợi ý gì với tôi, mà chính là ngay lần đầu tiên đến vói Sư đoàn 9 bô binh VNCH, tôi đã phát giác khả năng dày dạn và đầy chuyên nghiệp trong những hoạt động mà tôi chứng kiến ở một trung tâm hoả lực cấp sư đoàn. Cũng chẳng ai nói với tôi là Sư đoàn 7 bộ binh VNCH, cái đơn vị mãi bị kết tội vì khả năng chiến đấu kém cỏi ở Ấp Bắc nhiều năm trước, đă biến thái thành một đơn vị có hiệu năng chiến đấu cao dưới tài lănh đạo chỉ huy của tướng Nguyễn Khoa Nam, một con người thanh liêm không một tì vết, song song với tài năng về chiến thuật, mà đến nay vẫn không hề được công chúng Hoa Kỳ biết tới, tuy đă được người Việt Nam tôn sùng đúng mức. Cũng không hề có ai ngụ ý hay nói với tôi rằng có thể là lực lượng Địa phương quân tỉnh Hậu Nghĩa, là những dân quân của tỉnh, đă làm mất mặt chẳng những một mà tới ba trung đoàn chính quy của quân đội miền Bắc trong chiến dịch tấn công năm 1972 của Hà Nội. Họ đă nhai nát và nhổ phun ra nguyên cả lực lượng tấn kích của đối phương, một lực lượng có thể đă làm đổi chiều lịch sử vào thời kỳ đó. Địa phương quân không được pháo binh và không quân sẵn sàng yểm trợ như lực lượng chính quy VNCH, trong đó kể cả Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Thuỷ quân lục chiến. Quân địa phương chỉ dựa vào kỹ thuật chiến đấu căn bản bộ binh. Nếu quân Bắc Việt đánh thủng được chiến tuyến này thì họ đă lập tức trực tiếp đe doạ Sài Gòn, chỉ cách đó 25 dặm, buộc sư đoàn 21 bộ binh VNCH phải rút khỏi quốc lộ 13, từ đó để cho lực lượng Bắc Việt hướng thẳng vào An Lộc. Và như tiến sĩ James H.Willbanks viết trong tác phẩm xuất sắc của ông (về trận An Lộc), Sư đoàn 21 tuy không thành công trong việc phá vòng vây An Lộc nhưng cũng đă buộc Bắc Việt phải đưa một sư đoàn đổi hướng khỏi chiến truờng An Lộc, nếu không, nơi này có thể đă sụp đổ với những hậu quả khốc liệt.
   Nói vắn tắt, QLVNCH, một cách toàn diện, đă có khả năng cao hơn nhiều so với những gì tôi biết trước khi tôi qua Việt Nam, và càng cao hơn nhiều so với những gì được chuyển tới cho người dân Mỹ. Ngày trước... và ngày nay cũng vậy.

   Trở lại thời kỳ đang thảo luận trong bản thuyết tŕnh này, ai cũng biết QLVNCH vướng mắc nhiều vấn đề trầm trọng. Điều này là hiển nhiên. Nếu không như vậy thì đă chẳng cần phải yêu cầu những đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ, Úc, Nam Hàn, Thái Lan và New Zealand tới đó.
 
Tuy nhiên, còn có những chỉ dấu cho thấy lực lượng VNCH khi được trang bị đúng mức và chỉ huy tốt đẹp thì sẽ có khả năng tới đâu. Năm 1966 một tiểu đoàn Biệt động quân VNCH đă gây thiệt hại nặng và đă “giúp” giảm quân số chỉ còn 1 phần 10 cho một trung đoàn Bắc Việt đông gấp ba lần họ ở Thạch Trụ. Tiểu đoàn này được Tổng Thống Johnson tặng thưởng “Huy chương của Tổng Thống Hoa Kỳ”. Đại Úy Bobby Jackson, cố vấn tiểu đoàn này, đă mô tả người đối tác của ông, đại úy Nguyễn Văn Chinh (hay Chính?), như là con người tuyệt nhiên không hề sợ hăi. Tiểu đoàn 2 TQLC, mang huy hiệu Trâu Điên, đă từng bắt nạt nhiều đơn vị cộng sản miền nam và chính quy Bắc Việt, chứng tỏ sự xứng hợp của huy hiệu trâu điên (càng có ư nghĩa đối với những ai đă từng gặp phải một con trâu đang nổi giận (và bị nó ăn hiếp!) Công trạng của họ không hề được tường tŕnh trong giới truyền thông tin tức của Hoa Kỳ, và về sau cũng bị bỏ quên trong cái gọi là “lịch sử”...

   Năm 1968, trong bối cảnh cuộc tổng công kích 68 thất bại của Hà Nội, các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ thấy rơ là kế hoạch Việt Nam hoá phải được tăng tiến, nhưng nhiều người (Mỹ) lại lầm tưởng đó là ranh giới giữa hai thời kỳ, thời kỳ QLVNCH không chiến đấu, và bây giờ là lúc họ bắt đầu chiến đấu. Thái độ này đă bỏ quên dữ kiện là mức tử vong vì chiến sự hằng tháng của QLVNCH đă vượt xa mức tổn thất trong toàn cuộc chiến của tất cả các lực lượng đồng minh cộng lại.
   Rốt cuộc thì QLVNCH cũng được cung cấp vũ khí tối tân, thay thế những trang bị thời thế chiến thứ hai mà hầu hết quân lực này phải sử dụng (khoảng đầu năm 1968 chỉ có 5% quân đội VNCH được trang bị súng M16), nhìn chung thì thua kém vũ khí của Việt cộng và bộ đội Bắc Việt. Đồng thời, quân số cũng tăng tiến, theo như bảng dưới đây trrình bày:
   (bảng ghi những con số gia tăng quân số của các lực lượng chính quy và Địa phương quân, Nghĩa quân, từ năm 1968 đến năm 1972, cho thấy quân số tổng cộng tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1 trịêu 48 ngàn quân. Trong đó, không quân gia tăng quân số tới 163%, hải quân tăng 110%, lục quân tăng gần 8% quân số)
   Trong bảng này, nhóm từ Anh ngữ ARVN, tức the Army of Republic of Vietnam, có nghĩa là Lục quân Việt Nam, chỉ bao gồm 38% QLVNCH (tác giả không đồng ư dùng nhóm chữ ARVN để chỉ QLVNCH, và ông dùng nhóm chữ RVNAF, Republic of Vietnam’s Armed Forces). Ngoài ra còn những thành phần khác, gồm cảnh sát dă chiến, Nhân dân tự vệ, và các toán xây dựng nông thôn. Lực lượng xây dựng nông thôn không được coi là lực lượng chiến đấu, còn lực lượng Nhân dân tự vệ thường bị chế diễu nhưng (những lực lượng này) cũng là chướng ngại cho quân Việt cộng và quân đội Bắc Việt (North Vietnam’s Army trong nguyên bản). Có lần một toán cán bộ xây dựng nông thôn đă đẩy lui cả một tiểu đoàn Việt cộng ở tỉnh Vĩnh Long. Các toán viên biết gọi pháo binh của tỉnh yểm trợ. Chuyện này cũng không được biết đến để ghi nhận vào tài liệu.

   Thành phần của lực lượng Nhân dân tự vệ thì quá trẻ, hay quá già, hay vì thương tật nên không gia nhập quân đội chính quy, chỉ phục vụ như lực lượng pḥng vệ làng ấp chống lại những toán thu thuế, tuyển mộ, hay tuyên truyền của cộng sản địa phương. Nhưng Nhân dân tự vệ cũng là một yếu tố mà cộng sản địa phương phải đối phó sau năm 1968. Trứoc đó không có lực lượng này, Việt cộng ở địa phương tự do đi vào ấp xă lúc ban đêm. Nhiều lúc Nhân dân tự vệ không có hiệu quả, nhiều khi họ bị tuyên truyền để đi theo Việt cộng, nhưng có nhiều lúc khác lại có những báo cáo như sau: (trích từ các sách vở của các tác giả người Mỹ)

   “ Hai Việt cộng đang bắt cóc một Nhân dân tự vệ thì một Nhân dân tự vệ khác xuất hịên, bắn chết hai Việt cộng này bằng súng M 1 (không ghi rơ garant hay carbine), tịch thu được một súng AK47 và một súng lục 9 lỵ”
   Và “cả hai ấp Prey Vang và Tahou đêm nay bị bắn súng nhỏ và B-40. Nhân dân tự vệ địa phương đẩy lui hai toán trinh sát nhẹ”
   Còn nữa: một Nhân dân tự vệ 18 tuổi đă là người bắn cháy chiếc xe tăng đầu tiên trong rất nhiều xe tăng T 54 của Bắc Việt bị tiêu huỷ tại An Lộc trong cuộc bao vây năm 1972.
   Hà Nội không mấy hài llòng về lực lượng này, theo như tài liệu sau đây:
   “Chúng (QLVNCH) tăng cường các lực lượng bù nhìn, củng cố chính quyền bù nhìn và thiết lập mạng lưới tiền đồn cùng các tổ chức Nhân dân tự vệ bù nhìn ở nhiều làng xă. Chúng cung cấp thêm trang bị kỹ thuật và tính lưu động cho lực lượng bù nhìn, thiết lập những tuyến pḥng vệ, và dựng ra cả một hệ thống pḥng thủ và đàn áp mới ở những khu vực đông dân cư. Kết quả là chúng đă gây nhiều khó khăn và tổn thất cho lực lượng bạn (Việt cộng).”
   Sự kiện này không thể xảy ra trước năm 1968, khi lực lượng Nhân dân tự vệ được thành lập và trang bị bằng những vũ khí thời thế chiến thứ hai do các lực lượng QLVNCH chuyển giao la.i.
   Tương tự như vậy, lực lượng Nghĩa quân, Địa phương quân với sự trợ giúp của các toán cố vấn Mỹ lưu động, được tuyển mộ thêm từ năm 1968 và trang bị vũ khí tốt hơn, khởi sự tiến bộ, như cố vấn David Donovan thuộc một toán lưu động chứng kiến trong một trận tấn công bộ binh năm 1970:
   “ Chúng tôi vừa vuợt khỏi khu mìn bẫy chính thì bị hoả lực từ một rặng cây trước mặt bắn tới. Nước văng tung toé xung quanh, đạn bay véo véo trên đầu, trong tiếng súng nhỏ nổ ḍn. Binh sĩ bây giờ phản ứng tốt lắm, không giống như trước kia cứ mỗi khi bị bắn là họ gần như tê liệt. Trung sĩ Abney chỉ huy cánh đuôi của đội hình hàng dọc, bung qua bên phải, sử dụng như thành phần điều động tấn kích, trong khi chúng tôi ở phía trước phản ứng lại hoả lực địch. Khi toán của Abney tới được chỗ địa thế có che chở thì họ dừng lại và bắt đầu tác xạ. Duới hoả lực bắn che đó chúng tôi tràn tới một vị trí khác. Hai thành phần chúng tôi yểm trợ nhau như vậy và tiến được tới hàng cây, sẵn sàng xung phong. Ba người trong toán của tôi bị trúng đạn, không biết nặng nhẹ ra sao nhưng mọi người đều xông tới. Chúng tôi đă hành động khá haỵ”
   Kinh nghiệm của Donovan không phải là độc nhất. Cố vấn John Cook nhắc lại niềm lạc quan của ông vào năm 1970:
  
“Chúng tôi (tức Cook và sĩ quan đối tác phía Việt Nam) đang rất lên tinh thần, cảm thấy như mình là “kim cương bất hoại”. Tinh thần chiến đấu và hăng hái chủ động tấn công trong quận hết sức cao, khiến chúng tôi truy kích quân địch một cách gần như khinh suất, liều lĩnh.”

