LÃ = 31 = 4
THANH = 45155 = 20 = 2
HÀ = 51 = 6
TÔN = 475 = 16 = 7
HIỀN = 5155 = 16 = 7
ANH = 155 = 11 = giữ nguyên
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
LÃ = 31 = 4
THANH = 45155 = 20 = 2
HÀ = 51 = 6
TÔN = 475 = 16 = 7
HIỀN = 5155 = 16 = 7
ANH = 155 = 11 = giữ nguyên
Tài Trần - Trận Dak To năm 1967
Lời mở đầu: Trong bài "Tiểu đoàn 3 Dù tại Ngok Wan", cựu trung tá Bùi Quyền đã mô tả kỹ lưỡng trận đánh Ngok Wan ở bắc Dak To tỉnh Kon Tum tháng 11/1967. Ông cũng nhắc đến các trận đánh gần đó của sđ 4 bộ binh và lữ đoàn 173 Dù của Mỹ. Để giúp các bạn tìm hiểu thêm về các hoạt động của hai đại đơn vị (đv) Mỹ này trong thời gian trên, tôi đã chuyển ngữ một bài trong sách The Rise and Fall of An American Army của Shelby Stanton.
========
Trận Dak To.
Những viên đạn mở đầu của Trận Dak To thực sự đã bắt đầu trong tháng Sáu 1967 khi trại Lực lượng Đặc biệt (LLĐB) Mỹ ở Dak To, nằm trong những ngọn núi cao ở giữa tỉnh Kontum, bị pháo bởi súng cối. Kế đó trại đã gửi ra ngoài một toán tuần tiểu và họ đã bị phục kích (bushwack). Gió mùa đã che phủ vùng này với mây thấp và sương mù sát mặt đất, nhưng hai tiểu đoàn (TĐ) của lữ đoàn 173 Nhảy Dù đã được không vận đến Dak To ngày 17/6/1967. Hành quân này ban đầu được đặt tên GREELEY. Khu vực hành quân là một vùng núi non hiểm trở che phủ bởi rừng 2 hay 3 tán lá. Những rừng thưa trong khu vực rừng núi nguyên sinh này thì đầy cây tre với độ cao 15 tới 20 feet.
Ngày 22/6, một đại đội của TĐ 2 của trung đoàn 503, viết tắt là TĐ 2/503, đã đụng với TĐ 6 trung đoàn 24 CSBV tại một trong những trận đánh ác liệt nhứt của chiến tranh Việt Nam. Buổi sáng đó, đại đội A rời vị trí đóng quân đêm trong rừng ba tán lá và bắt đầu cẩn thận di chuyển xuống một sườn núi dốc. Họ định đi tới BCH lữ đoàn ở Dak To vào buổi chiều. Tiểu đội đi đầu đã đụng một đv quân csbv. Pháo binh và trực thăng đã tưới đạn vào rừng xanh. Đại đội đã mất liên lạc với tiểu đội này. Hai trung đội được lịnh tiếp viện cho tiểu đội này. Lúc 11 giờ sáng, các trung đội này cũng đã mất liên lạc. Sau đó một đám lính rối loạn và bị thương chạy về phòng tuyến đại đội này. Quần áo rách nát, bằng dù trên túi áo bị nám đen và dính máu, và bộ mặt hốc hác của họ đã nói lên tất cả. Thành phần còn lại trong đại đội này chạy ngược lên núi, và bắt đầu hối hả chặt cây để lập bãi đáp.
Đại đội B và C được lịnh tiếp cứu ngay lập tức. Đại đội B đã bị tấn công sau khi di chuyển khỏi bãi đổ quân một đoạn. Đại đội C đã có thể đến khu vực này lúc 2 giờ của một buổi chiều đầy sương mù. Tuy nhiên, khi đại đội này cố gắng tiến tới khu vực mà các trung đội trên đây bị tràn ngập, họ bị đẩy lui bởi hỏa lực mạnh. Ngày kế, những người lính dù mệt mỏi này đã cố gắng lục soát khu vực mà những trung đội chiến đấu tới phút cuối. Rải rác đó đây bên cạnh những bụi rậm bị giẫm đạp, cây gẫy, và những chiến cụ tan nát hay hư hỏng (war debris), là thân xác co rúm của 76 lính dù.
Phần còn lại của lữ đoàn 173 dù thiện chiến của chuẩn tướng Deanne đã tới tp Kontum một tuần sau, cùng với lữ đoàn 3 của sđ 1 không kỵ của đại tá McKenna. Các lính dù dày dạn kinh nghiệm của TĐ 5 và 8 dù VNCH và một TĐ của trung đoàn 42 VNCH cũng được chuyển tới. Một BCH tiền phương của sđ 4 bộ binh được lập. Những người lính mà tướng Westmoreland cần để chinh phục Cao nguyên Trung phần đã tới.
Những tháng kế đó, những người lính này đã di hành gian khổ vào khu vực xa xôi phía tây của tỉnh Kontum, nơi mà quân csbv cố thủ trong các hầm hào vững chắc. Lính dù Mỹ đã bị thiệt hại ngày càng tăng khi tấn công các công sự này. Những hầm trú ẩn này đã luôn luôn được bảo vệ bởi các vị trí đại liên hỗ trợ lẫn nhau, ko thể phát hiện trừ khi bắc quân nổ súng. TĐ 299 công binh Mỹ, dù mưa như thác đổ, đã cố gắng lập lại các cầu bị giựt sập trên quốc lộ 14, con đường duy nhứt nối Kontum và Dak To. Mưa mùa đã biến những đường này thành những bãi lầy ko thể vượt được. Đôi khi Dak To phải tiếp tế bằng máy bay. Máy bay thường xuyên đụng vào núi.
