Thursday, August 7, 2014


TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM : chuyến đi định mạng của tàu ngầm Nhật I-52 .

Vào mùa xuân , khi anh đào nở rộ gần Hoàng Cung , Satonobu Gamo , 34 t rời nhà tại Tokyo cho 1 sứ mạng rất bí mật . . . Ông đc lịnh sang Đức để thăm nhà máy Daimbler-Benz và học cách chế tạo máy cho tàu phóng ngư lôi .
Nhật rất cần 1 cách kinh khủng (desperately) kỷ thuật về vũ khí mới cũa Đức và Đức cần nguyên liệu thô từ đế quốc của Nhật . Nhưng hai đồng minh phe Trục (Axis) này lại cách nhau 1/2 vòng trái đất , và mọi đường đi qua Siberia đều bị đóng . Lúc đầu , các thương thuyền (merchant vessel) Đức lo chương trình trao đỗi này , nhưng vận chuyển trên biển đã trở nên những chuyến đi tự sát . . .
Cách thay thế duy nhứt là dưới biển , và ko bao lâu Nhật và Đức đã sửa đổi tàu ngầm để tiến hành CT này . Chiếc I-52 , hoàn thành tại công xưởng HQ Kure Nhật năm 1943 . Nó có thể mang 300 TẤN hàng và chạy 21.000 dặm (33.796 km) KHÔNG CẦN TIẾP TẾ nhiên liệu .Nhưng tàu ngầm chở hàng ko đi xa bằng tàu mặt nước (fare little better than surface vessel) : chỉ có 1 chiếc , I-8 hoàn tất đoạn đường từ Nhật đi Âu và trở lại .
Giửa tháng 3 1944 , dưới quyền HQ trung tá (Comdr.) Kameo Uno , tàu I-52 rời cảng Kure . Nó ngừng ở Singapore để lấy nguyên liệu thô từ các thuộc địa ĐNA của Nhật - 2,88 tấn thuốc phiện , 3 tấn quinine (kí-ninh) để dùng cho y khoa và 54 tấn cao su thô . Tàu được điều khiển bởi 11 SQ và 84 HSQ , BS (enlisted man) và chở 14 hành khách , 6 của HQ và 8 dân thường - 1 thông dịch và 7 kỷ sư , gồm Satonobu Gamo . Việc ra đi từ Sing này đã bị chú ý kịp thời (duly noted) bởi tình báo Mỹ , do đã phá vở "mật mã tím" (purple code) của ngoại giao Nhật .
Một tháng buồn thảm (dreary) trải qua khi tàu vượt Ấn độ dương . Để tránh phát hiện , tàu chỉ nổi lên (surface) vào đêm . Vào ban ngày , khách và các nhân viên ko nhiệm vụ phải nằm sắp (lie flat) để giử gìn dưởng khí .
. . .
Vào tháng 5 , tàu đã đi vòng Phi châu và vào Đại tây dương . Để cẩn thận , tàu sẽ gặp 1 tàu ngầm (U-boat) Đức giửa biển , để nhận 1 hoa tiêu/ng dẫn tàu (pilot) Đức và một máy phát hiện bằng radar (radar detector) , với 2 ng xử dụng nó , để giúp tàu có thể lén (sneak) vào cảng Lorient của Pháp - bị Đức chiếm đóng .
Nhưng vào lúc này , ĐTD là một cái hồ của Đồng minh . Chung quanh bờ (rim) của ĐTD , có các trạm nghe vô tuyến (radio) nhận và chuyển các vị trí của tàu phe Trục . Đồng minh đã mở (crack) được mật mã (cipher) của Đức , khiến họ đọc được các công điện của HQ Đức .
Sự hiểu biết này , có tên Ultra , đã khiến các sói biển (wolf pack) (tàu ngầm Đức) phải trốn tránh , và CT này bao gồm những công điện ngoại giao và HQ của Nhật để hướng dẩn lực lượng chống tàu ngầm của ĐM .
Các chỉ huy Mỹ tại Washington , D.C., đã xác định (pinpoint) chiếc I-52 trên biểu đồ treo tường ghi nhận hầu hết các tàu ngầm địch tại ĐTD . Họ đã biết chính xác ai và hàng gì mà con tàu định mạng (doom) đã chở .
I-52 vượt Xích đạo ngày 4/6 , hai ngày trước khi Pháp đổ quân lên Normandy và cuộc gặp sẽ dự trù vào hoàng hôn (dusk) ngày 23/6 . Tàu U-530 đậu chờ .