   Những thành tích như vậy không phải mọi nơi đều có. Có những đơn vị không đáp ứng được trong thời kỳ thay đổi và vẫn bị lănh đạo chỉ huy kém cỏi, chẳng thực hiện một cuộc hành quân lục soát với chiến thuật chủ động tấn công nào. Có khi cố vấn Hoa Kỳ suýt bị giết hay bị dọa giết bởi những sĩ quan địa phương của Việt Nam mà họ không hoà thuận được. Nhiều cố vấn Mỹ khác không gặp cảnh ngộ khó chịu đó, nhưng cũng chẳng có ấn tượng tốt nào về hoạt động của những đon vị mà họ cố vấn. Dù sao thì những chuyện tích cực và thích thú do cố vấn Mỹ chứng kiến cũng đầy rẫy, nhưng lại hoàn toàn vắng bóng trong những cuộc thảo luận trên nước Mỹ hay trong ư tưởng của những người Mỹ bình thường, cũng như trong những gì được dạy dỗ tại các trường học Hoa Kỳ.

   Sự tiến bộ hay những tấm gương xuất sắc ngay trước mắt không phải chỉ hiển hiện trong những lực lượng lănh thổ và những sư đoàn bộ binh VNCH, (là những đơn vị) thường bị cho là không mấy nổi trội về chiến thuật chủ động tấn công. Cố vấn về kế hoạch b́nh định của tỉnh Quảng Trị Richard Stevens, trước đó từng phục vụ trong Thuỷ quân lục chiến Mỹ tại Việt Nam, tỏ ra ngạc nhiên trước thành tích của một đơn vị thụôc sư đoàn 1 bô binh Việt Nam trong trận tấn công một vị trí phóng hỏa tiễn của quân Bắc Việt. :

   “Tôi có ấn tượng hoàn toàn tốt, và thực sự là kinh ngạc, về cách thức hành quân và sự táo bạo của họ trong mọi việc... Đây là cuộc hành quân thứ 13 như vậy do vị tiểu đoàn trưởng này chỉ huy. Ta đang nói chuyện về những chuyên gia hết sức tinh thục trong những gì họ làm, những người đă từng thực hịên những công tác sởn tóc gáy và vẫn tiếp tục thực hiện... Các cố vấn của trung đoàn này luôn luôn nói với tôi lúc tôi ra đó, rằng ‘anh đang làm việc với những người giỏi nhất. Chúng ta không có điều gì để mà có thể nói cho những người này làm. Chúng ta (các cố vấn) chỉ có việc yểm trợ hoả lực mà thôi. Còn về sự hiểu biết trong hành quân, thì họ là người dạy chúng ta’ Chúng tôi có các cố vấn người Úc và người Mỹ, họ đều nói y như nhau” (tác giả trích luận án Master năm 1987 của Howard C.H Feng, đại học Hawaii)

   Ở miền Nam, trong lănh thổ tỉnh Định Tường thuộc quân khu IV, sư đoàn 7 bộ binh VNCH cũng thi hành nhiệm vụ không hề có khuyết điểm, theo lời xác nhận của các cố vấn và các phi công Mỹ lái trực thăng chuyển quân cho các binh sĩ sư đoàn 7 trong những trận tấn công. Sư đoàn này từng bị mang tiếng là sư đoàn “lùng và né” (thay vì“lùng và diệt”, search and destroy), có thể vì trận Ấp Bắc hồi 1963, nhưng những ai trực tiếp công tác với họ không thể nói gì hơn là những lời ca tụng, ngưỡng mộ về sự tinh thông chiến thuật và tinh thần hăng hái xông xáo. Một cựu cán binh Bắc Việt xác nhận về sự dũng cảm của sư đoàn 7 bộ binh:
   “Vùng giải phóng bị thu hẹp... Tôi mất thêm thời gian di chuyển quanh, cố tránh xa các cuộc hành quân của quân đội VNCH.
   Ở Bến tre (tức tỉnh Kiến Hoà) sư đoàn 7 VNCH là lực lượng chính gây nên nhiều khó khăn. Hầu hết sư đoàn được tuyển mộ ở vùng châu thổ sông Cửu Long nên họ biết rành hết cả vùng. Họ thông thuộc vùng này cũng như chúng tôi” (tác giả trích dẫn David Chenoff và Đoàn văn Toại, sách Chân dung kẻ địch, Random House ở New York xuất bản năm 1986)

   Tình hình còn tồi tệ hơn khi các đơn vị quân đội Bắc Việt điền khuyết cho các đơn vị “Việt cộng”, không hiểu biết chút nào về vùng này và được trang bị kém cho cuộc chiến kiểu các rặng cây ở phía bắc vùng châu thổ. Một tù binh cho biết bị bắt sống không bao lâu sau khi tới, lúc anh ta và những người khác được lệnh phục kích một cuộc hành quân càn quét của sư đoàn 7 vào ngày hôm sau. Bố trí xong trước bình minh, đội quân đáng lẽ phục kích người ta thì lại bị tấn công từ phía sau do thành phần bên sườn của sư đoàn 7, trước khi tới lượt lực lượng chính. (tài liệu trích dẫn)
   Kết quả của điều này thêm hiển nhiên trong thời gian giữa 1968 và 1971, thời kỳ mà quân số lực lượng Hoa Kỳ giảm thiểu hơn một nửa, trong khi những cuộc hành quân tấn công của Việt cộng và quân Bắc Việt lại bị suy giảm rơ rệt:

   (Bảng thống kê trong bài ở đoạn này cho thấy lực lượng Mỹ ở Việt Nam từ năm 1968 đến 1971 đă giảm 322 ngàn quân, tức 58%, các cuộc tấn công của Việt cộng và quân Bắc Việt cấp tiểu đoàn trở lên giảm 98%, chỉ c̣n 2 trận, những cụôc tấn công lẻ tẻ của phía cộng sản cũng giảm, kể cả những vụ bắt cóc, khủng bố, trong khi số xă ấp có an ninh tăng 56%, diện tích trồng tỉa lúa tăng 9,8%, thương vong vì chiến tranh của dân và quân phía VNCH giảm 55%, quân số của Việt cộng, Bắc Việt trên toàn miền Nam giảm 21%)
   Tỉ lệ về các cuộc tấn công lớn nhỏ của phía cộng sản giảm hơn là tỉ lệ giảm quân số, cho thấy một sự sa sút toàn diện về khả năng quân sự, duới tỉ lệ dự đoán là 21% quân số sụt giảm. Điều này xảy ra trong khi quân số tham chỉến của Hoa Kỳ giảm tới 58%. Quạn cộng sản Bắc Việt và Việt cộng không những chỉ có mặt ít hơn trên toàn lănh thổ, mà còn kém khả năng tung ra những cuộc hành quân tấn kích.

   Nhiều con số thống kê của VNCH không chính xác, nhất là con số xă ấp có an ninh thì lại cọ̀n kém xác thực hơn, nhưng biểu đồ khuynh hướng khá rỏ ràng, và không có bằng chứng dù về thống kê hay tin đồn vặt, mà nêu ra điều gì khác hơn là sự xuống dốc thẳng đứng trong thời vận của quân Việt cộng và quân đội Bắc Vịêt trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1971. Trong khi Việt cộng, gọi như vậy để phân biệt với quân Bắc Việt, không bị tiêu dịêt hoàn toàn, và những ổ kháng cự có ảnh hưởng mạnh do họ kịểm soát vẫn tồn tại ở những tỉnh như Chương Thiện, Định Tường, Quảng Nam, Quảng Ngăi, thì Việt cộng ở địa phương cũng không còn là một lực lượng chiến lược. Nếu không có sự xâm nhập đại quy mô của quân Bắc Việt và sự cung cấp vũ khí hiện đại, thì chiến tranh đă dần dần tự tàn lụi. Những đơn vị và khu vực của Việt cộng tồn tại được cũng hoàn toàn không phụ thuộc vào quân đội Bắc Việt để sống c̣n. Tác giả “phản chiến” Frances Fitzgerald của cuốn “Lửa trong hồ” (thật khôi hài, là cuốn sách bị đả kích bởi cả người chỉ đạo về tư tưởng của Hà Nội, Nguyễn Khắc Viện, lẫn người ủng hộ Mặt trận Giải phóng và Hà Nội, Ngô Vĩnh Long), nhìn nhận rằng khả năng sinh tồn của cả Việt cộng lẫn QLVNCH hồi năm 1966 là mỗi bên 50%, nhưng đến 1969 thì cơ hội sống c̣n của Việt cộng chỉ còn 10%, trong khi tỉ lệ này phía QLVNCH lên hẳn 90%. Nguyễn Văn Thành, sau 23 năm theo Việt cộng, hồi chánh năm 1970, cho rằng cứu cánh của Mặt trận giải phóng là vô vọng. Ông ta nêu ra những cuộc hành quân gia tăng của QLVNCH, sự phát triển những đơn vị Nghĩa quân xă quận và các chương tŕnh Nhân dân tự vệ, cùng với kế hoạch cải tổ về ruộng đất của chính phủ VNCH, coi đó là những việc không thể đối phó được nữa. Stanley Karnow khẳng định thằng thừng trong cuốn sách được đánh giá cao quá đáng của ông, không cần giải thích nguyên do, rằng đến năm 1971, thì “riêng phía Việt cộng không phải là đối thủ của quân đội chính quyền Sài Gòn”