Một nét đặc biệt kinh dị của cuộc chiến này là sự liên tục khám phá các bộ xương từ những trận đánh trước. Ngày 20/6, lính dù của lữ đoàn 173 đã tìm thấy những bộ xương của hai lính lực lượng đặc biệt (LLĐB) Mỹ, tám lính dân sự chiến đấu (DSCĐ), và một lính csbv. Ba ngày sau, bộ xương của một âm thoại viên của lữ đoàn đã mất tích trước đây được tìm thấy. Vẫn còn nhiều bộ xương của lính LLĐB và DSCĐ được tìm thấy trong suốt thời gian này. Những bóng ma hình như đã ám ảnh mọi người lính dù, và những lính dù yếu bóng vía (unnerved) đã công khai nhìn nhận khu vực này đã "làm cho họ sợ" (spook them out).
Lữ đoàn của sđ 1 Không kỵ lục soát có hệ thống bắc của Kontum suốt tháng 7. Một lực lượng DSCD có cố vấn Mỹ thuộc trại Plateau Gi đã phục kích một đv csbv đang rút quân ngày 12/7. Pháo binh của sđ 1 không kỵ yểm trợ cho họ. Gần Dak Seang, ngày 3/8, những TĐ dù VNCH được trực thăng chỡ đến. Một TĐ của trung đoàn 42 VNCH đã bị kẹt cứng (hung up) trên một đỉnh đồi đầy công sự mà họ đã tấn công. Trong một trận đánh dữ dội tối ngày 6/8, những người lính thiện chiến của TĐ 8 dù VNCH đã đẩy lui năm lần các cuộc xung phong của TĐ 2 trung đoàn 174 csbv. Mười ngày sau đó, các TĐ dù mệt mỏi này đã rời Kontum, kế đó là phần lớn của lữ đoàn 173 dù đi Tuy Hòa. Ngày 11/10, cuộc hành quân GREELEY đã sát nhập vào hành quân MAC ARTHUR. Vào cuối tháng, lữ đoàn 1 của sđ 4 bộ binh được chỡ tới Dak To. Tăng cường cho đv này là TĐ 4 của trung đoàn 503 thuộc lữ đoàn 173 nhảy dù. Trận đánh quyết định Dak To sắp bắt đầu.
Thị trấn Dak To nằm trên một thung lũng kế một con sông, chung quanh là những núi, bao phủ bởi những cây to và rậm rạp, có ba từng lá, cao cả trăm feet. Những đỉnh núi và sườn núi dốc có độ cao trên 4.000 feet. Suốt hai tuần đầu của tháng 11, tại tây và tây bắc của Dak To, một loạt các cuộc tấn công nhắm vào các hệ thống hầm hào vững chắc của quân csbv trên các đường đỉnh. Khi bắt đầu trận chiến này, chỉ có năm TĐ mà hai thuộc quân lực VNCH, đồn trú gần Dak To. Đến giữa tháng 11, con số này nhân gấp ba, và Dak To trở thành một địa điểm yểm trợ tiếp vận lớn.
NGÀY 4 THÁNG 11, ở một điểm chỉ cách khoảng 1.000 mét từ trận ác chiến tháng 6 của lữ đoàn 173, tiểu đoàn 3 trung đoàn 12 thuộc sđ 4 bộ binh, viết tắt là TĐ 3/12, đã đụng địch tại một đỉnh núi cao. Vì đv này không thể đánh trực diện với địch, 40 phi xuất đã đổ bom đạn xuống mục tiêu. Quân Mỹ sau đó đã tiến vào hệ thống công sự đổ nát của địch, trong khi đó, ngày 6/11, TĐ 4/503 thuộc lữ đoàn 173 nhảy dù đã đụng nặng tại ĐỒI 823. Thiệt hại đã làm giảm sức chiến đấu; một đại đội 164 người chỉ còn 44 người.
Chuẩn tướng Leo H. Schweiter, nắm lữ đoàn 173 vào ngày 24/8, lập tức chuyển lính của ông về Dak To. Cùng đi với lữ đoàn là 11 toán của trung đội 39 quân khuyển. Những chó này được dùng làm một thành phần của toán khinh hay tiền tiêu (point element). Ở địa thế trống trải, chó đi trước người khinh binh, ở rừng rậm, chó sẽ đi theo người khinh binh. Bằng cách này, chó sẽ không phí sức vì có người mở đường cho nó. Ở những địa thế quá hiểm trở, người lính phải dùng cáng để mang nó qua. Ở mọi nơi, nó luôn luôn báo động cho chủ về xuất hiện của địch, đường hầm, kho chứa lương thực, và hầm trú ẩn. Khi giao chiến xảy ra, chó được đưa về phía sau vì âm thanh của cối, pháo binh hay oanh kích sẽ triệt tiêu năng khiếu nghe ngóng của chúng.
TĐ 4/503 đã bị thiệt hại quá nhiều ở phía nam trại Ben Het, đến độ phải được thay thế. Những lính dù của tđ 1/503 phải chiến đấu xuyên qua hệ thống hầm hào của bắc quân để bắt tay với họ. Ngày 12/11, tđ 2/503 được trực thăng vận vào vùng. Vào buổi tối cùng ngày, bắc quân đã bắn súng cối vào sân bay Dak To, nơi đang chứa hàng tấn tiếp liệu. NGÀY 14 THÁNG 11, trận chiến mở rộng khi TRUNG ĐOÀN 42 VNCH đụng độ quân csbv ở đông bắc Dak To. Hai TĐ thiện chiến 2 và 3 của sđ dù VNCH đã được tăng cường ngay cho mặt trận này. (Theo bài 'Tiểu đoàn 3 dù ở Ngok Wan' của cựu trung tá Bùi Quyền thì hai đv này, dưới quyền chỉ huy của trung tá Nguyễn khoa Nam đã tham dự trận này.-- Người dịch).
