Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Friday, December 15, 2023
TP - Lẩn thẩn nhớ thêm cái tặc lưỡi chép miệng của ông Tạ Đình Đề năm xa ấy. Ông Đề có hé chi tiết: Ông Việt có người chị ruột là Đặng Thị Lý - vợ của Thủ tướng Việt Nam Cộng hoà Phan Huy Quát.
Các cô em, Đặng Thị Tâm, Giáo sư Tiến sĩ ngành Tâm lý trẻ em tại Illinois (Hoa Kỳ), Giáo sư Đặng Văn Kỳ đang dạy ở Polytechnique (Pháp) và bà chị gái sống ở Sydney (Úc).
Như một đoạn mờ nhòe, một khúc quanh trong lý lịch mà sau này, ông Việt không muốn nhắc, cũng chẳng muốn luyến láy mà làm chi điệp khúc của ngày buồn ấy?
ADVERTISING
Từng chỉ huy Trung đoàn có những người lính, những tài năng quân sự hiếm hoi như Chính trị viên Chu Huy Mân, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu An mà chỉ sau một thời gian ngắn họ trở thành những danh tướng nước Việt, ông Đặng Văn Việt vẫn chỉ là trung tá. Vâng, thời điểm chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và dằng dặc lê thê mãi cho đến tận khi nhắm mắt xuôi tay, người lính ấy vẫn mãi đeo hàm trung tá, hàm cấp mà năm 1947 tướng Giáp đã phong tặng cho ông!
Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt sẽ phải tạm biệt Trung đoàn 174 thân yêu suốt gần 7 năm trận mạc cùng vào sinh ra tử đi nhận nhiệm vụ mới. Đó là việc phụ trách trường Sĩ quan Lục quân đóng ở Trung Quốc. Trong khi đó Trung đoàn 174 của Đặng Văn Việt được lệnh hành quân gấp lên chiến trường Điện Biên.
Vị chỉ huy trung đoàn tài ba thời điểm ấy tuy muộn nhưng cũng nhận được tin dữ từ Diễn Châu loang ra. Nỗi buồn mất bố cùng gia đình ly tán không rõ sống chết lành dữ thế nào?
Sao lại không tâm tư, không suy nghĩ cho được?
Có lẽ tài danh trên Mặt trận Đường 4 đã cứu con hùm xám Đặng Văn Việt khỏi mắc vào cái nạn cùng cái hạn là bị buộc phải rời quân ngũ để lê gót về quê nhà Diễn Châu chịu cảnh đấu tố với cha mình như nhiều sĩ quan quân đội khi ấy?
Và sau khi hoàn thành nhiệm vụ phụ trách Trường lục quân, việc chuyển ngành đầu năm 1960 làm Cục phó Cục xây dựng cơ bản thuộc Bộ Xây dựng cũng là thứ may mắn, an ủi với trung tá Đặng Văn Việt?
Những ngày tàm tạm yên hàn sau này, ông Việt bất ngờ có thời điểm sững sờ, nỗi mừng biết lấy chi cân khi đột ngột nhận được tin nhắn của một người em ruột ly tán ngày ấy đang yên ổn định cư ở xứ người.
Một ngày cuối xuân 1998, chuông điện thoại nhà ông Việt đổ từng hồi dài. Người con dâu nhận ra giọng của một người nước ngoài. Ông Việt cầm lấy máy.
Đầu dây bên kia văng vẳng chất giọng đặc Pháp.
… Người ấy xưng là Marcel Bigeard, thiếu tá cựu tù binh trong trận Điện Biên Phủ. Sau người ấy là Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Cộng hoà Pháp, hiện đã nghỉ hưu. Ông nói hiện đang ở khách sạn Thăng Long Hà Nội. (Chỗ này cần nói rõ, hiện có chỗ ghi ông Marcel Bigeard là trung tá thời ở Điện Biên Phủ. Người viết ghi theo tư liệu của ông Đặng Văn Việt là thiếu tá).
Cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp Marcel Bigeard sang du lịch Việt Nam cùng với một số cựu binh đường 4 năm xưa. Ông thay mặt anh em cùng đi muốn mời “đại tá” Đặng Văn Việt chỉ huy Mặt trận đường 4 năm xưa đến dự bữa cơm thân mật tại khách sạn Thăng Long!
Cú điện thoại đột ngột khiến ông Việt suy nghĩ rất lung. Sau mới biết thông qua Hội Cựu chiến binh Việt Nam, ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp đã hồi hưu mới biết số điện thoại nhà riêng của ông Việt.
Hai người Âu cao lớn đón ông Việt tận cổng khách sạn Thăng Long. Sau ông Việt mới biết hai ông ấy đều là đại tướng. Đại tướng Bigeard, nguyên chỉ huy quân dù ở Điện Biên Phủ; và đại tướng Bizard, năm 1950 là trung úy, Phó Chỉ huy phân khu Na Sầm năm xưa.
Bigeard thân mật khoác tay ông Việt vào căn phòng rộng. Ở đó có 8 đại tá cựu binh đã chờ sẵn. Tất cả đã già. Tất cả đều nguyên là tù binh trận đường 4. Và tất thảy đều đứng dậy vỗ tay ran chào mừng vị khách mới tới!
Vào tiệc, đại tướng Bigeard nói lý do cuộc gặp và bày tỏ niềm vui được du lịch Việt Nam nên mới có cuộc hội ngộ hôm nay.
Khi được mời phát biểu, ông Việt nói chất giọng Pháp còn giòn rôm rốp: Tôi chưa bao giờ mang hàm đại tá. Các bạn hãy gọi tôi là trung tá. Hàm trung tá mà Tướng Giáp đã phong cho tôi từ năm 1947. Mà thôi, hãy gọi tôi là người lính già Đặng Văn Việt.
Tướng Bigeard đứng dậy giọng xúc động:
Thưa ngài, chúng tôi là những cựu binh Pháp đã chiến đấu trên Đường 4 và tại một số mặt trận ở Đông Dương xin được kính chào ngài là người chỉ huy, người chiến thắng tại Mặt trận Đường số 4 một người mà chúng tôi phải kính nể…
Thiếu tá Bigeard - Sau trở thành Bộ trưởng Quốc phòng Pháp (giữa) thời ở chiến trường Đông Dương
Chúng ta gặp nhau nhiều lần trên chiến trường mà chưa biết mặt nhau. Nay lịch sử sang trang, chúng ta gặp nhau không mặc cảm không hận thù. Hãy cùng nhau hàn gắn vết thương chiến tranh xây đắp tình hữu nghị hai dân tộc Việt - Pháp các bạn đồng ý không?