Với 2 tàu ngầm nổi lên và lộ ra 1 cách nguy hiểm , thuyền trưởng Đức , Kurt Lange đã cho 1 thuyền cao su (rubber dinghy) mang 3 ng - thiếu úy hoa tiêu Schafer , và 2 chuyên viên vô tuyến , Chuẩn úy Schulze và Behrendt - và 1 hộp gổ chứa máy phát hiện bằng radar . . .
Hai giờ 25 phút sau khi 2 chiếc gặp nhau , tàu Đức lặn tiếp và đi về hướng tây . . . SAI LẦM CHẾT NGƯỜI đã đến khi tàu Nhật tiếp tục nổi , như luyến tiếc , ko muốn bỏ đi không khí tốt lành của đêm khuya .
Trong khi đó , cách đó 55 dặm , phi công Jesse Taylor , trong chiếc máy bay phóng ngư lôi Avenger đã được phóng đi từ phi đạo ngắn của chiếc USS Bogue . Đây là mẫu hạm nhỏ (bantam-size) (CVE) , cải tiến từ 1 thân (hull) tàu hàng , đang dùng thông tin từ một BCH Mỹ đặc biệt về chống tàu ngầm , đc gọi là Hạm đội 10 .
Taylor , 28 t , quê ở Watson Missouri , là chỉ huy của đội bay 69 (VC-69) , 1 trong 14 phi công của chiếc Bogue có thể bay đêm liên tục . Họ là những ng trẻ xuất sắc , sàng lọc (sift) từ nhiều ng , với phản xạ tốt khi hạ cánh trên phị đạo tối mờ mờ và nhấp nhô (heave) lớn cở mảnh đất trống (vacant lot) .
"Trẻ con . Chúng tôi chỉ là trẻ con," Snuffy Yarington , xạ thủ máy bay 22 t nói . "Nhưng bạn đã từng lớn lên trong vội vã chưa ."
Đội bay chán ngấy (weary) . "Chúng tôi ra đi đã 7 tuần và sắp cạn lương thực và dầu," Thiếu úy William Gordon , 1 phi công khác nhớ lại . "Đây là phi vụ cuối cùng trước khi trở về nhà ở Norfork."
Khi Taylor bay vút lên hướng về khu vực tuần tiểu , Ed Whitlock , ng lo radar của máy bay , nhận 1 đốm sáng (blip) đầy hứa hẹn . Bay gần hơn , họ thả 2 hỏa châu và một phao âm thanh (sonobuoy) màu tím xuống nước . Sonobuoy là máy phát tín hiệu nổi mới sản xuất - có thể chuyển các âm thanh dưới nước tới 1 máy ghi âm trong phòng lái .
Chiếc sonobuoy bắt đầu phát ra tiếng thì thầm của chân vịt tàu , và chẳng bao lâu phi hành đoàn của máy bay đã thấy 1 cảnh tượng làm giật mình (startle) - 1 tàu ngầm địch lớn , nổi hoàn toàn , chạy tốc độ 10 tới 12 hải lý (knot) , tạo nên 1 vạch (wake) lớn .
Vì chiếc I-52 vội vàng (scramble) lặn , Taylor bay vượt (roar across) mủi tàu , bay theo (wheel) theo hình số 8 , và ném 2 bom nổ dưới-ở-độ-sâu (depth) rất mạnh vào sườn ngang . Bay vòng trở lại , anh nhào xuống (swoop) ném vào 1 vùng nước xoáy màu trắng 1 thủy lôi âm học Mark 24 , biệt danh Fido . 3 phút sau , âm thanh của hủy diệt đã dội lại vào sonobuoy . Xạ thủ Andy Emmons , nói âm thanh giống như "giấy bị nắm lại thành 1 cục trong nắm tay ."
Chỉ huy chiếc Bogue , A.B. Vosseler , 45 phút sau đợt tấn công của Taylor , đã phái thêm 1 phi công thứ 2 . Flash Gordon thả thủy lôi sau khi nhận đc âm thanh từ cánh quạt tàu ở vị trí này , và 17 phút sau ông nghe 1 tiếng nổ kéo dài (sustain) .
I -52 - quay cuồng từ các vụ nổ , nước biển xé toạt (rip) thông qua 1 lổ hổng/kẻ hỡ trong vỏ chịu áp lực , hàng hóa đổ sập , còi báo động dữ dội (keen) , đèn mờ dần trở thành tối đen - đã phải nhanh chóng xoay xoắn ốc mang theo sinh mạng của 112 ng .
Trong ngày kế tiếp , các khu trục hạm hộ tống cho mẫu hạm Bogue tìm thấy những mảnh vụn và 1 vệt dầu lớn trên nước . Một chiếc , USS Janssen , vớt được hơn 1 tấn cao su thô , giày sandal và gạo . Một chiếc khác thu được chỉ tơ (silk thread) và 1 mảnh thịt (còn tiếp) .
Ngày Aug 7 21014 .


