Tuesday, April 28, 2020

SỰ SỤP ĐỔ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐÃ ĐƯỢC SẮP XẾP BỞI TRỜI ĐẤT

Khi Tổng Thống Trần văn Hương đã buộc lòng giao quyền lực cho một người có một tiền định rất xấu như tướng Dương văn Minh (dù điều đó là vi hiến). Theo tự điển bách khoa trên mạng hay wikipedia, ông Minh sanh ngày 16/2/1916.

Theo người Can-đê cổ đại, đã di cư vào vùng Lưỡng Hà khoảng thế kỷ thứ 9 trước Công Nguyên, mỗi chữ trong bảng mẩu tự có một trị số tương ứng; đó là chữ A bằng 1, B bằng 2, C bằng 3, D bằng 4, E bằng 5, F bằng 8, G bằng 3, H bằng 5, I bằng 1, J bằng 1, K bằng 2, L bằng 3, M bằng 4, N bằng 5, 0 bằng 7, P bằng 8, Q bằng 1, R bằng 2, S bằng 3, T bằng 4, U bằng 6, V bằng 6, W bằng 6, X bằng 5, Y bằng 1, và Z bằng 7

Dựa vào bảng trị số trên đây, người Can-đê là một trong các dân tộc đã đóng góp rất nhiều cho Lý Thuyết Số hay Thần Số Học, mà người thời nay áp dụng để phân tách tên họ hay các biến cố lịch sử, v.v...

Thay thế các chữ trong tên họ của ông Dương văn Minh bằng trị số tương ứng, ta sẽ thấy: 

- DƯƠNG bằng 4 cộng 6 cộng 7 cộng 5 cộng 3 bằng 25; 25 bằng 2 cộng 5 bằng 7. Điều này cũng đúng với ai có họ Dương.

- VĂN bằng 6 cộng 1 cộng 5 bằng 12; 12 bằng 1 cộng 2 bằng 3. Điều này cũng đúng với ai có chữ lót là Văn. 

- MINH bằng 4 cộng 1 cộng 5 cộng 5 bằng 15;  15 bằng 1 cộng 5 bằng 6. Điều này cũng đúng với ai có tên là Minh. 

Sau khi cộng 7 và 3 và 6, ta thấy tên họ đầy đủ của ông Minh bằng 16 mà ý nghĩa theo Lý thuyết Số là THÀNH LŨY TAN NÁT.

Như vậy ông Minh bị số 16 tác động hai lần (ngày sanh và tên đều bằng 16), chưa kể ông sanh năm 1916.  Đây là một số RẤT XẤU (số của TAI HỌA TIỀN ĐỊNH LẠ LÙNG) mà ví dụ điển hình là cố Tổng Thống Mỹ Abraham Lincoln: ông này có tên cộng lại bằng 16 và cũng là Tổng Thống thứ 16 của Mỹ!

Ý Nghĩa Của Số 16: Thành Quách Tan Vỡ - dựa theo sách Linda Goodman's Star Signs, trang 254-55.

Theo nguời Can-đê cổ đại thì số 16 đuợc biểu tuợng bởi hình ảnh “một Tòa Tháp bị Sét đánh, từ đó một nguời đang rơi xuống, với một Vuơng miện trên đầu”. Số này cảnh báo về một tai họa tiền định lạ lùng, cũng như sự nguy hiểm của các tai nạn và sự thất bại của những kế hoạch của nguời mang số đó. Nếu tên bằng 16, điều dĩ nhiên là khôn ngoan đổi tên để tránh tác động của nó. Nếu ngày sanh là ngày 16 của bất cứ tháng nào, sự thử thách của số 16 phải đuợc cẩn thận đáp ứng, để cho tác động có thể giảm nhẹ tới một mức không khắc nghiệt lắm. Để tránh khuynh huớng tiền định đầy khắc nghiệt này của ngày sanh là số 16, nguời (có ngày sanh là 16) này phải cố gắng lập kế hoạch truớc khi làm bất cứ việc gì, để chắc chắn rằng mọi khả năng của thất bại phải đuợc tiên liệu và phải đuợc né tránh hay đổi huớng bằng cách chú ý cẩn thận từng chi tiết. Số 16 cũng mang đến cùng với nó sự bắt buộc và trách nhiệm phải nghe theo tiếng nói từ bên trong của số 7, tiếng nói này sẽ luôn luôn cảnh báo về nguy hiểm thông qua những giấc mơ hoặc trực giác để tránh kịp thời. Không nên coi thuờng tiếng nói từ bên trong. Như tôi (tức bà Linda Goodman) truớc đây đã giải thích phần nào về sự kiện rằng tên “Abraham Lincoln” bằng số 16, rằng ông Lincoln đã đuợc cảnh báo nhiều lần về việc ám sát ông là có thể xảy ra thông qua những giấc mơ của ông . . . và cũng như bởi vài ông đồng bà bóng đuợc đưa vào Tòa Nhà Trắng bởi bà Mary Todd Lincoln. Ông đã coi thường những cảnh báo rõ ràng này, và đã từ chối thực hiện những biện pháp phòng ngừa cần thiết, vì vậy đã không thể tránh khỏi tai họa tiền định này. Nhưng điều này đã có thể tránh đuợc, và đây là điều quan trọng mà nguời có ngày sanh là 16 (như tướng Dương văn Minh -- người dịch) phải nhớ như sau:

Để giảm nhẹ khía cạnh tiêu cực của số 16, thay vì làm lãnh đạo cấp cao hay được nổi tiếng – họ nên tìm kiếm hạnh phúc bằng những cách khác.