Mọi người vỗ tay. Vui vẻ cùng ăn uống, chuyện trò ôn lại những kỷ niệm một thời trận mạc.
Sau cùng, tướng Bigeard ngỏ nguyện vọng đoàn sẽ đi thăm chiến trường xưa và tha thiết mời người lính già Đặng Văn Việt đi cùng!
Cuộc hành trình kéo dài 3 ngày 2 đêm.
Đoàn đến Na Sầm nơi chiến trường mà trung úy Bizard từng đảm trách. Vị sĩ quan đứng lặng hồi lâu. Rồi Bizard rẽ lá vạch lau gai tiến vào vị trí cũ của đồn binh ngày trước. Tướng Bizard bồi hồi giới thiệu đâu là nơi ở của ông ngày trước, cùng cung cách bố trí nghiêm ngặt như thế nào. Vị tướng không quên nhắc lại đồn đây từng được mệnh danh là Le NidD’Algle (Ổ đại bàng).
Dọc đường 4 nhiều cứ điểm, ổ đề kháng mà quân của Đặng Văn Việt với Pháp từng quần nhau ác liệt 2-3 lần. Khi nghe Đặng Văn Việt giới thiệu tỷ mỉ phương án tác chiến của Trung đoàn 174 trên đường 4, tướng Bizard lắc đầu: Các ngài đánh thế chúng tôi thua là phải.
Thăm pháo đài Đông Khê, cả đoàn lại nghe một lượt lời giới thiệu của tướng Bizard phân tích cách bố phòng vòng trong vòng ngoài - nơi mà đại tá Charton ra lệnh tử thủ và khẳng định Việt Minh không thể nào chiếm được!
Tướng Bizard đang nói sự thực… Ông Đặng Văn Việt chợt nhớ đánh Cao Bằng sẽ rất khó, tổn thất nhiều. Đặng Văn Việt ngày ấy đã mạnh dạn đề đạt với Võ đại tướng cho đánh cứ điểm Đông Khê và được chấp thuận. Đánh Đông Khê và bắt sống Bizard.
Trên xe hay lúc tới thăm lại chiến trường, ôn lại những trận đụng độ ác liệt… chuyện nở xôm tụ. Hai ông già Đặng Văn Việt và Bizard luôn ngồi cạnh nhau. Có lúc gà gật ngả đầu vào vai nhau. Hai đêm ngủ, hai người cùng chung một phòng ở khách sạn được coi là tươm nhất.
Năm 2005, ông Đặng Văn Việt lần đầu được đặt chân đến Paris theo lời mời của một người em từng lưu lạc sau biến cố cải cách ruộng đất. Một khung cảnh, một cuộc hội ngộ khá là ngoạn mục. Được đại tướng Bigeard báo trước nên hàng trăm cựu binh đường số 4 và Điện Biên Phủ đã kéo đến nơi ở của Đặng Văn Việt. Rất nhiều vợ con của họ cũng theo đến.
Được tin người lính già Đặng Văn Việt đến Paris - vì lý do sức khỏe, từ quê nhà ở Bretagne, đại tướng Bigeard, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Pháp gửi lên Paris một bức điện.
Tôi nhận được tin ngài đến Paris, vì điều kiện tuổi tác và sức khỏe, tôi không thể đến thăm ngài được. Tôi rất yêu quý Việt Nam. Tôi đã để một phần trái tim của tôi ở đất nước ngài. Khi nào tôi qua đời, một phần tro của tôi xin được gửi qua Điện Biên Phủ để bên cạnh các bạn chiến đấu cũ của tôi.
Bạn thân của ngài. Tôi ôm hôn ngài.
Tháng 9 năm 2005.
Bigeard!
Cũng cần nói thêm trước chuyến đi du lịch Pháp ấy của người lính già Đặng Văn Việt, một tổ chức có tên ANAPI (Asociaton Nationale des Anciens Prisonniers D’Indochine - Hội Cựu tù binh Chiến tranh Đông Dương quốc gia) có hơn 2.000 hội viên do Đại tướng Bruneau làm chủ tịch; Năm 2000 Hội đã tổ chức một đoàn du lịch gồm 330 cựu binh Pháp thăm Việt Nam. Họ đã tìm gặp người lính già Đặng Văn Việt và mời ông gia nhập đoàn!
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam khi ấy là tướng Đặng Văn Quang đã tiếp Đoàn tại trụ sở Bộ Quốc phòng. Buổi gặp đó trung tá Đặng Văn Việt được mời dự trân trọng và cũng được mời tham gia đoàn cựu binh Pháp đến chiến trường xưa trên đường 4 là Cốc Xá - Quang Liệt. Nơi hai binh đoàn Le Charton và Le Page bị xóa sổ năm 1950. Đặng Văn Việt đã cùng các cựu binh Pháp dâng hương tưởng nhớ những người ở hai trận tuyến đã ngã xuống nơi này!
Tháng 6 năm 2006 Đại tá Charles De Pirey, thành phần trong Đoàn thăm đã viết một bức thư dài gửi ông Đặng Văn Việt:
… Chúng tôi - những đơn vị chiếm đóng đã từng cày nát con đưởng tử địa này và đôi lúc là kẻ chiến thắng nhưng thất bại là phần lớn. Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên khi khám phá ra kẻ đối địch nguy hiểm nhất, kẻ đã làm chúng tôi thất điên bát đảo trên đường số 4 này lại là một thanh niên chưa đầy 30 tuổi - người chỉ huy các lực lượng vũ trang Việt Minh trên một vùng chiến lược quan trọng. Đó là trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 Đặng Văn Việt!
… Giữa Đông Khê và Thất Khê, Binh đoàn của đại tá LePage tiếp theo là binh đoàn của đại tá Le Charton bị xé lẻ, bị tiêu diệt từng phần từ mồng 2 đến mồng 8 tháng 10 năm 1950 bởi hơn 20 tiểu đoàn quân chính quy của Việt Minh. Riêng Trung đoàn 174 từ phía Nam Thất Khê được lệnh của tướng Giáp ngược lên phía Bắc bủa vây mạng lưới dọc theo sông Bắc Khê.
Quân của Đặng Văn Việt đã đón lõng và bắt sống một số lớn lính thuộc những đơn vị xé lẻ của tàn quân Pháp tan tác phá vòng vây ở Cốc Xá - Quang Liệt để chạy về Thất Khê - Na Sầm trong đó có đơn vị tôi. Hai đại tá đã bị bắt.
