Tuesday, June 3, 2014

ạm xong về vấn đề hình thức, bây giờ chuyển qua nội dung bài phát biểu của tướng Thanh. Trước hết đánh giá về "văn" với tôi bài này có chất lượng trung bình kém. Chưa kể quá nhiều từ ngữ và style kiểu "tuyên giáo" tôi đã phàn nàn trong entry trước, ý tưởng toàn bài không mạch lạc, nhiều ý bị lặp đi lặp lại, các điểm nhấn không nổi bật (có thể tác giả cố tình). Đúng như Carl Thayer nhận xét lãnh đạo VN thường chỉ nói chung chung chứ không đưa ra điều gì cụ thể.

Sở dĩ tôi không xếp hẳn bài này vào diện kém vì 2 bài còn lại trong session này (chuyên đề về Managing Strategic Tensions) cũng nhạt nhẽo không kém, có chăng bộ trưởng QP Úc và Indonesia viết trôi chảy hơn một tẹo. Một lý do nữa (hơi AQ một tý) là không rõ có phải vì bài phát biểu "dĩ hoà vi quí" như vậy nên tướng Thanh không bị quay trong phần Q&A hay không, chứ không chẳng biết ông sẽ xoay sở thế nào :-)

Nội dung chính của bài này có thể tóm tắt như sau. Năm ngoái thủ tướng tôi nói "lòng tin chiến lược" nhưng chắc chẳng ai nghe nên thế giới và khu vực ngày càng bất ổn. Năm nay tôi sẽ nói về "quản lý căng thẳng chiến lược", mà nói thực tôi cũng chẳng hiểu nó là cái gì (giống hai đồng nghiệp Úc và Indonesia vừa phát biểu). Thôi thì tôi cứ nhắc lại mấy câu "thần chú" ai ai cũng biết: giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hoà bình, các bên phải kiềm chế, không sử dụng vũ lực, đề cao vai trò các diễn đàn/tổ chức quốc tế... Ví dụ như VN chúng tôi đây dù TQ ngang ngược đem giàn khoan vào EEZ của tôi không đời nào tôi dùng vòi rồng hay húc tàu (như chúng nó đã/đang làm - đoạn này ngầm hiểu không phải tôi nói đâu nhé!). Nhân tiện đây tôi nhắn bạn TQ kéo cái giàn khoan ra đi rồi chúng ta đàm phán, tôi hứa sẽ chỉ song phương thôi vì đây là vấn đề giữa 2 chúng ta (bạn lưu ý là tôi không có ý định kiện cáo gì đâu nhé). Cuối cùng, xin gửi lời chào thân ái và quyết thắng tới toàn thể hội nghị!

Điểm "văn" trung bình kém, còn điểm "impact" thì thế nào? Để đánh giá mặt này cần phải trả lời câu hỏi bài diễn văn này nhằm đánh tiếng điều gì và cho ai. Cá nhân tôi cho rằng đích đến của ông Thanh là TQ (dĩ nhiên rồi), Mỹ+Nhật+... (dĩ nhiên), nội bộ VN (nhân dân và các phe cánh khác phe (của) ông Thanh), có thể với Nga nữa. Tại sao lại với Nga? Đọc bài của bộ trưởng QP Nga sẽ thấy Nga lo ngại Mỹ xoay trục sang Asia-Pacific và tìm cách thành lập liên minh quân sự. Toàn bài của tướng Thanh không hề nhắc đến liên mình, liên kết gì cả, thậm chí đến tập trận chung (là điều rất nhiều speaker khác nhắc đến) cũng không dám nói (mạnh miệng nhất chỉ là vụ "giao hữu bóng chuyền" với lính Phi luật tân ở Trường Sa). Thông điệp cho Anatoly Antonov là cứ giao nốt mấy cái Kilo và Su-30 đi, tôi không phản thùng theo Mỹ đâu, tôi cũng ghét các thể loại "color" như bạn vậy.