Lincoln đã không làm như vậy, vì nghĩ rằng điều quan trọng là phải cố gắng thống nhứt đất nước hơn là hưởng thụ hạnh phúc của một cuộc sống riêng tư, mặc dù ông đã nhận chức Tổng thống với nhiều miễn cưỡng và nỗi buồn sâu thẳm.

(Dịch từ trang 254-255 của sách đã dẫn của bà chiêm tinh gia nổi tiếng nguời Mỹ Linda Goodman).


CẬP NHẬT: Theo ý nghĩa trên đây của số 16 thì nếu người nào có ngày sanh bằng 16 (như ông Minh), thì "để giảm nhẹ khía cạnh tiêu cực của số 16, thay vì làm lãnh đạo cấp cao hay được nổi tiếng – họ nên tìm kiếm hạnh phúc bằng những cách khác".

Trong khi đó, tướng Dương văn Minh vào tháng 4/75, cũng vì muốn NỔI TIẾNG VÀ DANH VỌNG, nên đã yêu cầu cụ Hương giao chức Tổng thống cho mình, dù cụ Hương không muốn (vì làm như vậy là vi hiến). Tuy nhiên do ÁP LỰC của Mỹ (muốn Việt Nam Cộng Hòa phải có người mà cộng sản có thể chấp nhận), nên cuối cùng cụ Hương phải TRIỆU TẬP KHẨN CẤP QUỐC HỘI để thông qua việc chọn ông Minh làm Tổng thống.

Nên nhớ ông Thiệu phải ra đi khỏi nước, cũng do ÁP LỰC của Mỹ, vì đài Hà Nội cứ ra rả ngày đêm rằng chánh phủ Trần văn Hương là chánh phủ Thiệu mà không có Thiệu. Nhiều người không biết điều này đã cho rằng ông Thiệu "đã đào ngũ, trốn trách nhiệm, v.v..."

Ông Lincoln chỉ có tên bằng 16 mà còn bị tai họa như vậy -- huống hồ ông Minh vừa có ngày sanh và tên bằng 16, như tôi phân tách trên đây, thì TÁC HẠI của việc làm của ông Minh TÁC HẠI GẤP TRĂM LẦN của Lincoln. Lincoln chỉ có hy sinh mạng sống của riêng mình để THỐNG NHẤT hai miền nam bắc (đã chia rẻ từ lâu vì vấn đề nô lệ), trong khi ông Minh dù đã thống nhất 2 miền nam bắc về mặt chánh trị và địa lý, nhưng không thể thống nhất tâm tư tình cảm của 2 miền -- khi miền bắc đã bỏ tù hàng trăm ngàn quân dân cán chính miền nam, khi đánh tư sản và chiếm đoạt không biết bao nhiêu tài sản, nhà cửa, khiến hàng triệu người phải đi kinh tế mới hay bỏ nước ra đi. Họ làm mồi cho cướp biển, sóng to gió lớn, hay chết hay đi tù vì Công An chận bắt hay gài bẫy. Anh Thanh, một người bạn thân của tôi, nay đã gần như hóa khùng vì vợ và (đứa con trong bụng) đã trúng đạn chết trên tàu trong lúc vượt biên (do tàu công an bắn). Y trốn được về nhà vợ, bị bên vợ xua đuổi vì cho rằng "tại y mà con gái và cháu ngoại của họ bị chết thảm thương". Sau đó thằng con trai còn lại của y vượt biên cùng cậu dì. Nó hiện làm bác sĩ ở Sacramento nhưng không thèm nói chuyện với y vì bị bên vợ gieo tiếng ác cho y.

San Jose ngày 15/03/2010, cập nhật ngày 28/9/2025/.

Tài Trần

===

NÓI THÊM: Người tư lịnh cũ của quân đoàn 2 là tướng Nguyễn văn Toàn. Theo nhiều sĩ quan cấp dưới, dù mang tiếng ăn chơi, tham nhũng, nhưng ông lại là 1 dũng tướng, như dám dùng trực thăng để thăm các tiền đồn, công việc mà chưa chắc trung đoàn trưởng đã làm, trong khi ông là tư lịnh quân đoàn. Tháng 3 năm 1975, nếu ông còn là tư lịnh, cuộc rút quân khỏi quân khu 2 chưa chắc đã thảm hại như tướng Phú đã làm. Ông Phú có ngày sanh là 16, nghĩa là THÀNH LŨY TAN NÁT. Do vậy giao quân đoàn 2 cho ổng thì mất là phải.

Ông Thiệu, dù không muốn, nhưng buộc lòng phải thay tướng Toàn bằng tướng Phú vì do yêu cầu của phó tổng thống Hương, nói rằng ông Toàn tham nhũng. 

Cập nhật ngày 26.10.2025 lúc 02 g 28 chiều. 