TĐ 3/12 của sđ 4 bộ binh đã hành quân tại núi này tới núi khác. Khi họ tới Đồi 1338, họ đã áp dụng phương pháp sau đây: sau khi bắn phá hệ thống công sự của đối phương trên triền đồi, họ dùng phi pháo ồ ạt (massive) để hủy diệt (obliterate) đỉnh đồi. Lữ đoàn 173 nhảy dù đã xuống một triền núi, vượt qua một thung lũng, kế đó họ leo lên một ngọn núi. Các người bộ binh đã kiệt sức (strain) vì ba-lô đầy ắp đạn, lựu đạn khói, pháo sáng (trip flare), và mìn claymore.
NGÀY 13 THÁNG 11, đại đội của tđ 2/503 của lữ đoàn 173 dù, đã kiểm tra một vị trí ở triền núi để đóng quân qua đêm. Khi phát hiện hai bunker, họ đã bị bắn sẻ. Vì có mang theo một đại bác không giựt 90 ly và 22 quả đạn, nên họ xử dụng. Một người lính trong tổ súng ngồi trên ba-lô để chắc chắn rằng ko ai trong khu vực nguy hiểm do súng phụt hậu khi bắn (blast-area area of the gun). Đột nhiên y nghiêng qua một bên và ngả xuống, do một viên đạn bắn sẻ trúng đầu. Kế đó địch bắn súng nhỏ và B-40 ào ạt vào đại đội. Nhiều hiệu thính viên và sĩ quan nhanh chóng gục ngả. Những người còn lại nhanh chóng lập chu vi phòng thủ trong khi TĐ 3 của trung đoàn 174 CSBV tấn công họ.
Người xạ thủ khẩu 90 ly vừa bắn quả cuối cùng trong khi lựu đạn địch nổ chung quanh họ. Họ bò trở lại một đống các khúc gỗ đã lỗ chỗ đạn của hai bên. Lính Bắc Việt cố gắng tiến gần các khúc cây này. Một binh nhì, bị bắn hụt, ló đầu lên để bắn trả, và lần này bị bắn vào giữa trán. Một lính dù trúng đạn vào ngực và đã chết khi y tá sơ cứu. Kế đó đống gỗ này bị trúng một quả B-40, và lính CSBV xung phong. Lần nữa, lính dù đẩy lui đợt tấn công này.
Cận chiến, tiếng nổ của B-40 và lựu đạn, tiếng đạn liên thanh, đang diển ra trong các bụi tre và bụi cây. Sườn phải của đại đội B đã bị chọc thủng vì bắc quân tấn công. Phi pháo ko thể dùng do hai bên quá gần. Tre dầy đến nỗi lính dù nghĩ rằng đạn M16 ko thể xuyên qua. Đại đội A đã chiến đấu hết sức để giữ vững phòng tuyến khi trời tối.
Suốt đêm hai đại đội dù này bị bắc quân tấn công mãnh liệt. Đạn dược được trực thăng thả vào một hố bom lớn gần trung tâm của vị trí đóng quân, nhờ một sĩ quan hướng dẫn bằng đèn pin. Quân hai bên cố gắng cứu thương binh. Hai bên ko dùng pháo sáng vì sợ lộ vị trí. Lúc hừng đông, bắc quân rút lui. Trận chiến đã ác liệt đến nỗi rằng một khúc gỗ đã được thấy vào buổi sáng với 6 lính dù Mỹ một bên và 4 lính csbv nằm bên kia. Ở cuối khúc gỗ là hai lính Bắc Việt, một người là sĩ quan, tay vẫn còn nắm chặt một khẩu M16 của Mỹ.
====
Ngày 15/11/1967, một tổn thất lớn cho quân Mỹ xảy ra khi sân bay Dak To bị pháo bằng cối, trúng kho đạn. Tiếng nổ rung rinh toàn căn cứ, và toàn bộ đạn dược tồn trữ trước giờ bị thiêu hủy. Hơn nữa, hai vận tải cơ khổng lồ C-130 bị hủy diệt. Vài ngày sau, cầu không vận cấp tốc được lập để bù lấp số đạn dược đã bị phá hủy. Ngày 17/11, chiến sự đã bùng nổ dữ dội ở hai phía đông và tây của Dak To và chẳng bao lâu tập trung ở Đồi 875. Trận đánh tại đồi này cuối cùng trở thành CAO ĐIỂM (climax) của Trận Dak To, cũng như của cả chiến dịch cao nguyên năm 1967. Thời tiết lúc đó rất tốt, nhiệt độ ở 91 độ F ban ngày và 55 độ F ban đêm.
NGÀY 18 THÁNG 11, đại đội 26 Xung kích Mike Force đã đụng một đv lớn của csbv phục sẵn trong hầm hào ở sườn đông của Đồi 875, khoảng 12 dặm hay 19 km tây của Dak To. Vì hệ thống hầm trú ẩn và giao thông hào quá vững chắc do trung đoàn 174 csbv chiếm giữ nên đại đội nhanh chóng rút lui. Sau này tình báo xác nhận rằng hệ thống phòng thủ này gồm những hầm trú ẩn nối với nhau bằng nhiều đường hầm (tunnel) và đã được xây dựng từ 3 đến 6 tháng trước đây, nên cây cỏ trên hệ thống hầm hào này tiệp màu với cây cối chung quanh. NGÀY KẾ, trung tá James R. Steverson, chỉ huy TĐ 2/503 của Lữ đoàn 173 Nhảy Dù, một sĩ quan kỳ cựu, đã từng nhảy vào Chiến khu C tháng Hai 1967, nhận trách nhiệm khó nuốt là "tấn công và quét sạch đồi 875".