Tất nhiên đây cũng là thông điệp cho TQ. Thông điệp này càng quan trọng sau bài mở màn đầy kịch tính của Shinzo Abe và nhất là bài cực diều hâu của Chuck Hagel. Nhiều người chỉ đánh giá bài của Hagel ở điểm xỉ vả thẳng thừng TQ mà không để ý ông này doạ TQ bằng cách công bố một loạt hợp đồng bán vũ khí mới cho các quốc gia bao quanh nước này. Hagel nói thẳng ý tưởng có thể lập liên minh quân sự (chống Tàu - cái này là tôi suy diễn nhé) còn Abe bảo liên minh đa phương mà khó thì làm liên minh tay ba Mỹ-Nhật và một nước thứ ba nào đó, mà VN rõ là một candidate rất hợp lý. Abe và sau đó một bạn Nhật khác tung hứng ý tưởng sẽ sửa hiến pháp để chủ động hơn trong các hoạt động quân sự trong và ngoài nước, trong các trường hợp "emergency". Cuối bài phát biểu Chuck Hagel nói kháy TQ bằng lời của George Marshall: tao với mày đọ xem ai có nhiều bạn hơn nào? Không, tất nhiên VN vẫn là bạn với TQ, thông điệp này rất rõ ràng.

Vậy thì thông điệp với Mỹ và đồng minh thế nào? Một con số không tròn trĩnh. Bạn không tin á? Đến một chữ "Mỹ" hay "Nhật" còn không dám đưa vào bài phát biểu chứ đừng nói gì đến liên minh hay hợp tác. Thậm chí một version nhẹ nhàng hơn là TPP cũng giấu tịt. VN theo như tướng Thanh (và phe của ông ấy) sẽ không chơi với Mỹ, đấy là thông điệp trong bài phát biểu này bất chấp trước đó Chuck Hagel đã ra sức làm thân nhắc đến kỷ niệm năm 67. Tất nhiên cả Hagel lẫn Abe đều muốn nghe một tuyên bố cứng rắn từ phía VN công khai tại hội nghị, đó là thành công chính trị mà họ có thể đem về nước để lấy tiền và lấy phiếu. Nhưng hi vọng rằng cả hai bạn ấy đều hiểu phẩm chất của người CS, họ không làm những gì họ nói (trích lời TT đấy nhé). Cũng có thể tướng Thanh đang chê 18 triệu ít quá, số đó mới chỉ là xoay nắm đấm cửa thôi chứ trục trặc gì. Bởi vậy nên bạn đừng quá thất vọng.

Cuối cùng là thông điệp gì tướng Thanh muốn gửi ngược về cho đồng bào của mình? Đọc bản tiếng Việt "nhũn như con chi chi" trái với những lời lẽ cứng rắn của thủ tướng Dũng mấy hôm trước bạn có đoán được không? Tôi nhớ một dạo dư luận và báo chí ồn ào về vụ quân đội có nên "phi chính trị" hay không, hay bây giờ chuyển sang "phi chính phủ"? Cá nhân tôi cảm thấy lo lắng rằng trong lúc dầu sôi lửa bỏng như thế này nội bộ VN không đoàn kết, một lòng tìm giải pháp đối phó với một đối thủ rất thâm độc. Hi vọng rằng những cảm nhận của tôi sai, các bác ấy đang đánh vu hồi tứ tung. VN đang đứng trước một mối đe doạ cực kỳ nguy hiểm nhưng đồng thời có một cơ hội lịch sử thoát khỏi quá khứ tối tăm. Tiếc là khả năng những dân đen như tôi và bạn chộp lấy cơ hội này quá nhỏ, vận mệnh đất nước một lần nữa lại nằm trong tay một vài người như tướng Thanh. Ở thời điểm này, tôi chấm cho (bài phát biểu của) ông điểm kém. Bạn sẽ chấm thế nào?
GIANG LÊ 