   Don Colin trải qua nhiều năm ở Việt Nam, được nhiều người biết đến qua lối bày tỏ thô lỗ, phản bác thô bạo và quá đáng, cộng với lối rủa xả om xồm những gì mà ông ta coi là tào lao nhảm nhí. Ông này đă phải chịu đựng những khó khăn trở ngại, những khởi đầu sai lạc cùng những vấn đề tương tự, bị coi như toàn những điềm gở . Nhưng năm 1971 Don Colin cũng thấy những kết quả tích tụ hiển hiện ở vùng châu thổ:

   “Ba mươi tháng trước, con số những cấp chỉ huy giỏi ở quân khu IV chỉ đếm được trên một bàn tay. Ngay cả tư lệnh quân đoàn, một cấp chỉ huy tốt, trong sạch và tương đối có khả năng, cũng nhút nhát, thiếu óc sáng tạo và không đủ sức kích động thuộc cấp vào những hoạt động xông xáo và tích cực. Cấp tư lệnh sư đoàn thì phần lớn thiếu khả năng, hầu hết các tỉnh trưởng cũng kém cỏi và tham nhũng. Các cấp chỉ huy thuộc quyền của họ thì chẳng những noi gương xấu mà nhiều khi còn phạm khuyết điểm quá hơn cấp trên nữa. Nhưng nay thì chuẩn mực chung về tài năng, sự trong sạch và tận tâm đă tăng lên tới mức mà trước kia tôi cho là không thể tưởng tượng được. Sự thay đổi đặc biệt này khiến tôi thêm lạc quan tin tưởng ở khả năng tối hậu của chính phủ trong việc kiểm soát được Việt Nam và thành lập một chính quyền ổn định.”
   ***
   Rồi tới cuộc tấn công 1972 của Hà Nội, một cuộc tấn công tốc chiến phối hợp phương tiện cơ khí kiểu cổ điển (a classical blitzkrieg), với đặc điểm là những vũ khí hạng nặng và những vũ khí chết người được đưa ra sử dụng như hoả tiễn tầm nhiệt pḥng không SA-7, hoả tiễn công phá điều khiển bằng dây AT-3, những đoàn chiến xa T-54 đuợc yểm trợ bằng mấy trăm khẩu đội hoả tiễn 122 ly, đại bác 130 ly, hơn hẳn tất cả mọi thứ từng được Hoa Kỳ cung cấp cho lực lượng pháo binh QLVNCH. QLVNCH bị đánh tơi bời, có lúc đă gần tới kết cuộc, và sự đổ vỡ hiển hiện rơ ràng. Nhưng cái quân lực đang nằm đo ván đă đứng dậy ở tiếng đếm thứ 8, hồi phục sức lực và bẻ găy cuộc tấn công nặng nề nhất ở Việt Nam, tính tới lúc đó. Không ai khác hơn là học giả hàng đầu của Hoa Kỳ về Việt Nam, Douglas Pike, đă tuyên bố cuộc xâm lược của Hà Nội thất bại là vì“... Nam Việt Nam chiến đấu hơn hẳn quân đội xâm lăng đến từ phương bắc” Nhiều nhà bình luận, kể cả tướng Ngô Quang Trưởng, nói tới không lực Hoa Kỳ như một yếu tố quyết định, thì đó đúng là yếu tố chính. Nhưng những điều ngụ ý nói là QLVNCH không thể chiến đấu nếu như không có không lực Mỹ, thì đă thiếu sót hai điều căn bản. Thứ nhất, quân đội Mỹ cũng chỉ được yểm trợ bằng không lực giống như QLVNCH đă được. Thứ hai, là điểm người ta ít nhìn ra: không lực Hoa Kỳ là một yếu tố bổ sung để cân bằng với hai lực lượng vuợt trội của Bắc Việt là thiết giáp và, lợi hại hơn cả, là lực lượng pháo binh hơn hẳn, hoả tiễn 122 ly chính xác và đại pháo 130 ly gây tàn phá quy mô ở tầm tối đa 19 dặm (32 km). Hoa Kỳ không cung cấp cho đồng minh của họ, VNCH, những vũ khí lợi hại ngang bằng, nhất là về pháo binh, như Liên Xô và Trung Cộng cung cấp cho Hà Nội. Hà Nội có hằng trăm hoả tiễn 122 và đại pháo 130. QLVNCH không đủ đại bác để phản pháo, chỉ có 24 khẩu 175 ly, không chính xác bằng, bắn chậm hơn các loại 122 ly và 130 ly. Cả pháo đài kiên cố cũng không chịu nổi đạn 130 ly khoan hầm, nổ chậm. Tựu chung, trở lại đề tài không lực, thì không quân Việt Nam đă thi hành nhiệm vụ một cách đáng kính phục trong các trận chiến năm 1972, nhưng vẫn bị giới bình luận Hoa Kỳ hoàn toàn quên lăng. Một chuyên viên điều không tiền tuyến của Hoa Kỳ tỏ ra ngưỡng mộ một phi công A-37 của Việt Nam mà anh ta cùng thi hành một vụ tấn công không lục vào vị trí quân Bắc Việt:

   “Anh ta đâm chúc đầu chiếc máy bay xuống tới tầm vũ khí liên thanh, và quả nhiên tôi thấy nhiều lằn đạn lửa vạch đường sáng bao quanh Pepper dẫn đầu. Tôi la lên báo động, thì đă thấy anh thả bom ở độ cực thấp và ghi một bàn tuyệt hảo trúng ngay bức tường. Trong những lần oanh kích tiếp theo ngay đó, các phi công của không quân Việt Nam cũng ghi bàn hoàn hảo mỗi lần đâm xuống, cũng là mỗi lần họ bị đạn pḥng không bắn lên xối xả... Hoả lực từ mặt đất vô cùng mạnh mẽ. Quân Bắc Việt có vẻ như biết rằng đối thủ của họ là người Nam Việt Nam.
   “Tôi tin chắc là hai chiếc A-37 sẽ bị bắn rơi, nhưng cả hai đều xả hết bom đạn của họ trúng đích, không hề hấn gì. Hai phi công không quân Việt Nam đă tŕnh diễn một màn tuyệt vời, và tôi ngưỡng phục llòng can đảm của họ trên cả sự thông minh. Trong giây phút đó lòng can đảm ấy đă vuợt hẳn sự khôn ngoan trong những tính toán hơn thiệt về sự an toàn của cá nhân họ"

   Đây không phải là một sự kiện riêng lẻ, theo như một quan sát viên không quân của Mỹ chứng thực:
   “Không quân Việt Nam tự chứng tỏ sự trưởng thành trong cuộc tấn kích 1972... Trong trận phòng thủ Kontum KQVN thật cừ khôi, hết sức tuyệt diệu”
   QLVNCH lănh cú mạnh nhất của Hà Nội năm 1972, mạnh hơn nhiều so với trận Tết Mậu thân 1968, về khía cạnh quân số và hoả lực. Ước lượng có khoảng gần 150 ngàn quân Bắc Việt đă tham chiến trong giai đoạn 1, và thêm 50 ngàn quân khác bổ sung khi trận chiến tiếp diễn. Mặt khác, trong trận Tết ’68 chỉ có 84 ngàn quân Việt cộng và Bắc Việt tham chiến, với pháo binh và xe tăng rất hạn chế (ngoại trừ ở quân khu I)

   QLVNCH tiếp tục hoạt động tốt đẹp sau khi hịêp định Paris gian lận được kư kết và bị vi phạm lập tức. Cuối tháng 11 năm 1973 một lực lượng đặc nhiệm VNCH đă đánh đuổi sư đoàn 1 Bắc Việt ra khỏi căn cứ Thất Sơn, gây tổn thất nặng tới nỗi sư đoàn 1 này của Bắc Việt phải giải thể, số quân sống sót phải gia nhập các đơn vị khác. Ít tháng sau sư đoàn 7 VNCH tung ra cuộc hành quân lớn để quét các đơn vị Bắc Việt khỏi mặt khu Tri Pháp ở vùng giáp ranh ba tỉnh Định Tường-Kiến tường-Kiến Phong, gây tổn thất nặng cho địch. Tri Pháp chưa bao giờ bị xâm phạm trong suôt cuộc chiến tranh, có đặc điểm là những vị trí phọ̀ng thủ kiên cố; cuộc thất trận gây hổ thẹn tới mức nhà cầm quyền cộng sản cảnh cáo các cấp là phải dấu sự thất bại đừng để bộ đội của họ biết, sợ bộ đội xuống tinh thần. Các phái đoàn Ba Lan và Hungary trong cái Ủy ban liên hiệp quân sự bốn bên bất lực, chỉ là gián điệp cho cộng sản Hà Nội. Nhưng một trong những báo cáo của họ năm 1973 xác định là không có đơn vị Việt cộng nào ngang sức với QLVNCH, và cả những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt cũng không sánh được với các đon vị Nhảy Dù và Thuỷ quân Lục chiến của VNCH.
 