SÁNG 19 THÁNG 11, đại đội C và D nhận trách nhiệm tấn công lên sườn bắc của đồi, nơi đây đầy cây lớn và tre bao bọc. Sau 4 giờ liên tục bị chống trả dữ dội, đột ngột hai đại đội này đã bị xung phong nhiều đợt bởi bộ đội của TRUNG ĐOÀN 174 CSBV, đang cố thủ đồi này. Lính dù Mỹ bỏ ba-lô và rút lui vào bụi rậm. Họ đã tuyệt vọng (desperately) dùng dao và nón sắt để đào hố chiến đấu. Quân CSBV, ko một phút ngưng nghỉ (respite) đã xung phong từng đợt, mỗi nhóm từ 20 đến 30 người. Lính CSBV ngụy trang rất kỹ, mặt sơn đen. Súng liên thanh, phóng lựu, cối và các lính bắn sẻ CSBV đã xuyên thủng (riddle) đội hình của hai đại đội này.
Lúc đó đại đội A làm trừ bị ở chân đồi và đang phá rừng tạo bãi đáp. Các đợt tấn công của bộ đội csbv đã đánh xuyên qua vị trí của đại đội này đến độ hai trung đội bị mất liên lạc (evaporate). Giờ đây bị chia cắt và tấn công dữ dội, thành phần trừ bị này của TĐ nhiều khả năng bị tràn ngập. Phần lớn lính dù ở đây đã chết khi BCH gồm 6 người đã hoàn toàn bị quét sạch trong cận chiến.
Hỏa lực của địch đổ xuống họ rất nhanh đến đến độ mọi người nghĩ rằng họ sẽ chết. Một trung sĩ trúng đạn và một y tá kéo y đến một thân cây, nơi mà người y tá bị trúng đạn ở đầu. Khẩu đại liên M-60 của một binh nhì (private) đã bay khỏi tay y vì trúng đạn B-40. Vị trung úy của họ ba lần ráng bò đến viên trung sĩ và lần nào cũng trúng đạn. Viên trung sĩ sắp chết hô to, "Trời ơi, trung úy, đừng đến đây; vì có khẩu đại liên sau cây này!" Viên trung sĩ trúng đạn 7 lần. Với hàng chục lính dù chết, nhiều người khác mất tích, và hàng trăm bị thương, những kẻ sống sót của TĐ tan nát này đã cố gắng thiết lập một chu vi phòng thủ.
Trong khi người chết và bị thương nặng được kéo vào trung tâm của chu vi phòng thủ, một quả bom từ máy bay Không quân đã rơi vào đám người này. Một tiếng nổ dữ dội xé tan và tung thân người và quần áo lên toàn khu vực. Hai mươi lính dù tan thây, và 30 người khác bị thương nặng. TĐ đã mất hầu hết cấp chỉ huy; kể cả linh mục tuyên úy cũng bị thương đến chết.
Dù lính dù bắn trả dữ dội, lính csbv vẫn xuất hiện khắp nơi. Đại đội 335 trực thăng đã có 6 chiếc bị bắn rơi khi bắt đầu đáp xuống. Đã vậy pháo binh, do lầm lẩn, lại bắt đầu nả đạn xuống TĐ, và một trung sĩ trung đội trưởng chạy đến các máy truyền tin hư hỏng để tìm một máy còn hoạt động. Y đã hốt hoảng liên tục vặn nút tần số để tìm đài bạn. Cuối cùng y đã tìm được đài của trung tâm phối hợp pháo binh để nơi này ko bắn lên đầu quân bạn.
Đêm đó còn nhiều điều khủng khiếp hơn. Lính hai bên la hét (holler) và ném lựu đạn qua phòng tuyến của nhau. TĐ 4/503, suốt đêm chuẩn bị để đánh lên đồi 875 hầu giải cứu đồng đội. Họ đã nhét đạn đầy ba-lô và túi áo túi quần. Họ bỏ lại mọi thứ trừ một phần ăn, một bi đông nước và một poncho để mang người chết và bị thương.
Sáng NGÀY 20 THÁNG 11, TĐ 4/503 của trung tá James H. Johnson bắt đầu tấn công lên đồi. Họ đã tìm thấy rải rác đó đây các hộp khẩu phần Ration-C trống rỗng đã bị lính CSBV lấy trước đó của lính Mỹ. Băng cứu thương (do TC sản xuất) đẫm máu, và các thùng đạn trống rỗng của Mỹ nằm khắp sườn đồi. Một người lính nằm chết kế gốc cây, bên cạnh một đống vỏ đạn, tay vẫn còn nắm chặt khẩu M60 đã bị kẹt đạn. Họ đã đi ngang rất nhiều xác chết lính Mỹ đến độ vài binh sĩ đi đầu nghĩ rằng đâu còn ai sống để bắt tay với TĐ của họ. Tuy nhiên, ko còn kháng cự của địch và sau khi đã đi lên núi khoảng 6.400 mét, lính của TĐ 4/503 đã tới chu vi phòng thủ tơi tả của TĐ 2/503 lúc 10 giờ đêm. Những người lính sống sót của TĐ này đã khóc khi quân bạn đã cứu họ.