TRẬN BẾN TRANH THÁNG 4/1975 ,
CHIẾN THẮNG LỚN NHỨT VÀ CUỐI CÙNG CỦA QUÂN VÀ DÂN VNCH - ĐƯỢC BÁO CHÍ QUỐC TẾ LOAN TIN
(Dịch từ tuần báo Pháp Paris-Match số 1352 ngày 26/4/1975)
.
. . .
"Quận Bến Tranh
"Mỹ Quới, 150 dân làng đã được tập trung tại sân làng khi chúng tôi tới. Những người này không đi ra đồng sáng nay. Trong tầm nhìn của mắt, vùng châu thổ rạn nứt này, ngoại trừ lững lơ những đám sương mù, còn lại là trong vắt (a perte de vue, le delta craquele, sur lequel flottent de echarpes de brume, est vide). Xa xa, xuất hiện những cụm khói (au loin, des fumées d'explosion), đó là những khẩu 105 của pháo binh chánh phủ đang giã/nện (pilonner) những tàn quân của một trung đoàn quân Bắc Việt xâm nhập, đã bị tiêu diệt hôm trước (s'est fait anéantir la veille).
Đó là hòa bình và đó là chiến tranh. Vùng châu thổ này luôn luôn có hai bộ mặt. Trong khúc quanh của con kinh (la boucle de l'arroyo) chảy vòng qua làng, nổi lên những xác chết sình chướng và đen kịt (gonfles et noirs).
Cách đây hai ngày, Mỹ Quới đã là bộ chỉ huy của quân Bắc Việt. Trên ngưỡng cửa của một ngôi nhà, một người đàn ông với nét mặt đầy sợ hãi (aux yeux remplis de frayeur), đang ngồi, được canh gác bởi ba nghĩa quân (trois villageois en armes). "Người này trước đây là chính ủy của trung đoàn "(c'était le commissaire politique du regiment), Đại Tá Thành giải thích cho tôi. Mập nhưng lùn (trapu), gương mặt tròn nhưng với nét cứng cỏi (les traits fermes), Đại Tá Thành đã hành quân (ratisser) vùng châu thổ này từ nhiều tháng. Ông nhìn chăm chú cánh đồng chỉ còn bùn khô, ngăn cách bởi những con đê nhỏ, và thì thầm: "còn nữa". (il scrute la plaine de boue sèche , quadrillee par les diguettes, et murmure: " Il y en a encore"). Ông nói như một sĩ quan Pháp của thập niên 1950. Tôi nói như vậy với ông, ông trả lời: "vùng châu thổ là vậy" (C'est la delta).
Nhưng bên dưới những bụi chuối (bananeraie), tạo bóng mát cho làng, những cô gái trẻ mặc áo lụa trắng đang phì cười (pouffent de rire ), những đứa nhỏ ở truồng vừa đuổi nhau vừa la trước mỗi nhà - những ngôi nhà bằng đất với lớp vữa màu xanh (maisons en dur, enduites de crepi bleu). Có nhiều lu lớn đựng nước ngọt mà những thanh niên có thể dùng những cái lon bằng thiếc để múc uống hay rảy nước cho mát (des gobelets de fer blanc pour boire et s'asperger). Nguời ta vừa lấy những xác dưới kinh, sẽ chôn cất và mọi việc sẽ cũng như trước. Cho tới đêm kế (jusqu'à la nuit prochaine).
Bởi vì đó là đêm mà các đặc công Bắc việt xâm nhập vào các làng để đe dọa các trưởng làng, trừng phạt những nông dân không tuân lịnh Việt cộng (châtier les paysans qui ne se plient pas aux consignes du Viet-cong). Giống như thời người Pháp còn hiện diện. Vùng châu thổ này, với một triệu người đang nuôi 20 triệu người, có thể nuôi toàn nước Việt Nam. Đây là vùng đất màu mỡ/phì nhiêu (fertile) nhất Đông-Nam-Á. Không có vùng châu thổ, Sài Gòn sẽ là một thành phố chết. Do đó mà tại sao Đại Tá Thành theo dõi, trong khu vực bao la này, nơi mà người ngoại quốc phải dựa vào địa bàn để di chuyển, những trung đoàn Bắc Việt phân tán thành từng toán nhỏ, giấu mình trong những ao (trous d'eau), đào những đường hầm dưới các đê và đôi khi sống dưới đó trong nhiều tháng.
Người nông dân vùng châu thổ KHÔNG thích Việt cộng. Và đối với họ, một người miền Bắc là một người Esquimau. Mỗi ấp ¬có nghĩa quân trang bị vũ khí nhẹ. Ở phía bắc của vùng châu thổ, những người Hòa Hảo, một giáo phái có màu sắc chính trị tổ chức thành một đạo quân thật sự, đã thành công khi làm khiếp đảm những phần tử liều lĩnh nhứt của đội quân quyết tử của Hà Nội. Nhưng những người nông dân này cũng ghét những công chức của Sài Gòn tham nhũng (ranconner) và không biết lội ruộng (ne savent pas marcher dans les rizières). Họ có một danh từ để chỉ những người này: đó là những người mang túi/bị gạo (ce sont ceux qui emportent les sacs de riz.
Chúng ta đang ở Á châu và người nông dân đang chờ để biết ai sẽ là kẻ mạnh nhứt. Chính kẻ mạnh nhứt sẽ làm chủ vùng châu thổ này. Vào lúc này, vị đại tá khỏe mạnh này đang giữ quận Bến Tranh trong tay cho chính quyền VNCH ở Sài Gòn. Không nắm vững tình hình, người nông dân không biết tới sự thảm bại mới đây (ý nói sụp đổ của các tỉnh miền trung.-Tài) và hơn nữa, họ còn cười vì nghĩ rằng nó quá xa nơi họ đang sống.
Nhưng nếu Bắc quân, tại Xuân Lộc đang cầm chân những lực lượng giỏi nhứt của Sài Gòn, đột nhiên tấn công vùng châu thổ?
Chúng tôi tiếp tục trợt lên trợt xuống (trebucher) trên những bờ ruộng, tới Ấp Bắc. Vẫn còn những thiếu nữ với hoa cài trên tóc. Vẫn còn những đứa trẻ nô đùa vài mét cách các xác sình chướng và nám đen. Vẫn còn xuất hiện những nghĩa quân bảo vệ làng của họ. Nhưng họ sẽ chống được ai?
Chúng tôi vào nhà của xã trưởng. Có tám đứa nhỏ trên bộ ván gỗ lớn. Một bà lão đang đang cắm hoa trước bàn thờ ông bà. Vị xã trưởng chào đại tá.
- "Làng này thì bảo đảm".
Đại Tá nói.
Nhưng ông ta nhìn ra xa, hướng về các bụi chuối mà sức nóng của buổi trưa làm chúng lung linh dưới ánh mặt trời, như địch quân đang ẩn núp ở đó.
Tại Sài Gòn, trong một con đường rộng, kế khách sạn Continental, có một người đàn bà nhỏ thó đang sống, mảnh khảnh nhưng hoạt bát (menue et vive), vừa làm trung gian (interposer) giữa hai kẻ thù không đội trời chung, Tổng Thống Thiệu và Việt cộng. Đó là bà Ngô Bá Thành. Bà mời các phóng viên quốc tế đến vườn nhà bà. Đối với người nước ngoài, bà tượng trưng cho lực lượng thứ ba. Ở Washington, Paris, London, và có thể ở Moscow người ta lắng nghe bà. Người ta coi bà như một lực lượng để thay thế. Người ta cũng đang theo dõi một viên tướng mà giá trị lớn nhứt của ông là vẫn còn im lặng. Đó là Minh lớn. Người ta đồn đãi rằng ông sắp tái xuất giang hồ. Nhưng dân Sài Gòn, mỗi đêm hướng lổ tai về Xuân Lộc, chỉ có thể nghe tiếng đại bác của Bắc quân./."
Ký giả: Francois Caviglioli
Ảnh: tuần báo Paris Match số 1352 có bài phóng sự về chiến thắng Bến Tranh của trung đoàn 12 sđ 7 bộ binh, chỉ huy bởi đại tá Đặng Phương Thành.
                        