   Tuy nhiên đến giữa 1974 thì việc Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ bắt đầu từ từ siết cổ QLVNCH, và đạo quân này chỉ còn nước xuống dốc dần dần từ khi ấy. Đến 1975 cấp số cung ứng có sẵn (Available Supply Rate- ASR) dành cho đạn đại bác đă giảm nhanh tới mức không thể chấp nhận, như theo bảng dưới đây, cho mỗi khẩu đội bắn trong một ngày:
               năm 1972    năm 1975   tỉ lệ giảm
   Đạn 105 ly  180 viên    10 viên     94%
   Đạn 155 ly 150 viên      5 viên     97%
   Đạn 175 ly  30 viên     3 viên      90%

   Mọi thứ bị cắt đến tận xương, rồi tận tuỷ. Nhìêu binh sĩ bộ binh được cấp số đạn căn bản là 60 viên M16 cho một TUẦN LỄ. Nhiều đơn vị cấm binh sĩ bắn M16 liên thanh, chỉ được bắn phát một. Các đơn vị chạm địch có khi bị giới hạn chỉ còn được bắn yểm trợ hai trái đạn đại bác, ngoại trừ khi bị tràn ngập. Thiếu cơ phận thay thế, xe tăng, tàu giang tuần, máy bay... nằm ụ chờ rỉ sét (“cho mối mọt ăn”). Tệ hơn nữa, binh sĩ QLVNCH và gia đình họ phải chịu thiếu thốn khi nền kinh tế bị lạm phát 50%, và 25% thất nghiệp. Một bản nghiên cứu của cơ quan DAO thực hiện năm 1974 tiết lộ 82% binh sĩ VNCH không có đủ thực phẩm cho nhu cầu của gia đình. Đói kém và suy dinh dưỡng làm xuống tinh thần cùng khả năng chiến đấu. Tình hình những tháng sau đó càng xuống dốc, và người ta đau lòng chứng kiến một cái chết chắc chắn sẽ đến với hằng ngàn vết thương. Một năm sau, khi chính phủ Việt Nam cuối cùng sụp đổ, và, theo như những sách gọi là sách sử, thì nhiều người Mỹ ngạc nhiên, tự hỏi tại sao mọi thứ có thể sụp đổ nhanh chóng như vậy. Lẽ ra câu hỏi đáng chú ư hơn phải là tại sao QLVNCH đă có thể chiến đấu dài lâu sau thời gian giữa năm 1974, với sự thiếu thốn về vũ khí, trang bị, đạn dược, nhiên liệu, thuốc men, với những cái bụng lép kẹp, và gia đ́nh cũng đói khát không kém?
   Khi bắt đầu sự đổ vỡ tan hoang, và đám đông hỗn độn theo lệnh ông Thiệu rút khỏi vùng cao nguyên, thì khủng hỏang và kinh hoàng xảy đến, phần nào tăng thêm v́ những lệnh lạc trái ngược phát xuất từ dinh Tổng Thống. Nhưng trong sự sụp đổ nhục nhă sau cùng, vẫn có không ít những trận “Alamo” nhỏ của những người lính VNCH chiến đấu đến phút cuối.
   Sư đoàn 18 đứng vững ở Xuân Lộc là một trận anh hùng ca, nhưng sự có mặt và vai tṛ của của Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù trong trận này không hề được biết đến. Khi quân khu II đổ vỡ và kết cuộc đă gần, sư đoàn 7 VNCH vẫn đánh bại một nỗ lực của quân Bắc Việt muốn cắt quốc lộ 14, con đường quốc lộ duy nhất nối vùng châu thổ Cửu Long vói Sài Gòn. Vào ngày cuối, gọi là “ngày quốc hận” (tác giả viết bằng tiếng Việt), một máy bay AC-119 trang bị liên thanh sáu nnòng do các trung úy Thanh và Trần Văn Hiền (hay Thành, Hiển?) còn bay quanh Sài Gòn yểm trợ hoả lực cho những đơn vị VNCH lâm chiến sau cùng. Hết xăng, hết đạn, họ đáp xuống đổ xăng và lấy thêm đạn, sĩ quan hành quân biểu họ không cần cất cánh nữa, tất cả đă mất hết rồi. Nhưng các trung úy Thanh và Hiền vẫn vững chí, nhận nhiên liệu và đạn dược, và được hai chiếc A1H-Skyraider tháp tùng do thiếu tá Trương Phụng và đại úy Phúc lái, họ tiếp tục lại một trận chiến tuyệt vọng. Sau cùng chỉ còn đại úy Phúc sống sót, oanh kích đến khi hềt đạn. Hai trung uý Thanh, Hiền và thiếu tá Trương Phùng đều bị SA-7 bắn rơi, tử trận. Họ đă chiến đấu đến măi tận giây phút cuối cùng!

   Một cách tổng quát, cứ bị đói như QLVNCH đă bị thì không một quân đội nào có thể chống lại cuộc tấn công cuồng bạo của quân đội Bắc Việt, vói thừa ứ những khẩu pháo, xe tăng, vũ khí, nhiên liệu, xe tải quân, đạn dược, do khối cộng sản cung cấp. Truớc một đạo quân VNCH bị rút ruột vì cắt vịện trợ như vậy, quân đội Bắc Việt đă phải tung ra tất cả những gì họ có. Chừng 400 ngàn quân cộng sản, gần 90% là bộ đội miền Bắc, được đưa ra trận để đánh bại QLVNCH. Hà Nội chưa bao giờ từng tung ra một lực lượng khổng lồ và hiện đại như họ đă ném vào trận chiến năm 1975. Hà Nội chưa từng rút ra tất cả các đơn vị từ Lào, Cambodia. Về lượng, quân số 400 ngàn là gần gấp 5 số quân Việt cộng và Bắc Việt lâm chiến hồi tết 1968, trong khi về phẩm, còn có hằng trăm đại bác tầm xa, hằng trăm xe tăng, hằng ngàn xe tải, và nguyên một kho vũ khí hiện đại, Đoàn quân viễn chinh năm 1975 có hơn gấp năm lần khả năng chiến đấu của lực lượng cộng sản hồi tết Mậu thân 1968.
   Xem xét sự việc từ một khía cạnh khác, có thể phán đoán mà không sợ sai lầm rằng giả sử quân đội Bắc Việt bị yếu đi vì cắt giảm mức cung ứng như QLVNCH đă gánh chịu, thì họ không bao giờ có thể tung ra một cuộc tổng công kích sau cùng, mà hẳn đă yếu kém hơn thế nhiều. Ưu thế hoả lực quyết định chiến trường, chẳng phải là điều gì mới lạ trong lịch sử quân sự. Vào lúc cuối, QLVNCH chịu sự tổn thất khoảng 275 ngàn tử trận, không kể con số bị ám sát, trong một quốc gia mà dân số trung bình khoảng 17 trịêu. Nước Mỹ với dân số 200 trịêu, nếu chịu tổn thất với tỉ lệ tương đương trong cùng khoảng thời gian ấy, con số tử vong sẽ là 3 triệu 200 ngàn, cần dựng thêm 56 bức tường đá đen nữa mới đủ ghi tên tử sĩ. Điều này không lọt qua mắt của một số nhà quan sát. Sir Robert Thompson, tuy biết rỏ những nhược điểm của QLVNCH, cũng kết luận:
   “ Quân đội và chính phủ VNCH vượt qua những cuộc khủng hỏang quốc gia và cá nhân mà có thể đă nghiền nát hầu hết mọi người, và mặc dù mức tổn thất có thể gây kinh ngạc và làm sụp đổ Hoa Kỳ, VNCH vẫn duy tŕ được một trịêu quân dưới cờ sau hơn 10 năm chiến tranh. Vương quốc Anh cũng làm được như thế, theo tỉ lệ tương đương, trong năm 1917, sau ba năm chiến tranh, nhưng không bao giờ làm được nữa. Hoa Kỳ chưa bao giờ làm được điều nàỵ” (được nhấn mạnh và thêm vào)
   Ký giả Peter Kann, sáng suốt hơn rất nhiều so vói những đồng nghiệp, cũng nhập cuộc, sau khi Sài Gòn thất thủ:
   “Nam Việt Nam quả đă phấn đấu để kháng chiến trong nhiều năm ṛng ră, không phải lúc nào cũng được Hoa Kỳ giúp đỡ dồi dào. Ít có quốc gia hay xă hội nào mà tôi cho là có thể chíên đấu được lâu dài đến thế.”
   ***
   Kế hoạch Việt Nam hoá có hiệu quả không? QLVNCH có trưởng thành nên một lực lượng chiến đấu có khả năng?

   Có thể biện luận rằng kế hoạch Việt Nam Hoá có hiệu quả, nhưng lại bị moi ruột vì cắt giảm viện trợ chí tử. Năm 1974 có cuộc thăm ḍ các tướng lănh Hoa Kỳ từng phục vụ tại Việt Nam, nhằm tìm hiểu chương tŕnh Việt Nam hoá thành công tới mức nào. Các câu hỏi và trả lời như sau:
1. QLVNCH là lực lượng chiến đấu rất đáng chấp nhận?: 8% đồng ý.
2. QLVNCH xứng đáng và cơ may hơn 50% đứng vững trong tương laỉ: 57% đồng ý.
3. Có nghi ngờ khả năng QLVNCH có thể đẩy lui một cuộc tấn công mạnh của lực lượng Việt cộng- Bắc Việt trong tương lai: 25% nghi ngờ
4.      Ý kiến khác và không ý kiến: 10%
Như vậy 65% các tướng lảnh chỉ huy của Hoa Kỳ dành cho QLVNCH tỉ lệ phiếu thuận, tuy nhiên những câu trả lời này có thể đă mang khuynh hướng lệch theo chiều xuống. Không biết bao nhiêu vị tướng phục vụ trong khoảng 1966-1967, trước khi QLVNCH thực hiện những đổi thay to lớn nhất. Chức vụ mà các sĩ quan này đảm trách là gì, họ làm việc với ai, và họ quen thuộc với quân đội VNCH ở mức độ nào, sự tăng tiến hiệu năng của lực lượng Địa phương quân, Nghĩa quân vân vân... cũng không được tiết lộ. Câu hỏi cũng không hỏi :”Nếu quân đội Mỹ cũng bị cắt giảm cung ứng như QLVNCH vào năm 1974-1975 thì còn đứng vững được bao lâu ? ”
   Điều có thể nói chắc chắn, là QLVNCH từ 1968 trở đi đă hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp hơn nhiều so với những gì được biết đến một cách chung chung, rằng các đơn vị QLNCH đă thi triển tài năng để có thể đứng vững và đánh bại quân xâm luợc Bắc Việt trong năm 1972, thuờng là không cần tới sự yểm trợ hoả lực ồ ạt của pháo binh và không quân chiến thuật, như trong trường hợp của Nghĩa quân và Địa phương quân. Điều có thể nói chắc chắn nữa là sự hiểu biết của người Mỹ về việc này thấp kém đến kinh tởm, thấp tít mù xa như vực thẳm không đáy.

   Một yếu tố rất quan trọng nữa mà nhiều nhà bình luận bỏ qua và tới nay vẫn không biết gì hơn, là thế hệ các sĩ quan, hạ sĩ quan QLVNCH trẻ trung hơn, hềt lòng hết dạ vì mục tiêu một nước Việt Nam không cộng sản. Họ cởi mở, ngay thật, biết lẽ phải, trong sạch, biết nhìn nhận phải trái, ví dụ như họ cho là người Thượng không nên được đối xử thấp kém hơn, rằng tham nhũng cần bị công kích, rằng một quốc gia Việt Nam mới cần được tạo thành, bung ra khỏi mọi xích xiềng quá khứ. Nhiều người trong số này có thể có vị trí tốt để tránh quân dịch hay giữ một chỗ an toàn, không ra trận; nhưng họ không cần cả hai thứ đó, đă có mặt trong hàng ngũ phục vụ tại những vị trí chiến đấu đầy nguy hiểm, với tư cách những người tình nguyện. Thái độ của họ được một sĩ quan trẻ của QLVNCH bày tỏ:

   “Những người ở cỡ tuổi tôi vào quân đội vì chúng tôi có một lý tưởng, chúng tôi hiểu được cuộc sống trong một thế giới tự do ra sao, và sống trong thế giới cộng sản ra sao. Không phải như người ta nói, rằng những ai vào quân đội thì chỉ vì đến tuổi lính và không có lý tuởng gì riêng cho mình. Nhưng người Mỹ không bao giờ có vẻ hiểu ra điều đó.”