Monday, June 2, 2014

Ngoài những phân tích trên của GS Nguyễn Hưng Quốc, tôi nghĩ CSVN còn thâm độc hơn bằng cách: tạo điều kiện để người dân "vô tình" phạm tội từ chuyện nhỏ cho đến chuyện lớn như lấn chiếm vĩa hè để buôn bán, xử dụng hóa chất độc hại trong sản xuất, cho đến trốn thuế... Chúng không bao giờ áp dụng những biện pháp "triệt để", nếu có thì sẽ triệt chổ "cần triệt" và để những chổ "cần để" hoặc những lúc cần triệt cần để. Do đó mỗi người, đều mang trong lòng những nỗi sợ, vì không ít thì nhiều mọi người đều...phạm tội. Đây là sự thâm độc nhất của Độc tài toàn trị. Nếu như có sự thay đổi nào xẩy ra, cũng sẽ rất khó để điều chỉnh hành vi của mỗi người để xã hội vào nề nếp, quy củ, văn minh, dân chủ. Không chừng đôi khi nỗ lực điều chỉnh sẽ mang tiếng độc tài hơn cộng sản. Thật là thâm độc.
1 hr · Like · 2


Bức thư thể hiện quan điểm của nhà vật lý thiên tài Albert Einstein về sự tồn tại của Chúa sẽ được bán đấu giá trên eBay vào ngày 8/10 (hôm nay) với giá khởi điểm ba triệu USD.

Lá thư của nhà vật lý Einstein gửi nhà triết học Eric B. Gutkind được đề ngày 3/1/1954. Ảnh: Livescience.

Khoảng một năm trước khi qua đời, Einstein từng viết một lá thư tới Eric B. Gutkind, một nhà triết học Do Thái, vào ngày 3/1/1954. Bức thư là cách thể hiện phản ứng của Einstein đối với một cuốn sách mang tựa đề “Choose Life: The Biblical Call to Revolt”. Trong cuốn sách, Gutkind cho rằng tâm hồn của đa số nhân loại đang trở nên suy đồi bởi sự u mê. Tuy nhiên, Gutkin khẳng định người Do Thái là một ngoại lệ.

Livescience trích một đoạn mà Einstein viết trong bức thư: “Đối với tôi, đạo Do Thái và mọi tôn giáo khác đều là hiện thân của những sự mê tín ngây thơ nhất. Và tôi cũng nghĩ rằng người Do Thái, dân tộc mà tôi vinh dự là một thành viên, không có bất kỳ phẩm chất nào khác biệt so với những dân tộc khác. Kinh nghiệm của tôi cho thấy, người Do Thái không nổi trội hơn bất kỳ dân tộc nào. Tôi không thấy bất kỳ điểm nào khiến người Do Thái trở thành đối tượng để Chúa chọn làm dân tộc riêng của ngài”,

Phong bì chứa lá thư mà Einstein gửi Gutkin. Ảnh: Livescience

Lá thư của Einstein được bảo quản trong một căn phòng mà người ta có thể điều khiển nhiệt độ, ánh sáng và độ ẩm của một viện nghiên cứu, eBay cho biết. Do giới khoa học đã biết sự tồn tại của nó trong hơn 50 năm qua, tính chân thực của nó chưa bao giờ là vấn đề gây tranh cãi.

Giá ban đầu của lá thư là 3 triệu USD. Mọi người đều có thể tham gia phiên đấu giá trên eBay.

“Đây là một trong những thứ quan trọng nhất và mang tính lịch sử nhất mà chúng tôi từng đưa lên eBay. Chúng tôi cảm thấy phấn khích vì mang đến cho một người hoặc tổ chức nào đó cơ hội sở hữu một trong những tài liệu kích thích sự tò mò nhất trong thế kỷ 20. Bức thư cá nhân này của Einstein cho thấy mối liên hệ giữa khoa học, thần học, lý luận và văn hóa”, Eric Gazin, chủ tịch của công ty bán đấu giá Auction Cause tại Mỹ, phát biểu.