ĐT Đặng Phương Thành



S Ự  T Á I  S I N H - T H A Y  Đ Ổ I
(R E G E N E R A T I O N - C H A N G E)
1/ Số 13 không phải là xấu như nhiều người nghĩ. Người xưa nói rằng ai biết cách xử dụng số này sẽ có được QUYỀN LỰC và sự PHỤC TÙNG từ kẻ khác. Số 13 dính liền đến quyền lực và nếu (quyền lực này) được dùng vào mục đích VỊ KỶ thì sẽ mang sự HỦY DIỆT (destruction) cho chính số đó.
2/ Hình ảnh tượng trưng cho số 13 là bộ xương, là thần chết, tay cầm lưỡi hái, đang tàn sát biết bao con người còn rất trẻ, đang chen lấn, dẩm đạp lên nhau, tìm cách thoát thân, trên một cánh đồng cỏ mới mọc.
3/ Số nầy cũng cảnh báo về chuyện KHÔNG AI NGỜ ĐƯỢC lại sẽ xảy ra.
4/ Số 13 cũng là số của ĐỔI ĐỜI (upheaval), để cho người ta có thể làm được điều hoàn toàn MỚI - mà trước đó KHÔNG AI LÀM ĐƯỢC. Số này dính liền với thiên tài - cũng như với các nhà thám hiểm - là số phá vở những gì có tính chính thống và những khám phá trên mọi lãnh vực.
* Dịch từ sách Linda Goodman's Star Signs, tr. 197 của Linda Goodman - chiêm tinh gia hàng đầu của Mỹ.