   Trần Quốc Bửu là chủ tịch Liên Đoàn Lao công Nam Việt Nam, tương đương với AFL-CIO của Hoa Kỳ. Ông có ảnh huởng và có thể xếp đặt cho con trai ông tìm một chỗ an toàn, an toàn hơn nhiều so với vị trí của anh này là một sĩ quan bộ binh VNCH. Trong những tuần lễ sau cuối của VNCH, lúc bị Bắc Việt dập pháo tơi bời, tuyệt vọng trong cảnh thiếu đạn, con ông Bửu viết cho ông một lá thư:
   “Ba phải giải thích cho người Mỹ hiểu sự nghiêm trọng của tình hình chúng ta... Họ phải cung cấp vịên trợ quân sự và kỹ thuật như họ đă hứa. Con xin ba, ba à, hăy can thiệp với họ. Nếu không, chúng ta sẽ bị đè bẹp và thất trận. Tụi con không hèn nhát. Tụi con không sợ chết... Trong mọi tình húông, con sẽ giữ vững vị trí và không rút luị”
   Con ông Bửu hy sinh tại chiến trường.
   Bác sĩ Phan Quang Đán là quốc vụ khanh về định cư và tị nạn, một cựu đối lập với ông Ngô Đình Diệm, nổi tíêng nhờ trong sạch. Ông có đủ quyền lực và ảnh hưởng để giữ con trai là Phan Quang Tuấn khỏi bị nguy hiểm. Cả hai cha con đều không chọn điều đó, và Tuấn tình nguyện lái A-1E Skyraider, chỉ dùng để yểm trợ chiến thuật gần cho các dơn vị dưới đất. Sau khi tiêu diệt 7 xe tăng quân Bắc Việt tại khu vực ngưng chiến, trong trận tấn công 1972 của Hà Nội, đại úy Tuấn bị hoả lực phòng không địch bắn rơi, tử trận. Những cá nhân ấy không phải là duy nhất. Người viềt bài này hằng ngày gặp những phi công trực thăng võ trang trẻ tuổi, những sĩ quan trẻ trong Biệt động quân, Thuỷ quân lục chiến, Nhảy dù, tất cả đều tình nguyện lănh nhiệm vụ tác chiến nguy hiểm, bị “luỡng đầu thọ địch”, với hệ tư tưởng về một nước Việt Nam cộng sản, và với nạn tham nhũng trở thành thông lệ hằng ngày ở Sài Gòn. Một trong những tấm gương gây xúc động hơn nữa về lòng tận tuỵ với chính nghĩa quốc gia, là cảnh các sinh viên sĩ quan truờng Võ Bị quốc gia Đà Lạt chuẩn bị cho trận đánh sau cùng của họ, mà ký giả Pháp Raoul Coutard chứng kiến, vào lúc họ tiến ra để chặn các đơn vị quân đội Bắc Việt đang tiến tới:
   “-Anh sắp bị giết đó!
   - Vâng. Một sinh viên sĩ quan trả lời.
   - Sao vậy? Đă kết thúc rồi mà!
   - Tại vì chúng tôi không ưa cộng sản”
   Và, llòng đầy can đảm, những sinh viên trẻ tuổi trong bộ quân phục mới toanh, tuyệt đẹp, giày bóng loáng, tiến ra để chờ chết”
   Trường Thiếu Sinh quân ở Vũng Tàu, là trường nội trú, trong học tŕnh có dạy quân sự cho các thiếu niên Việt Nam có cha tử trận. Khi đến lúc cuối, những em trai 12-13 tuổi đuổi các em thiếu sinh quân nhỏ hơn về nhà, lập chướng ngại vật bảo vệ trường và đối đầu với các đơn vị quân Bắc Việt:
   “Họ tiếp tục chiến đấu sau khi tất cả mọi người khác đă đầu hàng!... Nhiều người trong số họ bị giết. Và khi quân cộng sản tiến vào, các thiều sinh quân đánh trả. Cộng sản không vào được ngôi trường ngay lúc đó.”
   Những con người tương tự (lúc đó) đang gia tăng trong mọi cấp bực của QLVNCH, và nhu cầu cấp bách của tình hình buộc sự thăng thưởng phải dựa trên khả năng, không dựa trên quan hệ chính trị hay quan hệ gia đình.

   Giới truyền thông Hoa Kỳ đă thất bại tại Việt Nam, thua bại hoàn toàn và thê thảm hơn nhiều so với các lực lượng quân sự của VNCH, Hoa Kỳ và các đồng minh. Họ thường lên án bằng những lối can thiệp đầy tự phụ và tự măn. Một cuộc thăm dò 9,604 chương tŕnh truyền hình của NBC, CBS và ABC từ 1963 đến 1977 cho thấy rơ những sự thiều sót của những cái gọi là bài tường thuật truyền hình. 0,7% chưong tŕnh nói về việc huấn luyện QLVNCH. 0,8% về bình định. 2,7% về chính quyền hay quân lực VNCH hay Cambodia. Tổng cộng chỉ có 392 chương tŕnh, tức 2,7% toàn bộ các chương tŕnh tin tức truyền h́nh Mỹ, tường tŕnh về Việt Nam. Không có một lời nào về hơn 200 ngàn hồi chánh viên, không một lời về QLVNCH thiện chiến. Không có gì về những phi công Ong Chúa lừng danh của trực thăng Việt Nam cứu mạng cho những toán lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ chạm địch dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Hầu hết người Mỹ, nếu không phải là tất cả, đều nhớ hình ảnh bi hùng của một người Trung Hoa đứng trước đoàn xe tăng ở quảng trường Thiên An Môn, nhưng không ai biết trung sĩ thuỷ quân lục chiến Việt Nam Huỳnh Văn Lượm đứng trên cầu Đông Hà chặn đứng đoàn xe tăng Bắc Việt, tác xạ bằng khẩu súng chống tăng LAW của anh:

   “Cảnh tượng anh lính TQLC nặng có 95 cân Anh trụ ngay trên đường tiến của 40 xe tăng không có ý nào muốn dừng lại, trên một khía cạnh thì là dại dột một cách khó tin. Trên khía cạnh khác, quan trọng hơn, hình ảnh này mang đầy niềm phấn khích đối với một lực lượng pḥng thủ mỏng manh đến thê thảm, và với nhiều người tị nạn, ít ai trong số đó từng chứng kiến một hành động thách đố dũng cảm đến thế... Sự anh dũng lạ thường của người lính thuỷ quân lục chiến Nam Việt Nam này đă khiến đợt tấn công bằng xe tăng, tới lúc đó chừng như chắc chắn phải thắng lợi, đă bị mất đà tấn kích.”
   Trong một khoảnh khắc mà giới truyền thông mang tật cận thị lên tiếng, thì phóng viên Donald Kirk tuyệt đối không tỏ ra sự quan tâm nào khi đến thăm sư đoàn 7 bộ binh VNCH, nơi đă trở nên một đơn vị có hiệu năng cao tuyệt dưới tài lănh đạo của tướng Nguyễn Khoa Nam. Quân nhân trong sư đoàn nhận thức rỏ giá trị những nông trại của sư đoàn do tướng Nam thiết lập để giảm bớt gánh nặng kinh tế cho binh sĩ của sư đoàn 7. Nhưng khi Kirk và các phóng viên khác bị giữ lại ở một điểm chắn đường của quân đội Bắc Việt rồi được thả ra sau đó, thì Kirk lại thất vọng vì anh ta không có cơ hội để nói chuyện với bộ đội Bắc Việt:
   “Tôi cứ nghĩ măi về việc trông họ như vừa bước ra khỏi cuốn phim. ... Họ có vẻ là những tay chính quy, vậy đó. Tôi chỉ mong sao chúng tôi đă có thể ở lại thêm và nói chuyện với họ lâu hơn.”
   Ông Kirk có thể yên tâm rằng quân sĩ sư đoàn 7 đều là “những tay chính quy”, rất đáng để nói chuyện, và học hỏi nơi họ. Anh chàng này, cũng như đông đảo trong giới truyền thông làm tin tức, đă không để ư gì đến việc đó, cho nên không có gì kỳ bí về nguyên nhân vì sao hầu hết những người Mỹ từng phục vụ tại Đông Nam Á đều nhìn cái giới truyền thông tin tức này với sự khinh miệt gay gắt.

   Phải chi giới này chịu khó quan hệ với quân dân Việt Nam mà họ gặp gỡ, như tôi đă làm nhiều lần, thì đám ký giả hẳn đă biết trong mắt những người Việt ấy chủ nghĩa cộng sản của Hà Nội là điều đáng khinh bỉ và kinh tởm, như một loại phản bội văn hoá và truyền thống Việt Nam. Không phải những người Việt này chiến đấu và hy sinh để bảo vệ “chế độ tham nhũng của Thiệu”, mà là để gìn giữ một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân, cho con cái, và cho đất nước của họ. Một thuỷ quân lục chiến Việt Nam diễn giải và lột tả chân xác nhất về điều này, khi anh ta nói với tôi rằng sau khi quân đội VNCH giải quyết xong với quân đội miền Bắc, họ sẽ quay súng lại chống đám tham nhũng ở Sài Gòn. Những sự kiện thảm thiết bi thương sau năm 1975 đã chứng thực tính thuận lư và giá trị của điều quyết tâm ấy.
  