Ông Việt đã nghiêm cấm không được giết tù binh. Ông nói với lính ông cho tù binh ăn uống. Tôi biết quân của ông Việt cũng thường xuyên bị đói.
Ông có suy nghĩ sâu sắc về chính trị, về triết lý của một người có tâm hồn cao đẹp, trong sáng!
Còn lời lẽ trong một bức thư khá độc đáo mà Đại tướng Bruneau Cornual, nguyên là một tù binh Đường 4 viết cho Đặng Văn Việt sau chuyến thăm Việt Nam đáng nhớ ấy.
Chúng tôi, những cựu binh Pháp đánh giá ngài rất đúng đắn. Tất cả chúng tôi đều thống nhất nhận định rằng ngài là một cựu binh thẳng thắn và đầy tính trượng phu mưu trí.
Và chịu khó một cách phi thường.
Thursday, December 14, 2023
Shohei Ohtani (大谷 翔平, Ōtani Shōhei, born July 5, 1994
"Trong mùa hè 1950, Võ Nguyên Giáp, TL của các lực lượng Việt Minh Cộng Sản (VMCS), đã lập -- tại TQ -- một mô hình lớn như thật của đồn biên giới của Pháp tại Đông Khê.
Trong nhiều tuần, các bộ đội mới tuyển của Tướng Giáp, đang được đào tạo và trang bị bởi những người CS chiến thắng trên lãnh thổ TQ, đã thực tập tấn công mô hình này. Trong khi đó, 100.000 lính Trung hoa Dân quốc, bị bắt trong những giai đoạn cuối của nội chiến đã chấm dứt vào năm trước, ý nói năm 1949, đã lao động để mở một con đường xuyên rừng núi để tới đồn Đông Khê hầu chuẩn bị cho cuộc tấn công của tướng Giáp.
Nằm trong một thung lũng xanh tươi dưới sự bảo vệ của 200 lính Lê-dương Pháp, Đông Khê ko có vẻ là một mục tiêu dễ dàng của VM. Vì Lính Lê-dương rất thiện chiến và kỷ luật, toàn dân tình nguyện từ khắp nơi trên thế giới, có cả cựu binh Đức Quốc Xã, và sau khi phục vụ 3 năm hay bị thương, họ đương nhiên nhập quốc tịch Pháp-- người dịch. Nhưng khi VM cuối cùng đã tấn công Đông Khê ngày 16/9/1950, tràn ngập đồn này và ko ai sống sót: thì đây lại là khởi đầu của giai đoạn quyết định của cuộc chiến Đông Dương để dành độc lập từ tay Pháp.
Địa thế ở biên giới rất hiểm trở. Ở phía đông của biên giới, ý nói dọc đường số 4, có hàng trăm núi đá vôi có đỉnh như răng cưa (jagged), những thung lũng dốc đứng và những khu rừng ở vệ đường 4 mà bộ đội VM có thể ẩn núp để phục kích và hủy diệt các đoàn công-voa. Ở phía tây của biên giới, gần Lào Cai, núi cao tới 11 ngàn bộ hay 3.353 mét, ko thua gì núi Rockies ở Mỹ.
Với Đông Khê thất thủ, thị xã Cao Bằng, đầu mút phía tây của đường 4, và nằm phía trên của Đông Khê, đã bị cô lập đường bộ. TL Pháp ra lịnh di tản đường bộ, trên con đường mà VM đã kiểm soát. Ngày 3/10/1950, 2.600 lính phòng thủ ở Cao Bằng bắt đầu đi về phía nam trên lộ 4. Họ gồm có lính Lê-dương, phần lớn là dân Đức, Bắc Phi và thổ dân địa phương trung thành với Pháp, cùng với 500 dân thường người Việt.
VM rất rành địa thế vùng này. Năm 1941, khi HCM, còn là một thành viên của Quốc tế CS, đã trở về VN sau 30 năm vắng mặt, và lập BCH của ông trong một hang gần Cao Bằng. Ở đây, ông, tướng Giáp và Phạm văn Đồng đã thành lập VM.
Kế hoạch di tản của Pháp bao gồm đưa một đoàn quân cứu viện với 3.500 lính Ma-rốc tiến về phía bắc để bắt tay với đoàn người rút từ Cao Bằng. Nhưng VM đang chờ họ ở Đèo Tuna, và trong một trận đánh 4 ngày, khiến họ phải chạy vào rừng và gần như giết tới người cuối cùng.
Rất mất bình tỉnh trước thảm họa này, kế đó Pháp đã bỏ Lạng Sơn, một thị xã quan trọng ở biên giới và lúc đó là một "thành phố đẹp với 10 ngàn dân xây theo kiểu tỉnh lẻ của Pháp với những đường rộng và những nhà thấp sơn màu vàng," theo Seymour Topping, trong sách "Journey Between Two Chinas."
Lạng Sơn nằm hai bên của giao điểm của đường 4 và đường số 1, con đường chánh vào TQ, ở cách đó 24 km. Đây là con đường mà con đường TQ dùng để xâm lăng VN trong các thế kỷ trước, cũng là đường mà các sứ giả VN xử dụng khi triều cống TQ.
Trong năm 1950, Pháp rút bỏ Lạng Sơn hấp tấp đến độ họ đã quên ko phá hủy những kho tiếp liệu lớn gồm 11 ngàn tấn đạn, số lượng lớn xăng dầu và súng trường đủ trang bị cho một sđ VM!
Bernard Fall, một trong những sử gia của thời cận đại, đã nói về thất trận của Pháp trên đường 4 như sau: "Khi khói súng đã tan, Pháp đã chịu một tổn thất lớn nhứt trong chiến tranh thuộc địa kể từ Montcalm chết tại Quebec". Hầu tước Pháp Montcalm (Mông-cam-mờ) bị thương và chết ngày 14/9/1759 -- người dịch.