Nhà vật lý lỗi lạc không tin rằng Chúa tồn tại. 
Trong một lá thư đề ngày 24/3/1954, ông viết: “Tôi không bao giờ tin vào Chúa và tôi chưa bao giờ chối cãi điều đó mà thể hiện nó một cách rõ ràng. Tôn giáo của tôi là sự ngưỡng mộ cấu trúc của thế giới xung quanh”. 
Minh Long

(nguồn http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2012/10/ban-dau-gia-thu-ve-chua-cua-einstein/)

Saturday, May 31, 2014

DÂN NHẬP LẬU TQ VÀO MỸ .

"Người Hoa xem đó là đầu tư tốt khi trả tiền cho "đầu gấu"  để thân nhân của họ vào Mỹ hơn là bỏ tiền làm ăn ở TQ" .

"NẾU CẦN GIÚP ĐỞ XIN BẤM NÚT ĐỎ . XIN ĐỨNG TẠI CHỖ SẼ CÓ NGƯỜI ĐẾN GIÚP " . BẢNG NÀY TREO DỌC BIÊN GIỚI GIỬA MỸ VÀ CND VÀ MỄ . 

http://www.allgov.com/news/us-and-the-world/border-patrol-dealing-with-increased-illegal-immigrants-from-china-131115?news=851667
Theo biên phòng giửa Mỹ-Mễ thì trong năm 2013 , có khoảng 500 di dân lậu người TQ bị bắt , riêng năm 2010 , có 1,157 ng . Họ đã chi từ 5-60.000 đô cho bọn "đầu gấu" (snakehead/coyote) để được đưa lậu vào Mỹ .
"Chúng ta đang có 1/4 triệu ng Hoa nhập lậu , số này sẽ lên tới 1 hay 1,5 triệu trong từ 5 đến 10 năm và họ sẽ làm những việc mà ng Mỹ ko làm" .
"Người Hoa xem đó là đầu tư tốt khi trả cho "đầu gấu" để thân nhân của họ vào Mỹ hơn là bỏ tiền làm ăn ở TQ" .
Còn theo bài báo này , http://www.allgov.com/news/top-stories/real-anchor-babiesfrom-china-not-mexico?news=842435   , đã có dịch vụ đưa các bà bầu người Hoa giàu có sang Mỹ đẻ . Mới đây tại San Gabriel Nam Cali , CS đã phát hiện một khu xóm lo dịch vụ này .
Tại Mễ , Nam Hàn và TQ đã quảng cáo các tour như vậy , tốn nhiều chục ngàn đô . Sau khi bé ra đời , mẹ nó mang nó về nước với giấy khai sanh quí giá này .

Friday, May 30, 2014

Thất bại trong quá khứ và bài học cho hôm nay(*)

(*)Phát lại bài viết của tác giả Bách Việt do người Việt ở Philippines sưu tầm, với hy vọng có tác dụng tham tham khảo thiết thực trong bối cảnh tình hình Việt Nam hiện nay. 