Wednesday, August 6, 2014

QUÂN Y MỸ-VIỆT TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM, BÀI 6 .


 Hai y tá của Không Quân và hội Hồng Thập Tự Mỹ săn sóc cho lính Mỹ bị thương trước khi di chuyển về Mỹ . A U.S. Air Force flight nurse . and a Red Cross nurse attend to the needs of American wounded prior to their aeromedical evacuation from Tan Son Nhut Air Base in the Republic of Vietnam. Chiếc máy bay C-141 này sẽ chuyển thẳng họ từ phi trường TSN đến các căn cứ ở Mỹ nằm kế các BV quân y .The wounded personnel are already aboard the Air Force C-141 which will take them on a direct flight from Vietnam to bases in the United States near specialized military medical facilities. 

1st Lieutenant Cheri Hawes, US Army Nurse Corps, at desk for Emergency Room, 91st Evacuation Hospital, Chu Lai, Vietnam./Thiếu úy Cheri Hawes , Quân Y Mỹ , làm việc tại Phòng Cấp Cứu , BV Dã Chiến 91 , Chu Lai , Việt Nam . 
Lieutenant Magnolia Lilly, Army Nurse Corps, in Emergency Room, 91st Evacuation Hospital, Chu Lai, South Vietnam. She was promoted to captain late in 1970 according to letter from Lieutenant Cheri Hawes.
Navy Nurses, Headquarters support activity in Saigon, at work, hurt patient being cared for my nurses./ Y tá Hải Quân Mỹ chữa trị cho thương binh tại BV của Hải Quân Mỹ tại Sài Gòn .
APS-71-796 Vietnam. The Army Nurse in Vietnam. Cpt. Theora L. Peyton (Arlington, VA), changes an intravenous saline bottle on a patient at the 3rd Field Hospital. 12 July 1971. Photo by SP5 Logan McMinn, USA Sp Photo Det, Pac, fn/ Đại Úy Theora L. Peyton , thay chai nước biển cho 1 bịnh nhân tại BV 3 Dã Chiến ngày 12/7/1971 . 
Nurse Corps formed up in ranks for an inspection
                        Some of the U.S.S Repose's nurses on the Navy Nurse Corps birthday.
Navy Nurse Corps Vietnam Veterans parade in Fredericksburg, Va. Mary Niel, Frances Shea Buckley, Minnie Wiggins Yates. (middle three).

NURSE TAKES CARE WOUNDED / Y tá săn sóc người bị thương


nguồn : http://www.vietnam.ttu.edu/exhibits/nurses/
CÓ TU MỚI NHƯ VẬY  hay chuyện về "hai dược sỉ Mỹ gốc Việt - từng ra đời và lớn lên tại vùng rừng núi khỉ ho cò gáy Khe Sanh" - mà ông bạn toubib của tôi đã từng đi ngang .

- Giỏi là 1 chuyện nhưng sự GIÚP ĐỞ của người khác , còn được gọi là QUỚI NHƠN , rất quan trọng .
- Trên thế gian này , PHẦN LỚN mọi quan hệ giửa người đều dựa trên LỢI ÍCH , LỢI ÍCH VÀ LỢI ÍCH .