Ngày kế một bãi đáp mới được lập giữa rừng già, và lần đầu tiên lữ đoàn 173 dù đã có thể tải thương lính từ trận đánh ngày 19 THÁNG 11. Sau đó, trong vòng bảy giờ, đồi 875 đã bị tàn phá bởi phi pháo khả dụng. Máy bay ném bom mỗi 15 phút, đốt cháy chỏm núi (crest) bằng 7,5 tấn bom napalm. Lính Mỹ định tấn công vào buổi chiều. Sau khi sườn đồi được dọn bãi kỹ lưỡng bởi pháo binh, lính dù liền chuẩn bị hàng ngũ để xung phong. Đột nhiên, cối của địch tiếp tục rơi xuống. Lính dù nhảy xuống hố trong khi đạn cối rơi xuống vị trí của họ. Do quá chen chúc trong các hố, lính Mỹ bị thiệt hại trước họ có thể tiến lên đồi.
Lúc 3 g chiều, quân Mỹ tiếp tục tấn công, nhưng do bị bắn trả nên tiến quân rất chậm. Lính dù đã thấy họ đang chống lại một hệ thống các hầm thông thương với nhau, nằm sát mặt đất (built flush to the ground), với nóc dầy khoảng 4 mét gồm đất và các khúc gỗ. Các hầm này chỉ được phát hiện khi địch nổ súng và quân Mỹ phải triệt hạ từng hầm. Lựu đạn thường, súng phun lửa, và súng ko giựt ko có tác dụng. Một nhóm lính dù bắn 12 hỏa tiển chống tăng trực tiếp vào một cửa hầm và sau đó xung phong. Nhưng họ đã bị bắn trả bởi những người trong hầm này, vì địch đã dùng đường hầm để trốn khi quân Mỹ bắn hỏa tiển. TĐ đã cho các người lính ném (heave) những túi 20 cân Anh chất nổ xuống miệng hầm hay đổ dung dịch xăng đặc (napalm) vào bên trong hầm và dùng lựu đạn kích hỏa.
Lính csbv từ trên cao đã liều lỉnh bắn trả bằng B-40, đạn bị trượt trên mặt đất và nổ nơi lính Mỹ đang núp sau các khúc gỗ hay mô đất. Đạn B-40 nổ, giết và làm bị thương vài chục lính mỹ. Rất may cho lính Mỹ, các thủ pháo TC mà lính csbv dùng đều bị lép. Lính CSBV còn cố gắng đánh vào cạnh sườn và mặt sau của TĐ này. Sau khi hai dãy giao thông hào bị chiếm bằng cận chiến, toán tiền quân của TĐ phải ngừng cách đỉnh đồi 250 bộ Anh hay 76 mét. Sau khi trời tối, lịnh "giữ vững vị trí" đổi thành "rút quân". Để nhường cho phi pháo hoạt động vào ngày kế.
Suốt NGÀY 22 THÁNG 11, máy bay đã liên tục bằm nát đồi 875 và khu chung quanh với bom nổ, bom lửa, và rocket. Đỉnh của 875 đã bị trọc hết cây cối sau khi bị oanh tạc, kéo dài suốt đêm. TĐ 4 được tăng cường bởi lực lượng tăng viện bằng trực thăng, đổ xuống gần sườn đông nam của đồi. Đây là hai đại đội của TĐ 1/12 thuộc sđ 4 bộ binh, đến từ tỉnh Darlac (Ban Mê Thuột). Họ đã trải một đêm bị pháo lai rai bằng cối để chuẩn bị tấn công lên đồi ngày kế. Họ kiểm tra vũ khí, đạn dược và túi chất nổ.
Cuộc tấn công cuối cùng lên đồi 875 xảy ra ngày 23 tháng 11. Lính dù và bộ binh bắt đầu tiến lên đồi, nhưng lần này ko gặp chống đối. Họ đã nhanh chóng vượt qua các giao thông hào cao ngang đầu người và các hầm trú ẩn lớn trống rỗng. Lính csbv đã rút, vì nhiệm vụ của họ đã hoàn tất. Lúc 11:45 sáng hôm đó, lính dù đã tới đỉnh đồi trống vắng. Họ đã reo hò với những bài hát bắt nhịp (chant), mà họ đã hô to khi nhảy khỏi trực thăng, đây là những khẩu hiệu đã có từ các chiến thắng trong Đệ Nhị Thế Chiến -- như "Airborne!" và "Geronimo!" Tuy nhiên, tiếng hò reo của họ đã giảm đi phần nào do nhiều cựu chiến binh của đv nhảy dù duy nhứt tại Việt Nam giờ đây đã chết. (Trong chiến tranh VN, chỉ có lữ đoàn 173 là nhảy dù, còn lại là TQLC, bộ binh, lực lượng đặc biệt.-- Người dịch). Một số lính khác, khi tới đỉnh đồi đã im lặng ngồi giữa đám bụi và những thân cây cháy đen (charred), mở khẩu phần ration-C , và ăn trưa.
Trận đánh Đồi 875 đã chấm dứt, và tính tới ngày 28/11, dĩ nhiên là Trận Chiến Năm 1967 Tại Cao Nguyên cũng chấm dứt. Hai trung đoàn 32 và 66 đã kiệt quệ (battered) của sđ 1 quân csbv, đã rút về bên kia biên giới, nhờ đoạn hậu bởi trung đoàn 174 sđ 1 csbv. (Trung đoàn này từng chiến đấu ở Lào trước khi vào VN).