Monday, April 27, 2020

NGÀY 30 THÁNG 4 TƯỞNG NHỚ VỀ NGƯỜI ANH HÙNG BỊ LÃNG QUÊN

Facebooktwitterredditpinterestlinkedinmail
Sắp tới ngày Quốc Hận 30 tháng 4. 43 năm trôi qua, Đất Nước chìm đắm trong nền cai trị độc tài, người Dân chưa bao giờ thấy được thấy ánh sáng của tự do dân chủ. Càng ngày càng ngập sâu vào cảnh bắt bớ, tù đầy, đánh đập, hành hạ… Những ai đụng tới quan thầy Trung Cộng của Việt Cộng thì bị vào tù ngồi “đếm” hàng chục cuốn lịch! Trí thức không dám lên tiếng về những thảm trạng mà Trung Cộng gây ra cho dân tộc Việt Nam! Những hệ lụy đau thương của dân tộc đó làm cho chúng ta nhớ tới Việt Nam Cộng Hòa, một thể chế tự do dân chủ. Đặc biệt, những người Chiến sĩ Quân Lực VNCH đã chiến đấu anh dũng bảo vệ cho nền Tự do Dân chủ đó. Bài này tưởng nhớ vị Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 42, Sư Đoàn 22 Bộ Binh QLVNCH, Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, xuất thân khóa 16 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam… với hình ảnh kiêu hùng của những ngày sau cùng cuộc chiến 30-4-1975.(VQ2).
Tổng Thống Đệ Nhị Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu với các Trung Đoàn Trưởng cùng xuất thân Khóa 16 tại chiến trường Cao nguyên: Trung tá Đinh Văn Mễ (Trái), Trung Đoàn trưởng  Trung Đoàn 47, Đại tá Nguyễn Hũu Thông (Giữa), Trung Đoàn trưởng  Trung Đoàn 42 và Đại tá Nguyễn Thiều (Phải), Trung Đoàn trưởng  Trung Đoàn 41 thuộc  Sư Đoàn 22 BB 
Binh nghiệp lẫy lừng nhưng đầy bi hùng của Đại tá Thông bắt đầu từ cuối năm 1971 khi ông còn là Trung tá, được chỉ định về làm Giám đốc Trung Tâm Hành Quân /Tiểu Khu Bình Định, nhưng chỉ chừng 3 tháng sau, ông được bổ nhiệm làm  Trung Đoàn trưởng  Trung Đoàn 42/SĐ 22 Bộ Binh (BB) để trực chiến ngay với Bắc quân Cộng sản  trong một trận chiến kinh hoàng nhất trong Mùa Hè Đỏ Lửa, tháng tư năm 1972, trận DAKTO – TÂN CẢNH. 
Mở đầu Mùa Hè Đỏ Lửa tại Dakto-Tân Cảnh ngày 22 và 23 tháng Tư năm 1972, các  Sư Đoàn Bắc quân đã bất thần tấn công trực diện vào Bộ Tư lệnh Tiền phương và 2  Trung Đoàn của  Sư Đoàn 22, với sự yểm trợ của đại pháo cường tập tối đa và Thiết giáp hạng nặng cùng với chiến thuật biển người.  Trung Đoàn 42 và 47 và Bộ tư lệnh của  Sư Đoàn đã chống trả mãnh liệt, Thiếu Tá Nguyễn Bá Như, Trung Đoàn Phó 42, cùng Đại Úy Cố Vấn Kenneth Yoman đã leo lên tháp nước cao tại căn cứ, xử dụng đại liên 12 ly 7 để tác xạ địch, cũng bị hỏa tiễn Sagger bắn trúng, bồn nước nổ tung và cà hai vị sĩ quan này chết tại chỗ. Tân cảnh thất thủ !
Ban cố vấn còn lại được cố vấn trưởng Quân đoàn John P. Vann giúp đỡ di tản lúc 4 giờ sáng bằng trực thăng, nhưng vị Tư lệnh  Sư Đoàn 22, Đại tá Lê Đức Đạt cương quyết ở lại chống trả, để rồi tử trận trong biển lửa ngày 24 tháng Tư, 1972.
Bản đồ mặt trận Darkto-Tân Cảnh
Sự uất hận thua trận vì chiến thuật biển người thí quân của Bắc quân và sự hy sinh anh hùng của một Đại niên trưởng, của các Huynh Đệ đã khơi dậy tinh thần yêu nuớc, yêu dân và lòng can đảm của những Sĩ quan tự hào xuất thân từ Quân trường Võ Bị nổi tiếng, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Đại tá Thông cùng với vị Tân Tư lệnh cùng 3 vị  Trung Đoàn trưởng 40, 41 & 47 đã tái hồi sinh một  Sư Đoàn 22 mãnh liệt và dũng cảm hơn bao giờ hết.  Sư Đoàn 22 cùng với  Sư Đoàn 23 từ đó đã tái chiếm, trấn giữ vùng Cao nguyên từ Pleiku đến KonTum, từ Pleime đến Bình Định. Nhưng cho đến một ngày…..một ngày vào cuối tháng 3 năm 1975, theo lời của Y sĩ Trung úy Phan ngọc Hà, Tiểu đoàn 22 Quân y, thì “. …tình thế biến chuyển thật lẹ làng. Quyết định sai lầm trong việc triệt thoái Quân đoàn 2 ra khỏi Cao nguyên chẳng những đã không duy trì được lực lượng tác chiến mà còn làm rối loạn hậu phương và cũng chẳng có một lợi ích chính trị nào hết nếu không muốn nói đến sự phá sản của mọi mặt khi quân bài Domino bắt đầu đổ vỡ.”
 