Tưởng cũng nên nhắc lại, trận đánh lớn đầu tiên trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt đã xảy ra ngày 25/7/1948 trên đồn Phủ Tống Hòa trên đường thuộc địa số 3, viết tắt theo tiếng Pháp là RC3. Hơn 3 ngàn lính bộ binh VM đã mở một tấn công ban đêm vào đồn này, nằm gần Bắc Kạn ở ngã tư đường số 3 và Đường Ba Bể. Tới rạng đông, lính Lê-dương vẫn còn cầm cự, và VM rút lui. Sau trận này, các tướng Pháp quyết định bỏ đường số 3 và tập hợp lực lượng trên trục Cao Bằng - Lạng Sơn. VM đã chọn chiến thuật quấy rối quân Pháp, và để làm điều đó, họ đã lập trung đoàn 174, chỉ huy bởi ĐT Đặng văn Việt, có biệt danh là Hùm Xám Đường 4. Trong khi đó, Pháp đã tăng cường và cũng cố các đồn trên đường 4.
Do các đoàn công-voa từ Lạng Sơn đi Cao Bằng thường xuyên bị phục kích, nên tháng 6 1949, tướng Revers (Rê-ve) đề nghị bỏ khu vực này, nhưng đã bị Pignon (Pi-nhông), cao ủy Pháp tại Đông Dương từ chối, vì cho việc này làm mất mặt Pháp. Năm 1950, sau nhiều chiến thắng của VM, kế hoạch của Rê-ve được chấp thuận, nhưng quá trể.
. . .
Trận đánh ở đường 4 ko phải là một trận đánh cổ điển, nhưng là một loạt các phục kích, tấn công, phản công, và truy đuổi ko ngừng nghỉ và đẫm máu. Nó đã diễn ra từ ngày 1 đến 8 tháng 10 chung quanh vùng núi đá vôi của Đông Khê. Đoàn quân tiếp viện bị đánh tan tác và đói khát của ĐT Le Page (Lơ Pa-dơ) gồm TĐ 11 Tabor và TĐ Dù Lê- dương ngày 6/10 đã tập hợp tại Cốc Xá sau trận đánh ở Nà Kéo. Cốc Xá, một lòng chảo (circus hay cauldron) tăm tối, khống chế bởi những vách đá cao với chỉ một lối ra - một lối đi chật hẹp có tên là Nguồn nước - đã trở thành địa điểm của một tấn công đẫm máu nhứt của chiến tranh Đông Dương. Ở Cốc Xá, quân Pháp nhận ra rằng họ bị bao vây bởi các TĐ 249 và 308 của VM, và lối thoát duy nhứt là con đường có tên Nguồn nước.
Ngày 7/10, ngay trước bình minh, TĐ Dù Lê-dương phá vòng vây này bằng một giá rất đắt: cái chết của tất cả đại đội trưởng và nhiều lính Lê-dương. Giữa ngày 7 và 8, ĐT Việt và VM tiếp tục đánh tan hai đạo quân này, giờ đây đã biến thành những toán nhỏ phân tán mỏng và mất tích trong rừng. Chỉ có vài đv Pháp tới được làng Thất Khê, di tản sau đó vào ngày 10/10, kế đó là Lạng Sơn ngày 17/10/1950.
Đường thuộc địa số 4, viết tắt theo tiếng Pháp là RC4, là một đường chạy ngang qua núi rừng, nằm dọc biên giới Trung Hoa, đi từ Hà Nội đến Cao Bằng. Nó nổi tiếng vì một thất bại lớn về quân sự của Pháp vào năm 1950 khi một số đv của quân đội Pháp, bao gồm vài TĐ lính Lê-dương (là những người lính thiện chiến và có tinh thần đồng đội cao), đã bị thiệt hại nặng (decimate) bởi VMCS và ko còn khả năng chiến đấu.
Trong chiến tranh Đông Dương 1945-1954, quân Pháp định tái lập chế độ thuộc địa lên VN. Giai đoạn đầu, lực lượng VM ko phải là đối thủ của quân Pháp vì trang bị thô sơ và huấn luyện sơ sài, so với quân Pháp. Tình hình này đã cải thiện vào năm 1949 sau khi quân đội TC của Mao Trạch Đông đã đánh bại quân đội Quốc Gia của Tưởng Giới Thạch. Giờ đây VMCS đã có một vùng đất an toàn bên kia biên giới để tổ chức và huấn luyện, cũng như được một đồng minh đầy cảm tình giúp đỡ về võ khí và tiếp liệu.
Tướng Giáp, đã mở một đợt tấn công chống Pháp từ đầu 1950. Từ tháng 2 đến tháng tư là HQ Lê Hồng Phong I suốt Thung lũng Sông Hồng, đã khiến VM gần như kiểm soát khu vực tây bắc của Bắc Kỳ, gần biên giới TQ. Khu vực này trở thành một căn cứ của VM, trừ đường thuộc địa số 4.
TRẬN ĐÔNG KHÊ TRÊN ĐƯỜNG SỐ 4
Ngày 25/5, hai ngàn năm trăm bộ đội VM đã tràn ngập đồn Pháp tại Đông Khê, cắt đường tiếp tế của quân Pháp giữa Cao Bằng và Lạng Sơn. Quân Dù Pháp đã tái chiếm Đông Khê vào tối ngày 27/5 và một đại đội lính Lê-dương giữ đồn.
Trong khi đó, quân chánh quy, còn gọi là Chủ Lực, đang ngày càng lớn mạnh và huấn luyện tốt hơn. Vào đầu tháng 9, họ có khoảng 100 ngàn quân chia làm 70 TĐ, cộng với 33 TĐ quân địa phương (40 ngàn người) và khoảng 60 ngàn dân công địa phương (local support personnel). Từ đây Giáp đã bắt đầu quấy rối các đồn bót Pháp dọc Đường 4 với mìn và phục kích. Pháp đã phản ứng bằng cách bỏ các đồn nhỏ trên đường này và tập trung vào các vị trí quan trọng ở Đông Khê và Cao Bằng.
Ngày 16/9, năm TĐ của VM và một TĐ võ khí nặng tấn công lần nữa vào Đông Khê. Lần này đồn được bảo vệ bởi khoảng 300 lính Pháp thuộc đại đội 5 và 6 của TĐ 2 của trung đoàn 3 quân Lê-dương. Ngày 18, đồn bị tràn ngập sau trận ác chiến, và chỉ có 12 lính sống sót, chạy về tới đồn Thất Khê gần đó. 140 lính Lê-dương bị bắt làm tù binh, số còn lại bị giết hay mất tích.