Từ 25/10 đến 1/12/1967, một nỗ lực quân sự to lớn đã được tiến hành bởi một số đv giỏi nhứt của lục quân. Họ đã đi qua một số những lãnh thổ nguy hiểm nhứt tại nam Việt Nam và đã chiến đấu chống lại một số những đơn vị bộ binh giỏi nhứt thế giới. Và người Mỹ đã xử dụng rất nhiều bom đạn cho các trận đánh này: 151.000 đạn pháo binh, 2.096 phi xuất chiến thuật, và 257 phi xuất do B-52. Tổn thất cũng rất cao. Đại đội 179 trực thăng, đã xử dụng trực thăng Chinook để bốc hơn 40 xác trực thăng đã bị địch bắn rơi.
Trận Dak To đã đẩy quân CSBV sang Lào và KPC. Lục quân Mỹ đã có được chiến thắng nhờ vượt qua những khó khăn lớn về tiếp vận để tiếp cận (close with) và đánh bại một đối thủ hàng đầu (first-class). Khi năm 1967 sắp hết, khả năng của quân csbv mở những tấn công lớn tại Cao nguyên Trung phần đã bị triệt tiêu phần lớn. Tuy nhiên, như những biến cố trong năm 1968 đã chứng minh, những tác động lâu dài trên đây đã ít đạt yêu cầu như mong đợi của các nhà quân sự Việt Mỹ. Thất bại này của quân CSBV chỉ có tác dụng nhất thời, trong khi đó Trận Đánh năm 1967 tại Cao Nguyên đã gây thiệt hại rất lớn cho cả sđ 4 bộ binh và lữ đoàn 173 nhảy dù.
Chuyển ngữ từ bài The Battle of Dak To từ trang 166 - 176 của sách The Rise And Fall of An American Army của Shelby L.Stanton.
San Jose ngày 27 tháng 2 2022.
Tài Trần
2/ TRẦN QUANG PHỤ, sinh năm 1951.
TRẦN = 4215 = 12 = 3
QUANG = 16153 = 16 = 7
PHỤ = 856 = 19 = 10 = 1
====
Tìm hiểu thêm về cô này ở:
https://www.youtube.com/watch?v=1C6z-7rVW4w&feature=share&fbclid=IwAR2ykZOJTZ6Z058K3HRrzrO7KpLK735or-fHL8DR2v-qbJVN1fVnAe_l0CU
II/ Chuyến công tác cuối cùng của tàu ngầm I-52.
Dịch từ: The Last Dive ở trang 114 - 133 trên tạp chí National Geographic tháng 10.1999.
"Năm 1944.
Vào mùa xuân, khi những cây anh đào (cherry tree) nở gần Hoàng Cung, ông Satonobu Gamo, 34 tuổi rời nhà ở Tokyo trong một nhiệm vụ bí mật đến nỗi ông ko thể nói với vợ ông. Gamo là một kỹ sư, một người cha của 4 con. Ông đã được lịnh tới nhà máy Daimler-Benz ở Đức và học cách chế tạo máy cho tàu phóng lôi.
Nhật đã cần trong tuyệt vọng (desperately) kỹ thuật mới về vũ khí từ Đức, và Đức đã cần vật liệu thô từ đế quốc Nhật. Nhưng hai nước thuộc phe Trục này cách nhau nửa vòng trái đất, và mọi con đường xuyên qua Tây Bá Lợi Á đã bị đóng. Nhật đã ký hiệp ước bất tương xâm với Liên Xô, nhưng Đức đang tuyên chiến với họ. Lúc đầu Đức định gửi một thương thuyền để lo vụ này nhưng sau đó hủy bỏ vì sợ phe Đồng Minh tấn công.
Cách thay thế tốt nhứt là tàu ngầm và cả hai nước đều cải tiến tàu ngầm để có thể thực hiện kế hoạch đó. Tàu ngầm I-52, chế tạo tại cảng Kure năm 1943. Nó có thể mang khoảng 300 tấn hàng hóa và chạy 21.000 dặm Anh mà ko tiếp tế.
Vào giữa tháng Ba 1944, dưới chỉ huy của hạm trưởng Kameo Uno, tàu I-52 rời cảng Kure. Nó đã ngừng ở Singapore để lấy nguyên lộ thô từ các thuộc địa vùng Đông Nam Á của Nhật -- 2,88 tấn thuốc phiện, 3 tấn ký-ninh để dùng trong y khoa, và 54 tấn cao su. Có 11 sĩ quan, 11 hạ sĩ quan và binh sĩ và 14 hành khách, gồm 6 của hải quân và 8 dân thường -- một thông dịch và 7 kỹ sư, bao gồm Satonobu Gamo. Khi tàu rời Singapore đã bị hải quân Mỹ phát hiện khi các mật điện giữa tàu và BTL hải quân Nhật đã bị nghe lén.
Khi vượt Ấn Độ Dương, để tránh phát hiện, tàu chỉ nổi lên vào ban đêm. Ban ngày, hành khách và quân nhân ko trực phải nằm để tiết kiệm dưỡng khí.
Vào ngày 15/5, tàu I-52 đã đi vòng Phi châu và vào Đại Tây Dương. Nó được lịnh sẽ gặp một tàu ngầm Đức giữa đại dương, để nhận một hoa tiêu Đức và một máy phát hiện radar mới với 2 nhân viên điều khiển, để tàu có thể xâm nhập vào cảng Lorient của Pháp nhưng đang bị Đức kiểm soát.
Nhưng vào lúc này, Đại Tây Dương lại là một cái hồ của phe Đồng Minh. Vì chung quanh đại dương này, các trạm nghe ngóng liên tục chuyển tiếp (relay) các vị trí của tàu phe Trục. Đồng minh đã giải được bộ mật mã có tên là Enigma của Đức, nên họ đã đọc được các mật điện của HQ Đức.