   Giới truyền thông giải trí và giới giáo dục ở Hoa Kỳ cũng chẳng khá gì hơn, mà còn mãn nguyện khi lặp lại, nếu không phải là thêm mắm thêm muối vào cái chuyện thần thoại do truyền thông dựng lên. Một cuốn sách sử trung học được sử dụng rộng răi ở Mỹ có chương sử về Việt Nam không hề nói đến QLVNCH, chỉ viết rằng :”Việt Nam hoá thất bại,” ngoài ra còn gom góp hơn 200 điều khẳng định có thể được chứng minh là sai trái và mang hoàn toàn tính chất dẫn dắt lạc hướng, trong 13 trang bài học. Có nói đến vụ tấn công sang Cambodia, nhưng không nói gì về việc quân VNCH tham dự đông đảo hơn lực lượng Hoa Kỳ, 29 ngàn quân so với 19,300 quân Mỹ tham chiến. Sách cũng không nói lên rằng trước khi chính thức mở chiến dịch, quân đội VNCH đă tấn công trước vào các vị trí pḥng thủ của quân đội Bắc Việt ở Cambodia. QLVNCH đă hoàn toàn vô hình, như một đề tài sẽ được tŕnh bày nơi đây (trong cuộc hội thảo)

   Phim ảnh và truyền hình lại càng tệ hơn, mặc dù có được một số phim tài lịêu lịch sử. Cả cuốn phim “Bat 21”, nhằm miêu tả cuộc tìm cứu trung tá Iceal Hambleton năm 1972, không thể hiểu được tại sao đă loại hẳn sự kiện là một chiến sĩ Người Nhái Việt Nam, Nguyễn Văn Kiệt, người cùng thi hành công tác tìm cứu đó với người nhái Hoa Kỳ Tom Norris, được tặng thưởng huy chương US Navy Cross do sự dũng cảm và anh hùng của Kiệt. Làm sao công chúng có thể trông mong được biết bất kỳ điều gì khi mà chề độ “kiểm duyệt” trên thực tế đă bôi xoá tất cả và từng dấu vết của sự hoạt động gương mẫu của QLVNCH?
 
   Sau cùng, cần phải nhìn nhận rằng QLVNCH đã bị đè bẹp bởi một gánh nặng trầm kha không thể nào vượt thắng: đó là một đồng minh bất xứng, ngu dốt và gây rối một cách đáng kinh ngạc, dưới hình thức cái chính phủ Hoa Kỳ.

   Một hội nghị chuyên đề toàn diện nên được tổ chức về đề tài này, và cần phải có hội nghị đó. Những chiến luợc giả hiệu phát xuất từ Washington, về bản chất, phải bị coi là cẩu thả mang tính cách tội ác. Không một hành động nào được tung ra để chặn và giữ đường mòn Hồ Chí Minh. Không có con đường này thì cuộc chiến tranh của Hà Nội đă không thể nào tiến hành được. Không một việc gì được thi hành để giao chiến với chiến tranh thông tin tuyên truyền-phản tuyên truyền dưới hình thức gọi là địch vận, một trong những chiến lược quan trọng của Hà Nội, được thi hành với những sự lừa gạt quỷ quyệt xuất chúng. Không làm một việc gì măi đến khi cơ quan CORDS được thành lập để ra kế hoạch và phối hợp những hoạt động quân sự và bình định về mặt tình báo. Không làm một việc gì để khai triển một liên minh rộng lớn như một chiến trường chung của người Việt, người Lào, người Cambodia và Thái lan, chống lại kẻ thù chung, trong khi Hà Nội đă làm y như vậy: thiết lập một cấu trúc chỉ huy chiến trường Đông Dương nhằm kết hợp mọi yếu tố vào một chiến lược gắn bó cho toàn khu vực. Lý cớ về lănh đạo của Hoa Kỳ là mù loà , là vụng dại như con heo trên tảng băng, như một con cóc vàng, rất giàu có nhưng cũng rất ngu độn. (những chữ in đậm là những chữ tác giả viết bằng tiếng Việt)
   Những kế hoạch, những đề nghị đi ngược giòng lịch sử khó có thể được chứng minh hoàn toàn chăc chắn, và có thể chiến tranh ( Việt Nam đă qua) là một cựôc chiến không thể nào thắng được.
   Có thể như vậy. Tuy nhiên những người Mỹ, người Úc đă phục vụ sát cánh những chiến hữu của họ trong QLVNCH, “những chiến hữu, bạn bè, giống như anh em ruột,” (viết tiếng Việt trong nguyên bản) mang trong lòng họ nỗi buồn sâu xa vìđă thua cuộc, hay đă mất biết bao bạn bè tận tuỵ, mất cả niềm vinh dự lớn lao cho việc đă cố gắng đạt cho kỳ được một thế giới tốt đẹp hơn cho những người dân thường của Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan. Họ không bị thúc đẩy vì những quan niệm tinh vi về địa lý chính trị thế giới, nhưng đúng hơn, là do sự kính trọng và ngưỡng mộ đối với nhiều người Đông Nam Á đă biềt yêu quí xứ sở, những con người đă “thề bảo vệ giang sơn quê hương”

   Nhiều trang lịch sử còn chưa được lật ra, phản ảnh sự tiếp nối cái khuynh hướng của Hoa Kỳ chỉ toàn nhìn qua con mắt người Mỹ, bị lọc qua định kiến của người Mỹ. Một số sách vở nói đến Việt Nam như một “giai đoạn thử thách đầy khổ đau của Hoa Kỳ,” mà chưa từng một lần hỏi xem người Đông Nam Á đă trải qua loại thử thách khổ đau nào. Đầy rẫy những dữ kiện lịch sử quý giá và những nét quan sát sắc sảo nằm trong những cuốn sách được viết do người Việt Nam (và cả người Lào,) Thiếu những sách đó, không thể nào có được sự hiểu biết toàn diện. Những tác phẩm của Hà Mai Việt, Phạm Huấn, Phan Nhật Nam, Trần Văn Nhựt, và nhiều người khác, đang kêu gào đòi được dịch thuật, cũng như hằng chục bài phổ biến hằng năm trên sách báo tạp chí quân sự và các ấn bản khác. Nhiều bài trong đó mô tả những trận đánh, những diễn tiến và những nhân cách, không hề được các sử gia Hoa Kỳ biết đến. Không tham khảo những nguồn đó thì chắc chắn là chiến tranh Việt Nam, cũng là chiến tranh Đông Dương của Hà Nội, sẽ măi là những bí ẩn không thể giải đoán, và lịch sử chân thực của QLVNCH sẽ măi bị chôn vùi dưới tầng lớp này qua tầng lớp nọ của những chuyện hoang đường, của sự không thông hiểu, và của sự giả định vô căn cứ.

   Bill Laurie – March 18, 2006. Nguyễn Tiến Việt dịch thuật
            

Tuesday, March 13, 2012

TẠI SAO TỔNG THỐNG OBAMA KHÔNG TIẾP KIẾN PHÁI ĐOÀN KÝ THỈNH NGUYỆN THƯ?!?