TRẬN THẤT KHÊ
Thất Khê đã được nhanh chóng tăng cường bởi TĐ 1 Dù Lê-dương, được thả xuống ngày 17/9. TĐ này chờ ở Thất Khê trong khi một lực lượng khác gồm lính thuộc địa của TĐ 1 Ma-rốc và TĐ 11 Tabor (tá-bò), tập hợp tại Lạng Sơn. Dưới danh hiệu Chiến đoàn Bayard (Báy-dà) với quân số 3.500 người do ĐT Le Page (Lơ Pa-dơ) chỉ huy, chiến đoàn đã mở một đột kích, bắt được nhiều tù binh khai báo rằng VM chuẩn bị tấn công lớn.
Trong khi đó, Tướng Marcel-Maurice Carpentier (Mác-xen Mô-ríc Cát-păng-chi-ê), tổng TL quân đội Pháp ở Đông Dương, đã quyết định rút bỏ Cao bằng. TL của cứ điểm Cao Bằng, ĐT Charton (Xác-tông), được lịnh phá hủy trang bị nặng và xe cộ và di tản về Đông Khê. Theo kế hoạch, chiến đoàn Báy-Dà sẽ tiến quân về phía bắc từ Thất Khê và tái chiếm Đông Khê, ráng giữ cho tới lúc bắt tay với quân từ Cao Bằng. Quân của Cao Bằng gồm 2.600 lính và 500 dân thường, phần lớn là dân quân người Thổ thiểu số và gia đình của họ.
Ngày 30/9, Chiến đoàn (CĐ) Báy-Dà xuất phát từ Thất Khê, với TĐ 1 Dù Lê-dương dẫn đầu. Tuy nhiên VM đã tập trung 10 TĐ quanh Đông Khê, tăng cường bởi nguyên một trung đoàn pháo, cùng với các lực lượng còn lại của HQ Lê Hồng Phong I. VM đã đẩy lui (rebuff) quân Pháp khiến họ phải lui quân và chờ không yểm. CĐ Báy-Dà đã tấn công lại ngày 2/10, tiến về phía tây để tránh đụng độ với quân VM rất đông ở Đông Khê.
Trong khi đó, quân của ĐT Xác-tông, đi đầu bởi TĐ của trung đoàn 3 Lê-dương (REI), rời Cao Bằng ngày 1/10, và trái với lịnh trên, khi họ mang theo trang bị nặng. Đoàn quân tiến về nam bị chậm lại do các cuộc phục kích. Sau các trận đánh ác liệt, cuối cùng họ bỏ trang bị nặng và bắt tay với CĐ Báy-Dà ở những đồi núi chung quanh Đông Khê ngày 5/10.
TRẬN CỐC-XÁ
Đoàn quân này của Pháp đã tiến vào thung lũng Cốc Xá, nơi họ đã hoàn toàn bị tiêu diệt vào ngày 7/10. Để cứu viện, một đại đội bổ sung của TĐ 1 Dù Lê-dương, quân số 120 người, cùng với 280 người của TĐ 3 Biệt kích Dù Thuộc địa (3rd BCCP) được thả xuống Thất Khê, nhưng cũng bị tiêu diệt. Chỉ có 23 người sống sót của TĐ 1 Dù lê-dương về được phòng tuyến Pháp; đây là TĐ Dù của Pháp đầu tiên thua trận, sau đó là TĐ 3 Biệt kích Dù thuộc địa.
SỤP ĐỔ DÂY CHUYỀN
Trong hơn 6.000 lính Pháp và dân thường liên quan đến HQ này, chỉ có 700 về tới phòng tuyến Pháp. Ngày 17/10, quân Pháp bỏ Lạng Sơn và ngày 18 di tản những đồn bót phía nam của Lạng Sơn trên đường 4. Tình trạng hoảng loạn xuất hiện ở Hà Nội và người ta bàn chuyện di tản khỏi TP này. Tuy nhiên, cuối cùng tướng Đờ Lát đã thay thế tướng Các-păng-chi-ê, làm tổng TL quân đội Pháp tại Đông Dương vào cuối 1950 và ổn định tình hình.
San Jose ngày 4 January 2024.
Tài Trần
Saturday, December 9, 2023
SÁCH MUA TỪ AMAZON TỪ 2007
ẢNH 1:
ẢNH 2:
ẢNH 3:
ẢNH 4:
ẢNH 5:
Làm thế nào Intel, chứ ko phải Apple, đầu tiên đã dùng chữ iPad
Mọi ng đều biết Apple đã ko sáng tạo chữ iPhone. Hãng Cisco đã đăng ký một tên thương mại (trademark) mà họ gọi là iPhone rất lâu trước khi Steve Jobs ra đời cái điện thoại thông minh đã làm thay đổi thế giới vào năm 2007. Nhưng bạn cũng nên biết Apple cũng ko sáng tạo ra tên iPad? Thực tế, hãng Intel đã tung ra (hawk) một thiết bị mà họ gọi là I-pad, từ năm 1994 (năm tôi sang Mỹ -- ng dịch).
Ở trang web Paleofuture, Matt Nowak đã lấy một bài viết từ ngày 30/6/1994 trên Associated Press mô tả tầm nhìn của Intel về một ngôi nhà trong tương lai có trang bị "lò thông tin" (information furnace).
Bài này viết rằng:
"Một trong những thiết bị mà chúng tôi chú ý nhứt, chúng tôi gọi nó là I-pad, một pad về thông tin", PCT của Intel, ông Avram Miller nói. "Nó sẽ là một thiết bị có màn hình phẳng. Bạn có thể viết trên đó, rờ nó. Bạn có thể nói chuyện với nó và nó có thể trả lời. Thiết bị có thể ko dây, rẻ tiền và có nhiều dạng khác nhau trong nhà."
Một vài tiền thân của "I-pad" là Newton của Apple Computer Inc. hay Envoy của Motorola Inc, hay Simon của IBM, chúng đều có chức năng tính toán và thông tin liên lạc.
Intel đã ko rời bỏ ý tưởng này. Thực tế họ đã trình làng một IPAD tại hội chợ CES năm 2001.
Dĩ nhiên cuối cùng Apple đã ra đời iPad vào năm 2010, và ko phải danh xưng này khiến nó thành công: đó là nhờ thiết kế tuyệt vời của chính thiết bị này. Tuy nhiên, nếu Intel đã thực hiện ý tưởng của họ, ngày nay chúng ta có thể đang lướt mạng trên I-pad, khi đắm mình trong ánh sáng của lò sưởi (furnace) thông tin này của tương lai!