A / Hôm nay , qua 1 ng bạn , tôi nghe tin 2 chị em học trò cũ (song sinh) , mới có bằng M.A. về Dược (học 6 năm) tại Florida . Hiện tụi nó chỉ đi làm bán thời gian trong 1 hảng chế thuốc để học thêm lấy bằng Tiến Sỉ (Ph.D.) . Chúng từng học Toán với tôi khi mới sang Mỹ .  Sau đó sang ở với bác trai tại Florida , tiếp tục trung học và đại học tại đây , học rất giỏi .
Ở VN , chúng ở vùng kinh tế mới gần Khe Sanh (quốc lộ 9) , sống gần ng Thượng . Do gia đình nghèo , hàng ngày phải lên rừng kiếm củi , kiếm thức ăn cho heo , v.v... (Do phơi nắng nhiều nên 2 đứa ko được trắng trẻo lắm) . Ba má chúng , trước đó sống ở Quảng Trị , nhưng  bị CS di dân lên Khe Sanh . Sau nhờ bà nội , qua Mỹ năm 1975 bảo lãnh ba má nó .
Nhờ sang Mỹ ở độ tuổi 11-12 , chúng đã ĐỔI ĐỜI . Nay làm LƯƠNG CAO , ĐI XE XỊN , đều 23 t . Thử hỏi , nếu chúng ko sang Mỹ , có lẽ lớn lên lấy 1 anh nông dân , nhiều khi thất học , sinh con đẻ cái ở cái chốn khỉ ho cò gáy này  .
B / Cuộc chiến VN khiến nhiều người đau khổ nhưng cũng có kẻ DỖI ĐỜI .
Trước 75 , chỉ có người học thật giỏi mới được học bổng hay chỉ có 1 ít con ông cháu cha mới du học . Vì muốn xuất ngoại phải qua 1 hội đồng xét duyệt gồm các nghành như GD , NG , Cảnh sát và Quân đội , v.v... Trong hai em trai tôi , có 1 ng học giỏi nhưng vẫn ko đũ điều kiện xuất ngoại được dù gđ tôi rất giàu có .
Nếu xuất ngoại dễ dàng thì các SV các nghành sẽ đi du học hết . Lấy ai mà làm việc cho các BV hay QYV hay nhà máy đèn , nước , v.v...
C / NHẬN XÉT :
1/ Khi nghe ng bạn nói , tôi trả lời , "2 đứa này CÓ TU , nên mới như vậy . Học trò tôi , có đứa học ĐH ko nỗi , quay ra BƯNG PHỞ , dù ở TH nó rất giỏi" .
Còn hai đứa này , học ở đâu cũng được điểm cao . Lại ở nghành Y-Dược ko lo thất nghiệp , như các nghành khác . CÓ TU MỚI NHƯ VẬY !
 2/ Ngoài học Toán với tôi , về nhà bà nội dạy tụi nó học đàn . . . sang Florida ở nhà bác (qua Mỹ năm 1975) . Ông này giúp tụi nó rất nhiều  .
 Ba nó , từ chỗ "tiếng Anh NỮA CHỮ cũng ko biết" , nhờ ng quen giới thiệu , nay làm 1 hảng với lương giờ gần 40 đô .
3/ Do vậy , giỏi là 1 chuyện nhưng sự GIÚP ĐỞ của người khác , còn được gọi là QUỚI NHƠN , rất quan trọng . Ba cha con nó , nếu ko có bà nội và bà con giờ này chưa chắc được như vậy .
Bởi vậy có câu "hay ko bằng HÊN " hay "ng tính ko bằng trời tính" .
D/
1/ TRONG đạo Phật có nói :
Nếu kiếp trước , ta có giúp ai đó thì nay họ trả ơn . Họ giúp mình về kiến thức , lời khuyên , việc làm , hay tiền bạc . . .
Còn ta làm khổ ai đó thì giờ đây họ làm khổ ta dài dài .
Cuộc đời tôi , ngoại trừ cha mẹ , 1 ít anh em và 1 ít bạn bè thương yêu , giúp đở tôi ; trong khi đó  rất nhiều bà con , bạn bè , và bịnh tật đã làm khổ tôi . Cũng may là do học hỏi từ nhiều kiếp trước nên tôi mới những năng khiếu như bây giờ . Tuy ko lấy tiền của ai , nhưng tôi được sự kính trọng hay quà cáp biếu tặng .
2/ Tôi nói với bạn bè , nếu ko có các năng khiếu này , có lẽ ko ai đến thăm tôi vì tôi đã già , nhiều bịnh tật , lại nghèo , v.v..
Vì trên thế gian này , PHẦN LỚN mọi quan hệ giửa người đều dựa trên LỢI ÍCH , LỢI ÍCH VÀ LỢI ÍCH .
Từ xưa đã có câu "nghèo sống ở chợ đông không ai đến thăm ; còn giàu ở trên núi rừng vẫn có kẻ tìm " hay câu "vai mang túi bạc kè kè , nói quấy nói quá chúng nghe ầm ầm" .

Monday, August 4, 2014

BLACKBERRY Z10 : CÁCH DÙNG .