Tin tình báo này đã khiến các tàu ngầm Đức hay U-boat phải lẩn trốn. Tình báo của Đồng minh giờ đây cũng biết những mật điện của tàu I-52.
Các sq tại BTL Mỹ ở Washington, D.C. đã xác định vị trí của I-52 cũng như các tàu ngầm địch tại đại dương này.
I-52 vượt đường xích đạo vào ngày 4/6, hai ngày trước vụ đổ quân vào Normandy của Pháp và dự định gặp chiếc U-530 vào ngày 23/6, chiếc này đang chờ họ.
Khi hai tàu đã nổi lên, hạm trưởng Đức, Kurt Lange, thả xuống một xuồng cao su có ba người gồm trung úy Schafer là hoa tiêu dẫn đường vào cảng và hai hiệu thính viên Schulze và Behrendt -- và một hộp gỗ đựng máy phát hiện radar mới. Vì sóng to, hộp này rơi xuống biển nhưng một thủy thủ Nhật vớt được.
Hai giờ 15 phút sau khi hai tàu gặp nhau, chiếc U-530 chạy về hướng tây. Vì nghĩ rằng ban đêm nên hai tàu vẫn nổi trên mặt nước.
Trong khi đó, cách đó 55 dặm Anh, phi công của chiếc máy bay phóng lôi Avenger xuất phát từ mẫu hạm USS Bogue. Đây là một tàu chỡ hàng cải biến thành mẫu hạm.
Phi công Taylor, 28 tuổi, chỉ huy của phi đội 69, gồm 14 phi công của mẫu hạm này. Họ có thể bay liên tục những chuyến bay đêm, đáp máy bay xuống một bãi đáp nhỏ hẹp của mẫu hạm trong ánh sáng lờ mờ.
"Chúng tôi đã công tác 7 tuần và sắp hết thức ăn và nhiên liệu. Đây là sứ mạng cuối cùng trước khi trở về căn cứ Norfolk ở Virginia."
Trong khi Taylor hướng về khu vực chỉ định, Ed Whitlock, một nhân viên radar của máy bay, đã ghi nhận một tiếng bíp. Khi bay gần tới, họ thả hai pháo khói và một phao màu tím. Phao này là một máy phát tín hiệu, mới được sáng chế, dùng để chuyển tiếp âm thanh dưới nước tới một máy thu trong phòng lái.
Âm thanh mà họ nhận là từ một cánh quạt của tàu, và chẳng bao lâu họ đã đối diện một tàu ngầm lớn của địch, hoàn toàn nổi trên mặt nước, đang rẻ nước với tốc độ 10-12 hải lý.
Trong khi tàu I-52 nhanh chóng lặn xuống, Taylor bay trước mũi tàu ngầm, làm thành số 8, và ném hai bom nổ sâu rất mạnh (depth bomb) vào mạn phải (starboard) của tàu. Bay vòng trở lại, ông ném vào chỗ nước xoáy (boil) tạo ra khi tàu lặn xuống, một thủy lôi âm học Mark 24. Ba phút sau đó, âm thanh của hủy diệt đã được thu vào phao nổi sonobuoy. Xạ thủ Andy của chiếc máy bay phóng lôi nói rằng âm thanh giống "giấy bị vo thành cục trong nắm tay chúng ta."
45 phút sau, chỉ huy của mẫu hạm Bogue, A.B.Vosseller, ra lịnh cho một máy bay phóng lôi khác đến vị trí vừa kể. Phi công đã thả một thủy lôi sau khi ghi nhận tiếng động của cánh quạt tàu ngầm, và 17 phút sau ông nghe một tiếng nổ mạnh.
Chiếc I-52 -- mà các chấn động từ những vụ nổ, đã khiến nước biển tràn vào phòng áp suất*, các vách ngăn bị sụp đổ, còi báo động phát liên tục, đèn đuốc mờ dần và cuối cùng tối đen -- và con tàu với 112 người nhanh chóng chìm xuống đáy biển.
Ngày kế, các tàu hộ tống của mẫu hạm Bogue đã thấy những mảnh vụn và một vệt dầu lớn trên mặt biển. Chiếc USS Janssen, đã vớt được hơn một tấn cao su thô, cũng như một đôi dép và những hạt gạo. Một chiếc khác vớt được một cuộn chỉ thêu (silk thread) và những mảnh thịt (pieces of flesh).
Năm 1944. Suốt mùa hè, TĐS Nhật ở Đức ngày càng lo lắng về chiếc tàu ngầm I-52, có ám danh là Momi. Các hàng hóa chiến lược cho Nhật đang nằm chờ ở cảng Lorient như: máy radar, máy ngắm để ném bom (bombsight), ống chân không, thủy tinh quang học, bạc đạn bằng thép, thủy ngân, đạn súng máy, thép hợp kim thấp (alloy steel) cho động cơ máy bay, hóa chất, bạch kim, và ít nhứt hai thủy lôi âm học T-5 mới phát triển. Các nhà ngoại giao cũng chờ để về Nhật bằng chiếc I-52.
Nhưng hạn kỳ của chiếc này, 25/6, đã qua, và hy vọng đã mờ dần khi, ngày 30/6, họ đã nhận được được một mật điện mã số QWF -- có vẻ phát đi từ chiếc I-52 nhưng cũng có thể là thông tin sai từ nước Anh -- với ý nghĩa tàu chỉ cách cảng Lorient 36 giờ. Viên phó tùy viên hải quân tại Berlin, Yoshikazu Fujimura, đã rời Berlin với 8 viên chức Nhật để đón tiếp tàu. Dựa vào mật điện có mã số QWF, họ đã đến cảng Lorient ngày 31/6.