Monday, December 4, 2023
Trần = 4215 = 12 = 3
thị = 451 = 10 = 1
Đào = 417 = 12 = 3
Hoa = 571 = 13 = 4
Cộng lại: 3 1 4 4 = 12 = 3
===
NGUYỄN = 7
THỊ = 451 = 10 = 1
THU = 456 = 15 = 6
HƯƠNG = 56753 = 26 = 8
Cộng lại: 22
THE DISASTERS BEFORE DIEN BIEN PHU: IN 1950, THE VIETNAMESE ROUTED THE FRENCH IN CHINESE BORDER BATTLES
When the smoke cleared, the French had suffered their greatest colonial defeat since 1749, wrote French historian Bernard Fall
A French soldier in Indochina takes aim at an enemy position in 1950, the year that a communist Viet Minh offensive forced the French to abandon a series of forts along Colonial Route 4 near the Chinese border. (Keystone-France\Gamma-Rapho via Getty Images)
SHARE THIS ARTICLE
The young soldiers of Gen. Vo Nguyen Giap’s newly formed 308th Division, freshly trained and equipped by the communist Chinese, showed off their skills in stealth operations against the French in May 1950. Four of Giap’s infantry battalions scaled steep limestone heights surrounding the town of Dong Khe in northeast Tonkin, the northernmost region of Vietnam, without being detected even though they were hauling five American-made 75 mm pack howitzers. At dawn on May 25, they opened fire with a devastating sustained barrage on the French defenses and the 800-man garrison, consisting mostly of Moroccan riflemen under French officers.
Giap, commander in chief of communist-ledViet Minh independence fighters at war with colonial ruler France since December 1946, lifted the barrage after two days of shelling. His troops then attacked in human waves, overrunning the base and almost wiping out the remaining defenders, a few of whom escaped into the jungle. At midmorning on May 27, 48 hours after the barrage began, the Viet Minh had seized control of Dong Khe.
Vo Nguyen Giap
The French responded quickly to the May 27 attack, dropping the 3rd Colonial Parachute Battalion onto the overrun base late the same morning and surprising Viet Minh troops engaged in looting. After several hours of heavy fighting, often hand-to-hand, the Viet Minh abandoned the post and melted back into the jungle.
Giap never intended to hold the base. The general had accomplished his objective for now. The May attack was Giap’s last opportunity to season the men of the 308th Division for formidable tasks ahead. He was preparing to unleash a large-scale offensive against six French frontier posts—including Dong Khe—along Colonial Route 4 near the border with China when the monsoon rains ended in late September or early October. Months of arduous preparation lay ahead of Giap.
After the Viet Minh withdrew from Dong Khe, the French commander in chief, Gen. Marcel Carpentier, a total stranger to Indochina, could have avoided another Viet Minh onslaught by evacuating the frontier forts, which contained almost 12,000 French and North African troops, French Foreign Legionnaires, allied Tai tribesmen and camp followers. He had enough time to evacuate them. However, he failed to do so.
Carpentier may have contracted hubris, a disdain for the enemy that infected many French—and later American—officers. They vastly underestimated the fighting capabilities of the enemy while greatly overestimating their own.
In late 1949, Giap ratcheted up pressure on the large French supply convoys trying to navigate Route 4 to reach the forts. The convoys drove into deadly ambushes, roadblocks and blown bridges. The growing presence in southern China of Mao Zedong’s communist forces—recently victorious in the Chinese Civil War against Chiang Kai-shek’s Nationalists—encouraged Giap to attack the Route 4 posts in late 1950.
Giap had spent grueling months in the Viet Bac region, a remote territory in north and northeastern Tonkin where the Viet Minh insurgency was headquartered. He organized his 100,000 main force regulars into six mobile divisions (70 battalions) backed by artillery, much of which consisted of U.S.-made weapons captured from the defeated Chinese Nationalists.
Giap was now ready to give his troops their baptism of fire in conventional warfare. The Viet Minh’s target was the string of isolated Route 4 French forts: Dong Khe, Cao Bang, That Khe, Nam Nung, Tien Yen and Lang Son. Another fortress, Lao Cai, supported by four surrounding forts, was in the Tai Highlands, west of the Red River where it crosses the Chinese border. A decisive Viet Minh victory would clear French forces from all of northern Tonkin east of the Red River, allowing unfettered movement of men and supplies from communist China into the Viet Bac. As a bonus, it would give Giap’s troops a morale-boosting triumph in their first major test on the battlefield.
In May 1949 the French government sent army Chief of Staff Gen. Georges Revers to Tonkin on a fact-finding mission. He recommended that border posts be heavily reinforced or abandoned as soon as safely possible. The French did neither.
After recapturing Route 4 in 1947 during Operation Lea, the French installed permanent garrisons at intervals along the “road”—actually, nothing more than a well-worn, one-lane dirt path, 12-feet wide at its widest and flanked on both sides by heavily forested hills, jungle and jagged limestone peaks. In 1950, Route 4 was controlled by the Viet Minh. The forts were not mutually supportable and could be attacked individually at Giap’s discretion. They were not only vulnerable but also tying down thousands of troops needed in the Red River Delta, where the Viet Minh were adding to the number of villages they controlled.
Giap was never idle during the wet months between campaigning seasons. From 1948 to 1950 he established a logistical system fully capable of supporting his large combined-arms divisions over long distances and periods of time. He was fortunate to have gained a powerful ally in Mao. The fellow communist helped Giap solve his heavy armament and complex supply problems, sent experienced officers to the Viet Bac to act as trainers and mentors, and established a military advisory group at the battalion level and higher to help Giap and his officers plot strategy. The general and his staff spent endless hours preparing for attacks. The infantry used scale models of the targeted forts to practice assaults, day after day. During the coming offensive, Giap never attacked without at least a 3-1 advantage in numbers; at times it was 8-1.
By late 1950 Viet Minh roadblocks, mines and ambushes along Route 4 had inflicted heavy losses in French soldiers and equipment on their way to the big base at Cao Bang, commanded by the “Fighting Legionnaire,” Lt. Col. Marcel Charton. Stymied on the ground, the French began supplying Cao Bang only by air. They evacuated their smaller Route 4 posts, leaving Cao Bang, Lao Cai, That Khe and Dong Khe the only forts still garrisoned upcountry from the regional headquarters at Lang Son. Route 4 had become the deadliest road in Indochina. As the Legionnaires put it, “The Route Coloniale No. 4 is a road than a man travels only one time alive.”