Tháng 3 năm 1975, khi Ban Mê Thuột thất thủ, SĐ 22 chỉ còn 3  Trung Đoàn để phòng thủ Bình Định vì Trung đoàn 40 đã phải tăng phái cho SĐ 23 BB tại tuyến bắc Khánh Dương. Tại Bình Định, Trung Đoàn 47 của Đại tá Lê Cầu (Khóa 18/Võ Bị Đà Lạt) được giao khu vực bắc Bình Định, lo trấn giữ Bồng Sơn, cửa ngõ ra vào thung lũng An Lão.
 Trung Đoàn 41 của Đại tá Nguyễn Thiều giữ Quốc lộ 19 từ Bình Khê đến An Khê trong khi  Trung Đoàn 42 của Đại tá Nguyễn Hữu Thông giữ Quốc lộ 19 phía Nam Bình Khê và phần lãnh thổ còn lại của Bình Định. Trong lúc Trung Đoàn 42 đang cầm cự một cách dũng mãnh với  Sư Đoàn 3 Sao vàng của Bắc Việt ở mặt trận Bình khê thì được lệnh phải di tản về Nha Trang để yểm trợ cho Lữ đoàn 3 Nhảy Dù đang cầm chân Cộng quân ở Khánh Dương.
Nhưng lui binh bao giờ cũng là vấn đề khó khăn của các nhà quân sự từ Đông Tây kim cổ. Tài ba và mưu lược như Gia Cát Lượng mấy lần vào Kỳ Sơn như chỗ không người; oai dũng kiêu hùng như Napoléon cùng đoàn quân viễn chinh dưới chân Kim Tự tháp tự hào rằng lịch sử đang chiêm ngưỡng tài danh vẫn không khỏi khốn đốn khi phải rút lui, khi trận địa không còn ưu đãi.
Tuy nhiên, với những kỳ tài điều quân, ông đã để lại những trang sử hào hùng hiếm có trong Quân sử cận đại, điển hình là sự tái chiếm Đèo Nhông năm 1974. Theo lời của Phóng viên chiến trường Phạm Huấn “Đây là cuộc chuyển quân thần tốc của một  Trung Đoàn – Trung Đoàn 42 Bộ Binh – từ Tây Nguyên trở về Bình Định tái chiếm đèo Nhông – đây cũng là một chiến thắng kỳ diệu nhất của  Trung Đoàn 42 trong năm 1974.  Trung Đoàn 42 Bộ Binh đang hành quân tại vùng Pleime, Tây Nam Pleiku, trong một buổi chiều, được lệnh về giải tỏa áp lực của địch tại mặt trận Bình Định. Cuộc chuyển quân tưởng rằng phải được thực hiện trong vòng 2 hay 3 ngày. Nhưng, ngay đêm ấy, toàn bộ  Trung Đoàn 42 đã về tới Bắc Phù Cát. Và từ đó, dùng bàn đạp, đánh thẳng vào hậu phương địch, khiến Bắc quân trở tay không kịp. Những trận đánh đẫm máu ròng rã suốt 3 ngày sau.  Trung Đoàn 42 đã tiêu diệt gần 1  Trung Đoàn CSBV của  Sư Đoàn 3 Sao Vàng, dựng nên “Chiến Thắng Đèo Nhông”.
Trước khi mặt trận Ban Mê Thuột bùng nổ, một lần nữa, Trung Đoàn 42 Bộ Binh cũng đã tái chiếm và biến 2 ngọn đồi vô danh từ Tây Tây Nam quận Hoài Nhơn, Bình Định thành những “di tích” của chiến sử, nói lên tinh thần chiến đấu chống Cộng phi thường của người quân nhân QLVNCH.
Hai ngọn đồi vô danh, đó là những ngọn đồi chiến lược, được mang số 82 và 174, nằm trên huyết lộ vận chuyển của Cộng quân, trên trục Quảng Ngãi – Bình Định. Cũng tại hai cao điểm chiến lược này, bọn nhà báo bất lương ngoại quốc, sau gần 20 năm xuyên tạc về chiến tranh Việt Nam, đã phải ngả nón kính phục về tinh thần dũng cảm của QLVNCH. Một phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ cũng được gởi tới đó quan sát chiến trường, và khi trở về nước, đã lên tiếng binh vực, ủng hộ Việt Nam. Nhưng, mọi chuyện đã quá muộn!
Ngày 31 tháng 3 năm 1975, trước và sau đó suốt 22 tiếng đồng hồ, các  Trung Đoàn 41, 42, 47, trên chặng đường rút quân này, đã phải đương đầu một trận tuyến dài hơn 30 cây số; từng đơn vị bị phục kích, bị “chặt đứt” ra từng đoạn nhỏ. Họ phải trực diện một cuộc trả thù tàn ác, man rợ nhất trong trận chiến sau cùng của chiến tranh Việt Nam. Trên 30 cây số đường máu, chiến đấu không yểm trợ, không tiếp tế, không tản thương…
Trước mặt, sau lưng, đều là địch
“Đối thủ” lần này tuy vẫn là  Sư Đoàn 3 Sao Vàng, và những tiểu đoàn đặc công CSBV. Bắc quân CS ở thế thượng phong, có pháo và chiến xa yểm trợ. Những người cộng sản đã không cần biết đến quy luật của chiến tranh. Chúng thẳng tay tàn sát “kẻ thù” mà trước đây đã gây cho chúng những tổn thất lớn lao, những thất bại đau đớn.
Trên 30 cây số đường máu, các chiến sĩ Sư Đoàn 22 Bộ Binh đã chiến đấu trong tình trạng tuyệt vọng, nhưng vẫn dũng cảm, anh hùng. Tưởng cũng cần nhắc lại, Sư Đoàn 22 BB gồm có 4  Trung Đoàn bộ binh, Trung Đoàn 40,41,42 và 47.