LÝ TỐNG

I. YOUNG VIETNAMESE AMERICAN LEADERS: Trong các bài viết, bài nói liên quan đến Phái Đoàn Ký Thỉnh Nguyện Thư vào Tòa Bạch Ốc có một điểm cốt lõi của mọi vấn đề nhưng chẳng thấy ai chú tâm hoặc đề cập. Đó là: “Young Vietnamese American Leaders” (YVAL) là tổ chức mà TS Nguyễn Đình Thắng đã và đang dồn mọi nỗ lực để khai sinh thay thế BPSOS (Tổ chức Cứu Người Vượt Biển).
Trích: “Từ 30 tháng 4 năm 2010, tôi khởi sự chuyến đi “du thuyết” vòng quanh nước Mỹ để tiếp xúc với tập thể người Việt ở các nơi và chuyển tải thông điệp hy vọng và trách nhiệm. Sách Thông Điệp Hy Vọng & Trách Nhiệm của Ts. Nguyễn Đình Thắng phát hành ngày 30 tháng 4, 2010, vạch ra kế hoạch mười năm, với những bước cụ thể, để phát triển thế lực cho cộng đồng Việt ở Hoa Kỳ đồng thời thay đổi vận mạng của dân tộc ở Việt Nam… Đây là cẩm nang cho những nhà hoạt động cộng đồng, xã hội và dân chủ, cũng như cho những người muốn phát triển khả năng lãnh đạo. Tác giả vạch ra những nguyên tắc căn bản để thành công từ việc nhỏ đến việc lớn. Để chuyển tải thông điệp của quyển sách, kể từ 30 tháng 4, 2010 Ts. Thắng đã đi “du thuyết” ở nhiều thành phố lớn nhỏ ở khắp Hoa Kỳ. Ngày 2 tháng 7, 2011 gần 250 người hưởng ứng thông điệp đã tụ về Hoa Thịnh Đốn để cùng nhau đề ra kế hoạch mười năm thăng tiến cộng đồng một cách đồng loạt trong cả ba lãnh vực chính quyền, kinh doanh và xã hội. Cũng tại hội nghị này một số chuyên gia sẽ khởi xướng các công tác nghiên cứu về chính cộng đồng và đào tạo lãnh đạo cho thế hệ nối tiếp. Bắt đầu tháng 9 năm 2011, Ts. Thắng đưa thông điệp này sang Canada . (Ai muốn mua ấn bản có chữ ký của tác giả, xin gửi ngân phiếu $35/quyển về cho: kimcuc.le@bpsos.org hoặc có thể đặt mua tại trang nhà BPSOS.)”
Trong bài Hội Tụ Hào Kiệt, TS Thắng viết: “Tôi đã gặp những tài năng trẻ, rất tận tuỵ và trong sáng, nhưng lạc lõng và loay hoay vì thiếu sự dìu dắt và chuẩn bị. Họ có tiềm năng để đi rất xa, vươn rất cao nhưng thiếu người dọn đường và chắp cánh cho họ. Trong 36 năm qua cộng đồng chúng ta chưa có một kế hoạch nào để cổ võ, hướng dẫn và đào tạo người thay thế… Đã đến lúc chúng ta phải có kế sách nhằm khuyến khích, đào tạo, hướng dẫn và tạo phương tiện và cơ hội cho những người trẻ sẵn sàng thay thế lớp người đi trước…” TS Thắng LS Tuyết Dương đang có tham vọng nặn tạo ra những Tổng thống, Thượng Nghị sĩ, Dân biểu, Thống đốc, Thị trưởng… tương lai cho Hoa Kỳ qua Tổ chức “Young Vietnamese American Leaders” của mình! Vì vậy việc NS Trúc Hồ giao trọng trách liên lạc Tòa Bạch Ốc (TBO) cho TS Thắng đã vô tình “Giao trứng cho ác” theo nhận xét của một số người, nên mặc dù Chiến dịch TNT thành công rực rỡ trong nhiệm vụ hồi sinh Tinh Thần Đoàn Kết và Tinh Thần Chống Cộng của thập niên 80s qua việc vận động được trên 145 ngàn chữ ký lại hầu như thất bại trong mục đích trình bày nguyện vọng lên Tổng Thống Hoa Kỳ (TT) vì bị Tổ chức của TS Thắng “take over” diễn đàn dành độc quyền và lợi nhuận riêng cho nhóm YVAL của mình.
II. ĐỒNG SÀNG DỊ MỘNG: Một đằng NS Trúc Hồ phát động Chiến Dịch Ký Thỉnh Nguyện Thư để kêu gọi Tổng Thống Obama can thiệp thả các tù nhân lương tâm, đặc biệt NS Việt Khang, và cải thiện nhân quyền cho VN; một đằng TS Thắng tiến hành kế hoạch nâng uy tín của tổ chức “Young Vietnamese American Leaders” (YVAL) để thay thế BPSOS đã không còn phù hợp với thời thế. Do vậy, qua bàn tay phù phép, Luật-sư Tuyết Dương, người cùng TS Thắng sáng lập ra BPSOS, giữ chức vụ Chủ tịch Ban Quản trị và TS Thắng chức Giám đốc Điều hành, đã dùng văn phòng White House APA Initiatives và chức vụ được giao phó thực hiện ý đồ biến 145 ngàn người ký TNT thành lực lượng YVAL của mình. Bởi vậy mới xảy ra cảnh Trúc Hồ tưởng mình đi lạc khi thấy dòng chữ: “White House Briefing with National Vietnamese American Leaders” rồi khiếu nại. Hàng chữ trên màn ảnh được tạm thời đổi thành “White House Briefing with Vietnamese Americans” nhưng sau đó đã chính thức trở thành “White House Briefing with Young Vietnamese American Leaders” (chính danh của Tổ chức mới của TS Thắng và LS Tuyết Dương). Việc dùng danh xưng National Vietnamese American Leaders lúc đầu là thủ thuật “cho uống nước đường” những người tham dự cuộc hội kiến trước khi trương bản hiệu chính, nhưng không ngờ Trúc Hồ khám phá ra thâm ý phản đối. Vì đây là mục đích tối hậu, nên sau khi tạm thời sửa thành Vietnamese Americans (bỏ chữ Leaders) LS Tuyết Dương cương quyết và táo bạo sửa thành Young Vietnamese American Leaders khi TS Thắng đưa 2 Đại diện của Tổ chức mình là Cô Cindy Đinh ở Houston, và anh Billy Le ở South Carolina lên diễn đàn tường thuật về thành tích hoạt động của mình (tức của YVAL của TS Thắng), trong lúc LS Tuyết Dương lại gợi ý bằng những câu hỏi cá nhân có lợi cho YVAL thay vì tập trung vào chủ đề và chủ điểm chính của tinh thần TNT: Nhân quyền. Một khi hiểu rõ YVAL là Tổ chức của TS Thắng và LS Tuyết Dương, mọi điều đều trở nên dễ hiểu và các ẩn số đã có đáp số: Tại sao NS Trúc Hồ quyết định từ nay sẽ liên lạc trực tiếp với Tòa Bạch Cung thay vì qua trung gian TS Thắng và những câu hỏi: “Ai đã ‘tiếp tay’ cho Bạch Ốc để thay đi, đổi lại Chủ đề cuộc thảo luận và với mục đích gì mà khiến cho Nhạc sỹ Trúc Hồ và Nghệ sỹ Việt Dzũng của SBTN đã phải tức giận bỏ phòng họp ra đi trước khi kết thúc?” hoặc lời khẳng định: “Bởi vì đã có những người lợi dụng Phong trào Quần chúng đấu tranh này cho quyền lợi riêng tư đảng phái và tổ chức của họ nên không ai ngạc nhiên khi thấy có một số người được mời nhưng không vào Bạch Ốc như trường hợp Bác sỹ Nguyễn Quốc Quân, Chủ tịch Ủy ban yểm trợ Cao trào Nhân bản và Ca-Nhạc sỹ Nguyệt Ánh” “Trúc Hồ và ông Nguyễn D Thắng, chung giường (TNT)  nhưng mỗi người lại theo đuổi trong tâm tưởng ‘người tình’ riêng  của mình! Trúc Hồ nếu biết  tận dụng SBTN để kêu gọi ‘Diên Hồng’ thì có thể sẽ thành công, nhưng Trúc Hồ bất qúa chỉ đóng vai ‘Lưu Bị,’ và cần những người phụ tá đắc lực, và mưu lược mới mong cân bằng với  cái lực của ‘Đông Ngô’ Nguyễn D Thắng và  chống đỡ sự xâm nhập của dảng phái ‘Thiếu Đạo Đức’ là Tào Tháo, đã cho quân sĩ xuất hiện rất nhiều tại Tòa Bach Cung  trong ngày ‘lịch sử’ March 5-2012!”
III. TS NGUYỄN ĐÌNH THẮNG - BẬC ĐẠI SƯ PHỤ: Qua vụ hội kiến Tòa Bạch Ốc, một vài Thân Hữu đã bảo tôi: “TS Thắng xứng đáng là bậc sư phụ của Lý Tống rồi!” Tôi ngạc nhiên hỏi: “Sao vậy? Tôi không hiểu ý anh.” Anh bạn trả lời: “Bạn không nhớ mỗi lần móc túi yểm trợ tại các buổi gây quỹ bạn vẫn thường mào đề: ‘Tôi chỉ là kẻ ‘Mượn hoa cúng Phật’ thôi. Bởi tiền tôi yểm trợ hôm nay là tiền Đồng Bào yểm trợ tôi qua mua sách, mua DVD. Tôi không đi làm việc, không nhận Fund của chính phủ nên đâu có tiền riêng để yểm trợ?!’ TS Thắng không chỉ ‘Mượn hoa cúng phật, mượn đầu heo nấu cháo, chôm credit’ mà còn ‘Cướp công’ Đồng Bào theo kiểu VC ‘Cướp chính quyền.’ Biến một cuộc đấu tranh thành công nhất của CDTNVN từ trước đến nay trở thành cuộc vinh danh thành tích tổ chức YVAL riêng của mình không phải là một bậc đại sư phụ hay sao? Đây không phải là điểm cốt lõi của sách: Thông Điệp Hy Vọng & Trách Nhiệm trong đó TS Thắng dạy cách ‘đào tạo lãnh đạo, khả năng lãnh đạo cho thế hệ nối tiếp, các chuyên gia những nguyên tắc căn bản để thành công từ việc nhỏ đến việc lớn?!?’”
“Còn nữa…” Tôi hỏi: “Còn gì?” Anh bạn bảo: “TS Thắng còn là một bậc đại sư phụ về Anh ngữ. Ông ấy tốt nghiệp bằng Tiến sĩ ngành Kỹ sư Cơ khí, nhưng rất giỏi về Anh ngữ. Ông dịch từ “Grassroots” là “Rễ cỏ” và lập lại từ này 2 lần trong bài Cuộc Vận Động Hai Ngày: Bước Đầu Vững Chãi như “Cuộc vận động ở tầm rễ cỏ của tập thể người Việt ở Hoa Kỳ lần đầu tiên này… Họ là những hạt mầm để phát động các cuộc vận động tầm “rễ cỏ” ở từng địa phương” và trong bài ngày 6 tháng 3, 2012 (không nhan đề) TS Thắng lập lại tử “Rễ cỏ” 4 lần: “Người Mỹ gọi đó là vận động chính sách ở tầm rễ cỏ (grassroots policy advocacy). Và chúng ta đã chứng tỏ được khả nặng huy động lẫn nhau ở tầm rễ cỏ ấy Yếu tố để tạo nên chiến dịch rễ cỏ là phải có chủ điểm cụ thể… Vân động ở tầm rễ cỏ là một yếu tố cần thiết để bổ trợ cho cuộc vận động trong hậu trường…”
Một số từ ngữ thường có nghĩa đen và nghĩa bóng. Những tục từ như “Cock” vừa có nghĩa “Con gà trống” vừa có nghĩa “Con C…” hay từ “Pussy” vừa có nghĩa “Con mèo” vừa có nghĩa “Cái L…” nhưng riêng từ “Grassroots” không hề có nghĩa “Rễ cỏ” mà chỉ có nghĩa:
1. Từ điển Lạc Việt:  
* Grassroots: (thông tục) Những người dân thường (đối lại với những người có quyền hành); (nói chung) thường dân. We must not forget about the grassroots: Chúng ta không được quên dân chúng. Dissatisfaction at the grassroots: Sự bất mãn trong dân chúng.
* Grassroots: nền tảng; cơ sở.
* The rank and file: Lính thường (chứ không phải sĩ quan); các chiến sĩ, những hội viên bình thường của một tổ chức. The rank and file of the party: Những đảng viên thường. Rank-and-file workers: Những công nhân thường.