In early September Carpentier announced that the French would attack and capture the town of Thai Nguyen on Colonial Route 3. Afterward, the garrison at Cao Bang would evacuate and walk south on Route 4, leaving artillery and heavy transport behind. Carpentier instructed Charton to conduct his withdrawal with “speed and surprise,” neither of which was remotely possible along Route 4. Thai Nguyen had no tactical connection to the Route 4 forts. Its capture was essentially a publicity stunt to deflect attention from the Cao Bang evacuation.
French soldiers keep watch on Colonial Route 4. In 1950, it was a dirt road about 12 feet at the widest and nearly overtaken by vegetation. (CCI, Bridgeman Images)
Meanwhile, a relief column would push north from Lang Son. When it reached Cao Bang, the combined force would move south to the relatively safer Red River Delta. Carpentier foolishly hoped both objectives could be completed by mid-October before the end of the monsoon rains and before Giap was ready for mobile operations—although, in fact, he already was. The general had moved at least 14 infantry battalions and three of artillery to the frontier ridge.
Well before Carpentier could carry out his evacuation plan, five battalions of the Viet Minh 308th Division, backed by a heavy weapons battalion, attacked Dong Khe on Sept. 16, marking the opening round of Giap’s assault on the border posts.
After a mortar and artillery barrage Viet Minh commandos, wearing only shorts and carrying Bangalore torpedoes (explosive-filled tubes) and satchels packed with explosives, approached the fort. They blasted holes in the perimeter wire and were followed by waves of attackers. The 300 defenders of 5th and 6th companies, 2nd Battalion, 3rd Foreign Legion Infantry Regiment, had to fight without air support because of heavy cloud cover but still were able to beat back repeated assaults as casualties mounted on both sides. The attackers, however, resolutely pressed on for more than two days. At midmorning on Sept. 18, they finally overran Dong Khe. The 300-man garrison was decimated: 140 Legionnaires were captured, 12 escaped to That Khe, and the rest were dead or missing.
Despite the loss at Dong Khe, Carpentier plowed ahead with his plan. He attacked Thai Nguyen in late September with two infantry divisions, backed by armor, artillery and air cover. His forces took the town in mid-October against limited resistance. Since Thai Nguyen contained little of value and the enemy made no effort to retake the town, the French stayed there for only 10 days before abandoning it. Giap’s thorough preparations had paid off. With his troops astride Route 4 and holding Dong Khe, he had clearly gained the initiative.
Worried that Cao Bang might be surrounded, Carpentier ordered Charton to destroy his artillery and heavy motor transport, then begin his withdrawal to the south on the evening of Oct. 2. The Legionnaire leader was instructed to take Route 4, not the safer Route 3 leading to Thai Nguyen. That proved to be a huge, costly blunder, given that the Viet Minh were blocking Route 4.
Carpentier assembled a relief force at Lang Son. Commanded by Lt. Col. Marcel Le Page, it consisted of three North African battalions—the 1st and 11th Moroccan Tabors and a battalion from the 8th Moroccan Rifle Regiment. The Le Page column, known as Task Force Bayard, was ordered north to That Khe, where it arrived on Sept. 19 and joined forces with one of the most acclaimed, battle-hardened units in Indochina, the 1st Foreign Legion Parachute Battalion.
The officers of the parachute battalion soon became alarmed at Le Page’s apparent indecision and inexperience. A “confidence gap” arose between the Legion paratroopers and the African riflemen. Le Page was clearly unsuited for the mission. An artilleryman, he was unfamiliar with jungle warfare. He also had health issues, was unsure of his Africans and seemingly unsure of himself.
On Sept. 30, Le Page received what was an impossible order under the existing conditions: March Task Force Bayard north and retake Dong Khe, 11 miles away, by Oct. 2. With no intelligence on the situation at Dong Khe, Le Page was rightly hesitant. Heavy rains rendered air cover impossible and turned Route 4 into a muddy morass that allowed no artillery or trucks to accompany the task force. Additionally, Giap had massed at least 10 infantry battalions, backed by a full artillery regiment, around Dong Khe. Le Page’s hope that the order would be rescinded didn’t materialize. As the column moved out, he told a friend, “We will never come back.”
At nightfall on Sept. 30, Le Page and his 3,500-man task force headed for Dong Khe with the 1st Foreign Legion Parachute Battalion leading the way. By 5 p.m. the next day, Oct. 1, Le Page and his column had, surprisingly, managed to fight through numerous obstacles and reach the eastern outskirts of the town, where the colonel finally halted after coming under heavy machine gun and artillery fire from the fort ruins. Le Page boldly attempted a pincer movement on Oct. 2, sending the Legionnaires against one enemy flank and the Moroccans against the other. Both attacks failed amid the dense jungle, strong counterattacks and steep limestone peaks. Le Page’s column had to bypass the fort.
Le Page was ordered to leave Route 4 and move west the next day, Oct. 3.
WHEN THE TONKIN THEATER COMMANDER, MAJ. GEN. MARCEL ALESSANDRI, WAS INFORMED OF THE ORDER, HE WIRED CARPENTIER: “CANCEL EVERYTHING. IF YOU CARRY ON IT WILL BE A CRIME.”
With the 1st Foreign Legion Parachute Battalion in front, Task Force Bayard fought its way west and then north from jagged peak to jagged peak along the Quang Liet Trail before it halted at Na Pa, just 3 miles from Dong Khe. That night the Le Page column, huddled in a “bowl” on the side of a hill, was hit by wave after wave of Viet Minh attacks, but held on.
Ordered to leave Cao Bang at nightfall on Oct. 2, Charton failed to destroy his artillery and motor transport as instructed. Instead he loaded all his men onto trucks and did not get underway until noon on Oct. 3. Led by the 3rd Battalion, 3rd Foreign Legion Infantry Regiment, Charton’s miles-long column included 1,000 French troops, 600 Legionnaires, 1,000 mostly Tai fighters and their families, the wounded and 500 men, women and children who lived at Cao Bang.
His progress slowed by the usual ambushes and roadblocks, Charton had traveled only 9 miles by sunrise on Oct. 4, when the column halted near Nam Nung on Route 4.
Around noon, Charton received disturbing news in two radio messages from Lang Song: First, the Le Page column, after leaving Route 4 the previous afternoon, was now surrounded in the jungle west and south of Dong Khe and being mauled; second, Charton’s column was to move as quickly as possible to Le Page’s aid. With Route 4 blocked by the Viet Minh, Charton destroyed his now-useless trucks and artillery, left the refugees behind and pushed west off Route 4 into the brush with the 3rd Battalion, 3rd Foreign Legion Infantry Regiment, in the lead as the men hacked through almost impenetrable vegetation.