Blackberry chào mừng bạn .
Phím Power để lock (khóa) màn hình ; muốn tắt/mở : bấm và giử phím .
Phím volume (âm thanh) : muốn to hơn : bấm trên ; muốn câm : bấm và giử ở giửa ; muốn nhỏ : bấm dưới .

Bạn có thể thấy các app (ứng dụng)-đang-chạy sắp xếp như active frame (khung hoạt động) trên home screen (khung nhà) . Nhấp 1 active frame để biến app này thành full screen (bằng màn hình) . Quét về phải để hé nhìn Blackberry Hub (trung tâm Blackberry hay BBH) để xem các message (tin nhắn) . Quét về trái để vào mọi app .

I . Để tháo cửa của pin , đẩy cửa về phía trên . Cửa mềm và có thể bẻ cong khi bạn tháo nó . Trước nhứt , nhét thẻ SIM . Kế nhét pin , xem hình . Để tháo pin , kéo phần (có màu của pin) lên .

II . Sau khi gắn pin , Setup app (ứng dụng về Sắp xếp/Cài đặt) hiện ra . App này cần nối kết với 1 network (mạng lưới)  , do vậy phone của bạn phải nối kết với một network di động hay trong tầm của 1 Wi-Fi network (mạng Wi-Fi) .
Setup app yêu cầu bạn nhập 1 ID (tên đăng ký) có sẳn trên Blackberry hay tạo mới .
Sau setup đầu tiên , nhấp Setup trên screen . Bạn có thể chuyển info (thông tin) từ phone củ , sắp xếp email , tin nhắn , các account (tài khoản) mạng xã hội , và học thêm về OS (hệ điều hành) Blackberry 10 .

III . Chuyển info (thông tin)  tới phone này .
Bạn có thể chuyển các contact (số phone)  , hình , và info khác tới phone này từ phone cũ . Bạn có thể save (lưu) thông tin của bạn tới một thẻ media (phương tiện truyền thông)  , hay dùng Blackberry Link (đường dẫn) trên computer của bạn . Bạn có thể download Blackberry Link từ www.blackberry.com/startlink
a/ Trên screen , nhấp Setup > Device Switch .
b/ Hoàn tất các chỉ dẩn .
Để có chỉ dẫn từng bước , vào : www.blackberry.com/startswitch .

IV . Trở về home screen và đóng 1 app .
Để ra khỏi 1 app , quét từ đáy của screen cho tới giửa và bỏ tay ra . App sẽ thu nhỏ và hiện ra như 1 icon (biểu tượng) lớn trên home screen như 1 active frame . Nhấp vào X để đóng app này . Để trở về home screen từ Blackberry Hub sau khi đọc tin nhắn , quét từ dưới của screen . BBH vẫn mở . Chỉ cần quét về phải để đọc tin nhắn .

V . Để hiện keyboard , nhấp vào text field (chổ để viết)  . Để che dấu nó , dùng 2 ngón , quét xuống keyboard , hay bấm và giử phím Space . Muốn dùng chử tốt hơn , đặt ngón dưới chữ đó và và kéo từ dưới lên .
VI . Đánh thức phone .
Kéo từ dưới và bỏ tay khi tới giửa screen . Để an toàn hơn , nên tạo một password (mật mã) bằng cách từ home screen , kéo từ trên xuống dưới và nhấp Settings > Security and Privacy > Device Password . Để phone ngủ , bấm screen lock ở trên của phone .

VII . Xem các thông báo hay đọc tin nhắn .
Trên home screen hay 1 app , dùng tay kéo từ dưới và ngừng . Thông báo hiện ra bên trái . Để hé mắt vào BBH để đọc tin nhắn , kéo tay về phải . Để ở lại app , kéo tay xuống dưới của screen .

VIII . Tìm thêm view và action trong 1 app .
Trong 1 app , nhấp icon (biểu tượng) ở góc dưới-trái của screen để xem view nào có sẳn trong 1 app , (ví dụ : account , folder (thư mục) , loại tin nhắn , v.v...) . Nhấp vào 3 dấu chấm , hay nhấp và giử 1 item (mục)  để xem những action khác có sẳn .
IX . Thay đổi settings (điều chỉnh)  .
Trên home screen , hay 1 vài apps , kéo từ dưới của screen . Nhấp vào Settings .

X . Tìm thông tin với Search .
Trên home screen , nhấp Search/Q
2/ Nhấp 3 vạch ngang để tìm phần đặc trưng
3/ Gỏ chữ muốn tìm .


Dịch từ : tập sách nhỏ Blackberry Z10 Smartphone Start Here , phát hành năm 2012 bởi cty Mỹ Research In Motion . 