Nhiều người đã bắn đến viên đạn cuối cùng, rồi ngã gục! Những hành động thật hào hùng, thật phi thường, trong đó có Đại tá Lê Cầu, Trung Đoàn trưởng  Trung Đoàn 47…..”
Thật vậy, sau trận chiến Dakto-Tân cảnh, nếu  Trung Đoàn 42 nói riêng và  Sư Đoàn 22 nói chung đã từng chiến đấu kiên cường biết bao với Cộng quân, thì khi phải rút lui, họ lại bị tơi tả dường ấy. Mọi kế hoạch thật không diễn tiến đúng như những bàn thảo ban đầu. Thành phố Quy Nhơn hỗn loạn sớm hơn dự tính vì đã có sự trà trộn của các đặc công và sự quấy phá của các Việt cộng nằm vùng.
Tuy nhiên khi  Trung Đoàn 42 từ An Túc rút về tử thủ ở chân đèo An Khê, tại đây, Trung Đoàn 42 đã lần chót đã đánh bật sư đoàn F10 Cộng quân không cho tràn xuống từ đèo An Khê, đã tiêu diệt trên 600 địch quân.  Sư Đoàn Bắc quân F10 (SĐ 10) phải bọc qua dẫy Nam Triều cố tràn xuống chiếm Quy Nhơn, nhưng Đại tá Thông đã kết hợp với  Trung Đoàn 41 của Đại tá Thiều ( bạn cùng khóa 16/ Trường Võ Bị Đà Lạt ) tức tốc kéo về thành phố Quy Nhơn trước, đã cầm chân  Sư Đoàn F10 và các lực lượng địa phương Cộng sản để bảo vệ cho Quân Dân di tản, và đã ở lại tử thủ Quy Nhơn cho đến ngày 2 tháng Tư.
Trong thời gian này, Tư Lệnh Hải Quân, Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang, chỉ thị cựu Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, vào chức vụ Tư Lệnh các Lực Lượng Hải Quân yểm trợ chiến trường Quy Nhơn.
Lực lượng Hải quân gồm có các chiến hạm:
Một tàu Hải Quân VNCH tăng cường cho mặt trận Quy Nhơn
HQ3, Soái hạm có Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh; HQ07 có HQ Trung tá Lê Thuần Phong, CHT Hải đội 2 Tuần dương, sau đó đã lên HQ403 để điều động cuộc nhập hạm của 2  Trung Đoàn 41 và 42; HQ 08 có HQ Trung tá Lê Thành Uyển, CHT Hải đội 3 Tuần dương, trách nhiệm phối hợp với các đơn vị Bộ Binh trên bờ; HQ400 có nhiệm vụ đón các đơn vị sau cùng của  Sư Đoàn 22BB và 2 vị  Trung Đoàn Trưởng  Trung Đoàn 41 và 42.
Ngày 2 tháng tư năm 1975, Sư Đoàn 22BB có lệnh từ Bô Tổng Tham Mưu phải rút quân, Đại tá Nguyễn Hữu Thông và Đại Tá Nguyễn Thiều, Trung Đoàn trưởng Trung Đòan 41 đành phải điều động gần 5 Tiểu Đòan thuộc quyền lên các chiến hạm Hải Quân đậu gần bờ dưới những lằn đạn pháo kích nghiệt ngã của Bắc quân.
Nhưng vẫn còn môt Tiểu Đoàn của Đại Tá Thông còn chưa đến. Hai ông quyết định một người phải ở lại chờ đợi, một người phải lên tàu để chỉ huy đoàn quân. Thông và vài người đã chọn ở lại, quyết chờ đợi.               
HQ3 là Soái hạm trong chiến trận hành quân phối hợp sau cùng tại Qui Nhơn               
Vì chiến hạm phải cứu nguy hàng ngàn người di tản khác khi địch quân hàng hàng lớp lớp đang truy kích quân ta sát bờ, nên tầu phải nhổ neo.
Theo lời của nhà văn Hải Quân Điệp Mỹ Linh, “Từ trong bờ, Việt Cộng bắn ra chiến hạm dữ dội khiến chiến hạm không thể nào cặp bãi được. Cuối cùng, một số các quân nhân của Sư Đoàn 22 phải bơi ra tầu. Trong số những quân nhân đã lên tàu, có Thiếu Tướng Phan Đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh.
HQ07, HQ08, HQ400 và HQ403 trách nhiệm yểm trợ & hải vận Sư Đoàn 22 về Nha Trang 
Trong khi đó, từ thành phố Quy Nhơn, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 42 Bộ Binh, Đại Tá Nguyễn Hữu Thông tiếp tục trấn an Hải Quân Trung Tá Lê Thành Uyển, Chỉ huy trưởng Hải Đội 3 tuần dương trên HQ08. Ông cho biết rằng trong thành phố Quy Nhơn không có một tên Việt Cộng nào cả. Trung Tá Uyển hỏi tại sao lại có nhiều tiếng súng thì Đại Tá Thông trả lời, đó là của Nhân Dân Tự Vệ bắn vu vơ, để ông ấy cho dẹp ngay. Vì đã biết tình hình thật sự trên bờ, Trung Tá Uyển yêu cầu Đại Tá Thông nên ra tàu sớm. Đại Tá Thông bảo Trung Tá Uyển cho tàu đón quân lính của Ông ra trước đi….