Charton, at least, had maps of the area and managed to find the Quang Liet Trail leading south to the Quang Liet Valley, where he hoped to rendezvous on Hill 477 with the Le Page column. Le Page’s Foreign Legion parachute battalion, meanwhile, was still trapped on a hill, surrounded by high limestone cliffs that overlooked the valley and the small hamlet of Coc Xa to the west. Their only exit was a narrow passage, the Coc Xa Gorge, at the end of the valley.
A wounded French soldier is placed on a stretcher after evacuation from Viet Minh-held That Khe in November 1950 during a truce. (Bettman/Getty Images)
With progress exceedingly slow due to the harsh terrain and heavy enemy presence, the Charton column doggedly thrust its way south along the faint trail for two days, nearing the Quang Liet Valley and making radio contact with Foreign Legion paratroopers on Oct. 6. New orders called for the Charton column to hold Hill 590 and cover the rest of the valley while the paratroopers in the vanguard of Task Force Bayard would force a passage of the gorge and push for Coc Xa.
Meanwhile, Le Page’s troops continued a desperate fight against overwhelming numbers in the heavy vegetation and limestone peaks southwest of Dong Khe. After several French units were ambushed and broken up, the survivors were hunted like animals in a forest festering with Viet Minh soldiers screaming in French: “Give yourselves up, French soldiers. You are lost!”
As dawn approached on Oct. 7, what remained of Task Force Bayard was still trapped on the hill. Surrounded by two enemy battalions, Le Page asked the Legionnaires of the parachute battalion to break through the “bottleneck” at Coc Xa Gorge. Before the sun came up they had done so but were almost wiped out in the process. Only 130 members of the battalion’s 500 men survived the morning. The remainder of the Le Page column was heavily engaged, as well. When Oct. 7 ended, only 530 members of the original 3,500-man Task Force Bayard remained.
The haggard remnants of the Le Page column finally linked up with the depleted vanguard of Charton’s column, the 3rd Battalion, 3rd Foreign Legion Infantry Regiment, east of Coc Xa, but the ordeal was far from over. The survivors divided into small groups, leaving the wounded with volunteer medics, and attempted to get through Viet Minh-filled jungles to That Khe, 10 miles to the east. That night, a rescue company of 270 men from the 3rd Colonial Commando Parachute Battalion and 130 men from the 1st Foreign Legion Parachute Battalion Replacement Company were airlifted into That Khe. The Viet Minh chose that morning to launch their heaviest attack yet against Charton’s column and succeeded in wounding and capturing Charton himself. Things went from bad to worse when the panic spread from ranks of Le Page’s terrified North Africans—physically ravaged, delirious and almost out of control—to the Charton group, which itself fell into a state of chaos. Only the Legionnaires held together as effective fighting units, but their numbers soon dwindled. Thousands of Viet Minh soldiers moved in and soon it was over.
Some 300 men reached That Khe on Oct. 8 and 9, including 29 survivors of the 1st Foreign Legion Parachute battalion, the first French airborne battalion ever lost in combat. That Khe was abandoned late on Oct. 9 in haste. The garrison, townspeople and survivors of the Le Page and Charton columns streamed down Route 4. The thinned ranks of the 3rd Colonial Commando Parachute Battalion/1st Foreign Legion Parachute Battalion force, reluctant to leave while their comrades were lost in the jungle not far away, acted as the rear guard.
In an atmosphere of panic, the frontier commanding officer at Lang Son ordered a general withdrawal along Route 4 from That Khe, which added to the chaos and losses. The 3rd Colonial Commando/1st Foreign Legion parachute force, 400 strong when it evacuated That Khe on Oct. 10, hit heavy communist resistance halfway to Lang Son and lost half its men. Again, the survivors broke up into small groups and attempted to push through the jungle to safety, but were killed almost to a man, making the 3rd Colonial Commando Parachute Battalion the second airborne battalion to be lost in action.
French troops move toward a village near their base at Dien Bien Phu, where a defeat in May 1954 would end French rule in Indochina, despite some battlefield successes by new commanders after the humiliating fort evacuation in 1950. (Corbis via Getty Images)
On Oct. 17-18, the French abandoned Lang Son even though there was no direct military threat, leaving huge stores of equipment and arms intact—enough food, clothing, medical supplies, weapons, ammunition and materiel to supply a Viet Minh division for at least a year.
Tai partisans holding Lao Cai’s four small, satellite forts fought their way to Lao Cai. Then the entire force was evacuated and Lao Cai abandoned, making Giap’s victory complete. (A coalition of 12 tribes formed the Tai Federation, which was friendly to the French and had been given semi-autonomous status within the French Union in 1948 and a capital at Lai Chau, just west of the Red River on the Sino-Vietnamese border.)
Giap’s victory came at a high cost, however. Of the 30,000 men committed, as many as 9,000 Viet Minh soldiers perished. Many were wounded men who died before they could be carried to the rear, where Giap’s inadequate medical services were unable to handle huge casualties. Nevertheless, Giap’s unprecedented gains left the French in a state of disarray. It was feared the Red River Delta would be attacked, and calls to evacuate colonists from Tonkin were heard. Fortunately for the French, the crisis passed. They soon welcomed a competent, almost legendary new commander in chief, Gen. Jean de Lattre de Tassigny, who completely reversed French fortunes within a year, reinstilling confidence and pride within his fighting forces.
Still, the sting of defeat remained. “When the smoke cleared,” wrote French historian Bernard Fall, “the French had suffered their greatest colonial defeat since Montcalm had died at Quebec in 1749. They had lost 6,000 troops [4,800 killed], 13 artillery pieces, 125 mortars, 450 trucks, three armored platoons, 940 machine guns, 1,200 submachine guns and more than 8,000 rifles. Their abandoned stocks alone sufficed for the equipment of a whole additional Viet-Minh division.”
Without anywhere near enough men nor the political will necessary to bring the First Indochina War (1946-54) to a successful military conclusion, France’s effort to hold its Indochinese colonies finally came to an ignominious end in mid-1954, in the muddy ruins of a flimsy fortress in a valley called Dien Bien Phu.
John Walker served in Vietnam July 1970-June 1971 as a sergeant with the 173rd Airborne Brigade at Landing Zone English in Binh Dinh province in South Vietnam’s central coastlands. He lives in Oceanside, California.
This article appeared in the December 2021 issue of Vietnam magazine.