Sunday, August 3, 2014

HẢI QUÂN MỶ XUẤT TRẬN . NGUỒN : LIFE AUG 8 1965 .















NGƯỜI MỸ QUÁ CHU ĐÁO .  Trang bị này sẽ trang bị cho lính Mỹ trong tương lai , dựa vào bài báo in từ 2004 .





1/ Cưa  * , cắt kẻm gai .
2/ Chấm tọa độ * của địch cho máy bay .
3/ Dựa vào GPS * để xác định khoảng cách và góc của mục tiêu .
4/ Thang * , ráp trong vài phút .
5/ Giày trận , làm bằng da thuộc  (tan) , tốt cho ngụy trang sa mạc , với đế cứng , để chống mòn - bài học từ A phú hản .
6-8/ Dụng cụ * , gồm búa trận , cắt bù-lon , và dụng cụ để nậy và nện .
9/ Búa Tomahawk *, cán rổng chứa diêm quẹt và dao .
10/ Vớ nilon , phủ bởi bạc nguyên chất để chống nấm .
11-12/ Quần áo : áo lót chống ẩm , quần lót nhẹ làm bằng lụa , nón .
13/ Nón sắt , thiết kế sao cho khi BS nằm sấp , cạnh nón ko đâm vào mắt . Kiếng bảo vệ (goggle) gắn bên ngoài kính đeo mắt , để dùng laser và để chống đạn .
14/ Móc * chỉ nặng 2 lbs , chịu được 1.800 lbs .
11/ Bình chứa nước ko cần dùng tay để uống  .
12/ Kiếng bảo vệ  mắt dành cho ng ko đeo kiếng .
17/ Ống nhòm * , bỏ trong túi trước ngực để khỏi trầy khi bò .
18/ Miếng lót đầu gối khi bò .
19/ Radio *, ko phản chiếu ánh sáng mặt trời sa mạc
20/ Găng tay chống cháy cho phi công
21/ Áo vét mềm để mang đạn , cứu thương , lựu đạn , hay radio , tùy theo nhiệm vụ .
22/ Cây dùng để phá cửa , có tay cầm , hút 97/100 chấn động .
23-24/ Dụng cụ quang học * , để nhắm chính xác
25/ Băng đạn
26/ Còng tay bằng nilon *
27/ Dụng cụ đa-năng , gồm vặn vít , kềm , dao , cắt dây , mở chai , thước .
28/ Thắt lưng , điều chỉnh ngắn dài ./.
* Cấp phát cho toán , ko cho cá nhân .
Hình ảnh về công tác Quân Y Dân Sự Vụ (Med-Cap) Việt-Mỹ . 

Nguồn : NAT GEO .
1/ Ảnh 1 trên . Một bs VNCH được trực thăng Mỹ tản thương về 1 bv tại Đà nẳng . Ngày hôm trước , anh trúng đạn ở bụng khi tuần tiểu . Được gọi qua máy truyền tin/radio , trực thăng Mỹ đã cứu thương . Gluscose , chích bởi y tá , giúp ng này sớm bình phục .
Ảnh 1 dưới . Nhăn mặt/grimace vì đau đớn , 1 bé gái được rửa chân - bị lở loét - bởi 1 y tá của HQ Mỹ . BS James Shumaker , mặt áo thun trắng , và ng phụ tá này đang khám bịnh cho đám đông trong 1 ngày khám
2/ Ôm chân chồng , ng phụ nữ đi theo tới BV . Anh ta bị thương nứt sọ tại Long Xuyên khi 1 lựu đạn nổ giết 4 và bị thương 10 ng , một là TS Mỹ . Đứa con kế mẹ nó .
3/ 1 lính BB Mỹ tại Cái Nhum chỉ cho ng mẹ với đứa con bị bịnh - và sợ - cách nhỏ thuốc .
4/ Hy vọng nằm trong 1 cái hộp : Khát khao kiến thức , 1 bé gái trân trọng nhận một gói quà CARE chứa tập vở , bút chì , và thước từ tay của 1 SQ LLĐB Mỹ tại tỉnh Kiến Phong .
5/ Cố vấn của một tr.đoàn VNCH , bảo vệ 8 ACL tại châu thổ sông Cửu long , Thiếu tá Henry McCurley , uống trà trong ngày nghỉ tại ấp Khai quang , Cà mau . CS hứa tặng 25.000 đô cho ai bắt sống hay giết ông