(1) the common or ordinary people, especially as contrasted with the leadership or elite of a political party, social organization, etc.; the rank and file.
(2) the agricultural and rural areas of a country.
(3) the people inhabiting these areas, especially as a political, social, or economic group.
(4) the origin or basis of something; the basic or primary concept, rule, part, or the like.
IV. TẠI SAO TỔNG THỐNG OBAMA KHÔNG TIẾP PHÁI ĐOÀN TNT?
Việc gặp, chụp hình với Tổng Thống Mỹ (TT) thật ra không phải là một việc bất khả. Chỉ cần yểm trợ yểm trợ Quỹ Tranh Cử của Tổng Thống khoảng 50 ngàn MK là có thể được dành 10-15 phút gặp TT tại TBO như vài nhóm đã từng gặp TT Bush trước đây. Đóng vài ngàn MK có thể dự tiệc chung với TT trong các tiệc vận động tranh cử. Chỉ cần yểm trợ TT 100MK là hàng ngày đều nhận email hoặc từ TT, Đệ nhất Phu nhân, hoặc Chủ tịch Ban Vận động, và trong vài dịp lễ đặc biệt còn được nhận thư của TT gửi tận nhà. Không tin quý vị vào trang web sau đóng từ 75MK trở lên xem sao:
Donate $75 or more to the Two-Term Fund to re-elect the President today: https://donate.barackobama.com/Why-Wait
Nguyễn Khoa Lộc vừa báo tin con gái học lớp 5 đã đoạt chức vô địch cuộc thi Spelling Bee tại một số vùng và hiện đang nỗ lực để giật chức vô địch toàn quốc để được diện kiến TT Obama. Cháu sẽ dùng dịp nầy đạo đạt “đề nghị TT thả hết các tù nhân lương tâm tại VN và ý kiến Mỹ nên tấn công Trung Cộng để diệt trừ hiểm họa cho thế giới,” để bù vụ Phái đoàn không được TT Obama tiếp!
TS Thắng tin tưởng TT Obama sẽ tiếp Phái đoàn nên đã thông báo tin vui nầy, nhờ vậy đã tạo nên niềm hứng khởi cho 4-500 người từ khắp các Tiểu bang, đến Châu Úc, Châu Âu bỏ công sức, tiền bạc lên đường mong có dịp thăm TBO và Photo op với TT Mỹ. Tôi cũng tin tưởng điều đó vì nghĩ rằng TT Obama sẽ không bỏ lỡ cơ hội gặp 200 người đủ thành phần, đại diện mọi CDNVTN địa phương để kiếm phiếu cho kỳ bầu cử sắp đến. Tôi chỉ ngại những biến động quan trọng bất ngờ xảy ra trong thời điểm nầy có thể làm hỏng kế hoạch như: Do Thái tấn công Iran , cơn lốc xoáy có thể gây thiệt hại trầm trọng tại vùng Tây Bắc, khủng bố bất ngờ đánh bom Thủ đô v.v… Nhưng không ngờ biến cố chính lại là Tổ chức YVAL của TS Thắng! Tại sao có thể khẳng định như vậy? Quý vị thử đặt mình vào vị trí của TT Obama. Chính phủ của Obama đã và đang cấp cho TS Thắng hàng trăm ngàn MK hàng năm để làm các công tác xã hội, đặc biệt Chương trình Huấn luyện và Đào tạo các Leaders trẻ tương lai cho CDTNVN. Thay vì dùng tổ chức YVAL để yểm trợ TT, TS Thắng lại dùng “145 ngàn thành viên của YVAL” gây áp lực với TT, buộc TT phải thực thi những yêu sách của Tổ chức mình, một hành động phản bội, theo sự hiểu lầm của TT Obama dựa trên việc lạm danh của TS Thắng và LS Tuyết Dương. Việc “cướp công” này không chỉ làm thiệt hại cho quyền lợi của NVTNCS nói chung và 145 người ký TNT nói riêng, còn tác động ngược cho YVAL của TS Thắng qua việc sẽ bị mất sự sủng ái của TT Obama, nhất là khi Cử tri người Việt do thất vọng dồn phiếu cho phe Cộng Hòa, có thể bị cắt Fund chính phủ trong tương lai để trừng phạt, lại còn bị SBTN và Trúc Hồ tẩy chay trong các cuộc vận động tương lai cũng như sẽ mất tín nhiệm của Đồng Bào một khi họ hiểu được nguyên nhân thầm kín gây thất bại vừa qua.
V. MỘT THỈNH NGUYỆN THƯ MỚI? NS Trúc Hồ đang có ý định nộp một TNT mới để biểu dương lực lượng vì nghĩ rằng TNT mới có thể đánh bại kỷ lục của TNT vừa qua! Theo ngu ý cá nhân, tôi nghĩ rằng, ngoài việc làm có tính tư lợi của TS Thắng với hậu quả xấu, những phát biểu hậu TBO thiếu cẩn trọng vừa qua của NS Trúc Hồ cũng đang gây ảnh hưởng bất lợi cho các cuộc vận động tương lai. Trong 145 ngàn chữ ký này, thành phần tích cực nhất và đông đảo nhất chắc chắn thuộc “Thành phần chống Cộng cực đoan” và những người Việt ủng hộ Đảng Cộng Hòa. Giờ nầy Trúc Hồ đã công khai tuyên bố chống lại và coi những hành động bạo loạn và lật đổ Chế độ VC là sai trái và sẵn sàng “Dâng” 145 ngàn phiếu của những người ký TNT cho TT Obama thì chắc chắn 2 thành phần trên sẽ không còn tích cực yểm trợ các cuộc vận động tương lai của NS Trúc Hồ, chưa kể đã và sẽ có nhiều bài phê bình về lập trường đấu tranh của Trúc Hồ và SBTN phát xuất từ những phát biểu phi chính trị và lập trường chống Cộng quá khoan nhượng nầy.
Nếu xem việc ký TNT là phương tiện tối ưu để đạt được 2 mục tiêu: Giải cứu những tù nhân lương tâm và đạt được giải pháp Nhân quyền cho VN thì chắc chắn chúng ta sẽ ngày càng thất vọng. Dù có đạt kỷ lục 1 triệu chữ ký nhưng nếu chúng ta vẫn tiếp tục thờ ơ trong việc đi bầu và yểm trợ tài chánh trong các cuộc bầu cử cấp Tiểu bang và Liên bang thì các Quan chức Dân cử Mỹ cũng chẳng phí sức, nhọc công tranh đấu, bênh vực ta do thiếu thủ tục đầu tiên: “Có qua có lại mới toại lòng nhau.”
Chỉ có Tiền và Phiếu mới làm họ “care.” Người Do Thái không hề ký TNT nhưng có ảnh hưởng lớn đến Chính sách Chính phủ vì họ sẵn sàng chi những số tiền lớn để vận động hành lang. Người Cuba không hề ký TNT nhưng có sức mạnh vì họ biết dùng sức mạnh của lá phiếu, đặc biệt biện pháp Block Vote tại Swing State như Florida. Vừa không đi bầu, vừa không yểm trợ tài chánh, thiểu số cử tri lại bầu phân tán và cư ngụ tại các “Safe State” như California (Tiểu Bang của Đảng Dân chủ) thì đúng như câu:“Có mợ (Việt) thì chợ (phiếu) vẫn đông. Không mợ thì chợ cũng không vắng người!”
Ngay cả với sức mạnh lá phiếu block vote tại swing state như dân Cuba , nước Cuba vẫn còn chưa thoát nổi bàn tay cai trị của Tập đoàn Mafia đỏ Castro. Ngay cả sức mạnh tài chánh vô hạn như dân Do Thái, nước Do Thái vẫn thường xuyên bị đe dọa đến sự tồn vong bởi các thế lực và quốc gia Hồi giáo cực đoan và Do Thái phải tự lực trong 4 cuộc chiến quan trọng: (1) Cuộc chiến năm 1947-1948; (2) Cuộc chiến kinh đào Suez năm 1956; (3) Cuộc chiến thần tốc năm 1967 và (4) Cuộc chiến Yom Kippur năm 1973.
Không một Chế độ độc tài nào trong lịch sử loài người tự thay đổi và tự cải thiện. Chúng tiếp tục trường trị nếu không bị chính dân mình đứng lên lật đổ. Đừng quên câu nói bất hủ Yeltsin: "Cộng sản chỉ có thể thay thế chứ không thể thay đổi được!" 23 cuộc cách mạng toàn thế giới đã chứng minh điều đó. Mùa Xuân Ả Rập đã chứng minh điều đó. Nếu người dân Tunisia, Ai Cập, Libya, Yemen không đứng dậy tự cứu mình Ben Ali, Hosni Mubarak, Muammar Kaddafi, Ali Abdullah Saleh vẫn còn ngự trị ngai vàng. Ngay cả sau khi hơn 8 ngàn dân Syria hy sinh, Mỹ và các cường quốc tự do, LHQ vẫn chưa có đủ quyết tâm nhúng tay hạ bệ al-Assad. “Aide-toi, le ciel t’aidera!” (Hãy tự cứu mình trước khi Trời cứu!) Hãy tự cứu trước khi Hoa Kỳ, các Cường Quốc Tự Do, Liên Hiệp Quốc cứu ta như đã cứu Libya trước đây và sẽ cứu Syria trong tương lai.
Mặc dù tinh thần ái quốc và lòng can đảm của NS Việt Khang đáng cho mọi người ngưỡng phục, nhưng giữa hành động ôn hòa của Việt Khang, được NS Trúc Hồ xem là mẫu mực đấu tranh toàn hảo, và hành động cực đoan có tính bạo loạn của Đoàn Văn Vươn, có thể NS Trúc Hồ bất đồng nên không ghi tên trong TNT, tôi đưa một thí dụ cụ thể để so sánh xem hành động nào gây hiệu quả thực tiễn hơn:
1. Việt Khang với Anh Là Ai: Nếu có một toán 10 tên Công An cầm dùi cui đang tiến về nhóm người chống đối với số lượng 1.000 người (kể cả 10.000 người) và những người này cùng Việt Khang ca vang bài: Anh Là Ai, ta có tin rằng toán Công An sẽ sợ hãi mà quay đầu lại? Chắc là không!
2. Đầu Gấu-Đại Bàng với Mày Là Ai: Bây giờ nhóm biểu tình chỉ có 20 người, nhưng gồm toàn Đầu Gấu, Đại Bàng…những “dân chơi” dữ dằn, táo bạo, và họ gào lớn bài: “Mày Là Ai dựa theo Anh Là Ai bằng những từ ngữ đốp chát:
“Bố hỏi mày là ai? Sao dám bắt bố hở lũ tay sai? Bố hỏi mày là ai? Mà dám động thủ chẳng sợ chặt tay? Bố hỏi mày là ai? Mà dám ngăn bố xuống đường tỏ bày, Khi Quê Hương này, Dân Tộc này đang lầm than, đắng cay! Bố hỏi mày ở đâu? Dám ngăn ta chống giặc Tàu ngoại xâm. Bố hỏi mày ở đâu? Dám mắng ta bằng giọng nói dân ta? Dân tộc mày ở đâu? Sao đang tâm làm tay sai cho Tàu? Để ngàn sau ghi dấu. Bàn tay mày nhuộm đầy máu đồng bào. Ta không thể ngồi yên,  Khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng, Dân tộc ta sắp phải đắm chìm, Một ngàn năm hay triền miên tăm tối. Ta không thể ngồi yên, Để đời sau cháu con ta làm người. Cội nguồn ở đâu? Khi thế giới nay đã không còn Việt Nam?” thì chắn chắn bọn 10 tên Công An sẽ chùn bước bởi sợ số 20 người sẵn sàng đối đầu dám tấn công hành hung mình.
3. Đoàn Văn Vươn với Súng Hoa Cải & Mìn Tự Chế: Nếu người chống đối chỉ một mình nhưng lại trang bị bằng Súng Hoa Cải & Mìn Tự Chế như Đoàn Văn Vươn, thì 10 tên Công An sẽ “chẫu” ngay nếu không ít nhất 6 tên sẽ chịu chung số phận như đám Công An, Bộ Đội trong vụ cưỡng chế khu đầm thủy sản ngày 5/1/2012 tại Huyện Tiên Lãng! Phân tách rạch ròi để thấy cùng một bản chất can đảm, anh hùng trên trận tuyến đấu tranh, biện pháp sử dụng định đoạt nhân vật nào “nặng ký” hơn và cần được dồn nhiều nỗ lực hơn khi can thiệp.
LÝ TỐNG