"Điều ấn tượng nhứt là có khoảng 200 thành viên của Thanh niên Hitler tại Lorient," Fujimura nói với Seiichi Nakata, một viên chức về truyền hình Nhật vào năm 1986. "Đặc biệt... các cô gái Đức ở tuổi trên 20 có vẻ rất mơn mởn và đầy nghị lực (fresh and energetic).
Một tàu chiến Đức rời bến để gặp tàu ngầm Nhật. Họ đã chờ (stand by) trong bốn ngày. Ngày 8/8, tùy viên hải quân của TĐS Nhật tại Đức, đô đốc Kojima, gửi điện cho Uno, hạm trưởng của I-52 từ Berlin. " Dù chúng tôi ko thể liên lạc với ông, chúng tôi cầu nguyện cho ông được an toàn. Vì rất nguy hiểm. . . khi vào Lorient hay các cảng khác dọc bở biển Pháp, cố gắng tiến tới cảng Trondheim hay Bergen ở Na Uy."
Và khi quân Đồng Minh bao vậy Lorient, Fujimura lâm vào tình thế khó khăn (quandary). "Không còn cách nào thoát ra trừ phi mổ bụng (hara-kiri). . . Khi tôi nói với cấp dưới, "Các ông nghĩ thế nào? họ đã xoa bụng và nói sẽ đau lắm."
Những người Nhật này đã quyết định nhanh chóng rời (make off) bằng xe bus. Sau một tuần di chuyển gian nan (harrowing) xuyên qua các phòng tuyến của xe tank Đồng minh, họ đã tới Paris ngày 8/8.
Ba ngày sau đó phó đô đốc Abe, đại diện của Nhật tại Hội đồng Ba bên của phe Trục tại Berlin, điện về Tokyo: "Tai họa này đã ập xuống (befall) liên tiếp với các tàu ngầm liên lạc, ở một thời điểm mà những tàu này đóng một vai trò quan trọng trong việc liên lạc giữa Nhật và Đức, quả là một tổn thất cực kỳ đáng tiếc cho cả hai nước."
Khi được hỏi về số vàng, Fujimura bình luận,"Tôi ko luyến tiếc việc mất... vàng. Tôi chỉ tiếc là chúng ta đã mất 100 thủy thủ. Tôi cầu mong tôi có thể vớt được các thi thể."
Năm 1944. Trước khi chạy khỏi Lorient, quân Đức đã hủy hầu hết hàng hóa dành cho chiếc I-52. Nhưng một món ko có trong danh sách phá hủy, chỉ ghi vắn tắt, "--- oxide 500 kí."
"Dĩ nhiên đó là oxide uranium,"Tidwell nói, khi điền vào chỗ trống. Nếu chiếc I-52 nhận số hàng này, số uranium này sẽ tới Nhật vào mùa đông 1944 và được dùng để phát triển vũ khí, dù ko chế bom nguyên tử, như một số người đã lo sợ vào thời đó.
Cả Đức và Nhật đã có các nghiên cứu bước đầu về nguyên tử, nhưng Hitler đã hủy bỏ các cố gắng của Đức vì y nghĩ rằng Đức sẽ nhanh chóng chiến thắng và chương trình này có thể quá tốn kém. Nhật đã cố gắng tìm một phương pháp để làm giàu uranium nhưng chỉ ở giai đoạn đầu của nghiên cứu. Không nước nào sắp chế tạo một quả bom nguyên tử.
Tuy nhiên, Nhật vẫn muốn oxide uranium cao cấp và dựa vào Đức để có. Có một bằng chứng là năm 1944, một tàu ngầm Đức đã chuyển đến Nhật 500 kí nguyên liệu này, nhưng 500 kí khác đã mất trên biển trên đường tới Nhật.
Chuyến chuyên chỡ uranium cuối cùng rời cảng Kiel ngày 25/3/1945, trong một tàu ngầm lớn, loại thả mìn của Đức mang số hiệu U-234, chỉ huy bởi hạm trưởng Johann-Heinrich Fehler. Nó chuyên chỡ khỏi Âu châu -- vũ khí, đạn được, kim loại, và một chiến đấu cơ phản lực Messerschmitt 262 đã được tháo rời. Thủy ngân và chì (lead) được dùng để tạo thăng bằng cho tàu (keel ballast), và ở mũi tàu là mười thùng chứa oxide uranium.
Trong 12 hành khách có tướng Ulrich Kessler, tân tùy viên không quân của TĐS Đức ở Tokyo, cũng như hai sĩ quan kỹ thuật, Genso Shoji và Hideo Tomonaga, cùng đi với phái đoàn đến Lorient để đón tiếp chiếc I-52.
Vào ngày 8/5, sau khi chiếc U-234 từ biển Na Uy đến bắc của Đại Tây Dương, nước Đức đã đầu hàng, và ra lịnh bảo tàu về Na Uy. Nhưng hạm trưởng Fehler thích ở Mỹ hơn và cho tàu chạy về hướng tây.
Japan chưa chịu đầu hàng, nên Fehler đã buộc Tomonaga và Shoji phải ở tại phòng. Họ đã được tìm thấy, như Wolfgang Hirschfeld, một nhân viên truyền tin của U0234, mô tả trong hồi ký; "nằm trong ghế bố sát nhau, tay nắm tay, thở như rống (stertorously), và ko thể thức dậy."Một lọ thuốc ngủ Luminal trống rỗng được tìm thấy gần đó. Sau khi họ chết, Fehler đã bọc họ trong vãi võng với gươm của Tomonaga và thả xuống biển.
NGUYỄN = 7
HỢI = 571 = 13 = 4
VŨ ĐỨC TIỀM