Sau cùng, Trung Tá Uyển lại liên lạc với Đại Tá Nguyễn Hữu Thông lần chót, hỏi tại sao chưa thấy ông lên tàu? Đại Tá Thông đáp: “Tôi không thể ra với anh được. Lính của tôi có lẽ ra cũng gần hết rồi. Cảm ơn anh. Tôi đi về đây! Nhưng không ai biết vị Anh hùng ấy đi về đâu ?!”.                            
Theo lời của Đại tá Nguyễn Thiều, Đại tá Thông cùng với vài binh sĩ đã đi ngược lại về phía những Ngọn Ðồi Vô Danh tức cao điểm 82174 phía Tây Tây Nam Quận Hoài Nhơn tỉnh Bình Ðịnh, có lẽ ông đã cùng chết với những binh sĩ sau cùng của ông vừa mới tử trận trên những ngọn đồi lịch sử này.  Dư luận Tỉnh Bình Định cho là Đại tá Nguyễn Hữu Thông đã theo gương Danh tướng Võ Tánh cùng mất với Quy Nhơn. Khi vị Đại tá này nằm xuống ngày 2 tháng 4, ông chỉ mới 38 tuổi đời, nhưng Ông đã thực sự đi vào huyền thoại của của dân chúng Miền Trung kể từ đó.
Trong phần bình luận “Cuộc triệt thoái Cao nguyên 1975”, phóng viên Quân đội Phạm Huấn, một lần nữa đã ngưỡng mộ tính chất hào hùng của Đại tá Nguyễn Hữu Thông như sau:
…. “Sự hy sinh của một người anh hùng, một đại anh hùng sáng ngày 2/4/1975, đã bị rơi vào quên lãng, và cũng là một thiệt thòi lớn lao cho Đất Nước! Đó là trường hợp Đại tá Nguyễn Hữu Thông, Trung Đoàn trưởng Trung Đoàn 42, Sư Đoàn 22 Bộ Binh…”
Ông viết tiếp: “Tôi có thể quả quyết rằng, trong 20 năm sau cùng của chiến tranh Việt Nam, không có một Tướng lãnh nào khi chỉ huy một cấp trung đoàn hay lữ đoàn, đã tạo dựng được những chiến công to lớn như người Anh hùng Nguyễn Hữu Thông. Những tướng Cộng sản Bắc Việt chỉ huy  Sư Đoàn 320 Điện Biên Phủ, Sư Đoàn 3 Sao Vàng trong những năm 73, 74, 75, cho đến bây giờ và mãi mãi sẽ phải cúi mặt khi nhớ đến thảm bại nhục nhã, những thảm bại bởi  Trung Đoàn 42 Bộ Binh, do Đại tá Nguyễn Hữu Thông chỉ huy, tại Pleime, Đèo Nhông, và “Những Ngọn Đồi Vô Danh” (Cao điểm chiến lược 82 và 174) tại Tây, Tây Nam Hoài Nhơn, Bình Định.”
“Nhân vật và Hình ảnh” Nguyễn Hữu Thông, sau khi đưa “những chiến hữu anh em còn lại” về vùng an toàn; đã lừng lững đi trở lại con đường cũ, về phía “Những Ngọn đồi vô danh”…để chết thật đẹp, thật phi thường, thật hào hùng!
Hai năm trước đây, tôi có dịp hầu chuyện với một vị tiền bối cùng thời với Hồ chí Minh. Tôi có thưa với Cụ về tài ba, anh hùng, của những Sĩ Quan các khóa 16, 17, 18…Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Họ được huấn luyện 4 năm cả về Quân Sự lẫn Văn Hóa, như tại các trường Võ Bị của Mỹ, Anh, Pháp.
Trong những trận chiến sau cùng, các Sĩ Quan này đã giữ những chức vụ  Trung Đoàn trưởng, Lữ đoàn trưởng, nhiều vị mất tích, tự sát hoặc ở lại chiến đấu với chiến hữu của mình cho đến phút cuối cùng. Như Đại tá Khóa 16 Đặng Phương Thành, Trung Đoàn trưởng  Trung Đoàn 12, Sư Đoàn 7 BB; như Lữ đoàn trưởng K.16 Nguyễn Xuân Phúc, Đỗ Hữu Tùng, Thủy Quân Lục Chiến ngoài vùng Hỏa tuyến; như K 16 Bùi Quyền, Nhẩy dù; như K 17 Võ Vàng; như K 18 Lê Cầu, Trung Đoàn trưởng  Trung Đoàn 47 tại mặt trận Bình Định …”
Sau cùng, Phóng viên chiến trường Phạm Huấn kết luận: “Nếu Hiệp Định Paris 27/1/1973 được ký kết trễ hơn khoảng 2 năm nữa, miền Nam không bao giờ mất vào tay cộng sản. Bởi vì, đất nước và quân đội sẽ được lãnh đạo và chỉ huy bởi những Tướng Lãnh anh hùng, có khả năng cả về quân sự lẫn văn hóa, với đầy đủ Trí, Đức, Dũng. Ngày 2/4/1975, nếu người anh hùng Nguyễn Hữu Thông là Thiếu tướng Nguyễn Hữu Thông, thì chắc chắn cái chết của Ông sẽ tạo thành một trận cuồng phong. “Trận cuồng phong” từ vùng Đất Linh thiêng của Quang Trung Đại Đế, sẽ làm quân thù khiếp sợ. Và gây được sự tin tưởng, phấn khởi cho toàn Quân, toàn Dân trong những ngày cuối cùng !”.        
VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC MỘT NGƯỜI BẠN, MỘT ANH HÙNG BỊ LÃNG QUÊN,
NGUYỆN CẦU CHO LINH HỒN TẤT CẢ CÁC HUYNH ĐỆ QLVNCH ĐÃ NẰM XUỐNG ĐƯỢC MIÊN VIỄN BÌNH AN, THÊNH THANG TRÊN CÕI VĨNH HẰNG.  
HQ Nguyễn Đức Thu (Hoa Thịnh Đốn)