Tầu Trung Quốc tấn công tầu VN. Ảnh: CS Biển VN
Tầu Trung Quốc tấn công tầu VN. Ảnh: CS Biển VN
Việc đưa dàn khoan vào khu vực biển của Việt Nam, Trung Quốc đã gần như lật ngửa ván bài của một chính sách đối ngoại dựa trên bạo lực hơn là đàm phán hòa bình.  Trong khi đó, Việt Nam còn quá yếu về mọi mặt để có thể tạo thế đối đầu có trọng lượng với Trung Quốc.  Việt Nam ở thế tiến thoái lưỡng nan vì không thể leo thang và chạy đua trong chính sách ngoại giao bạo lực với Trung Quốc, nhưng cũng không có đường lùi và không thể nhượng bộ.
Tóm lại, mọi động thái ứng xử của Việt Nam hiện nay vẫn rất lúng túng, và mục đích chính vẫn chỉ để trì hoãn, hơn là thực sự giải quyết vấn đề về lâu dài trên cơ sở hòa bình.  Vận mệnh của Việt Nam do vậy đang là “ngàn cân treo trên sợi tóc”.  Câu trả lời hoàn toàn phụ thuộc vào sự tỉnh táo của Việt Nam vào lúc này.
Để có được sự tỉnh táo, ngoài niềm tự hào về lịch sử giữ nước vẻ vang, Việt Nam cũng cần nhìn vào những thất bại trong lịch sử để từ đó rút ra bài học cho các quyết sách sáng suốt đối phó với Trung Quốc.
Bài viết này tập trung vào thất bại quân sự của triều Hồ năm 1407 và thất bại của Việt Nam năm 1975-1977 trong bình thường hóa quan hệ với Mỹ và Tây Âu, vì những giai đoạn này có rất nhiều tương đồng sâu sắc với thời điểm hiện nay.
QUÂN ĐỘI HỒ QUÝ LY VÀ NHỮNG BÀI HỌC VỚI QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Lịch sử chống ngoại xâm là đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt Nam và giữ vai trò định đoạt sự tồn vong của dân tộc trước nguy cơ xâm lược và đô hộ.  Chính cuộc đấu tranh sống còn này đã rèn luyện nên nhiều phẩm giá cao quý và phát huy đến cao độ trí thông minh, sáng tạo của dân tộc.  Vì vậy, lịch sử chống ngoại xâm là niềm tự hào vô tận của dân tộc.  Tuy nhiên, trong nhiều giai đoạn, lịch sử Việt Nam không được thể hiện đầy đủ và khách quan, quá nhấn mạnh các thắng lợi của các cuộc kháng chiến, dẫn đến việc đơn giản và thậm chí không phản ảnh hết tính ác liệt đến tàn khốc của các cuộc kháng chiến, và đặc biệt là những thất bại về quân sự của Việt Nam trước các thế lực xâm lược phương bắc.
Một thất bại quân sự cay đắng trong lịch sử vệ quốc của Việt Nam là của Hồ Quý Ly với cuộc xâm lăng của nhà Minh.  Một điểm đáng kinh ngạc là những thách thức của vương triều Hồ với quân xâm lược phương bắc vào năm 1400-1407 là hoàn toàn giống với những gì Việt Nam đang phải đổi mặt hiện nay, và rất nhiều khả năng thất bại của vương triều Hồ sẽ lặp lại với Việt Nam hiện nay nếu không có sự thay đổi trong nội bộ của Việt Nam.
Hồ Quý Ly đã biết rõ âm mưu xâm lược của nhà Minh từ năm 1400.  Nhà Hồ đã một mặt áp dụng những biện pháp ngoại giao khôn khéo đế trì hoãn chiến tranh, mặt khác tích cực lo chuẩn bị kháng chiến chống xâm lược.
Nhà Minh liên tục gây sức ép và tạo bất ổn với Việt Nam từ cả phía Bắc và phía Nam.  Phía bắc, nhà Minh gây hấn và lấn chiếm đất đai.  Năm 1404, nhà Minh đòi chiếm đất Lộc Châu, Tây Bình, Vĩnh Bình, lấy cớ những đất đó thuộc phủ Tư Minh (Quảng Tây).  Năm 1405, nhà Minh lại sai sứ đòi đất Lộc Châu (Lạng Sơn), và 7 trại Mãnh Man thuộc châu Ninh Viễn một cách gay gắt.  Hồ Quý Ly đã bất đắc dĩ phải nhượng đất để kéo dài thời gian hòa hoãn, lo chuẩn bị kháng chiến, nhưng trước sau vẫn kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia và lãnh thổ đất nước.
Ở phía Nam, giữa nhà Hồ và vương triều Chăm Pa có những xung đột phức tạp.  Nhà Minh tìm mọi cách khoét sâu và lợi dụng những xung đột đó để quấy rối hậu phương nước ta.  Năm 1403, nhà Minh phái 9 chiến thuyền vào giúp Chăm-pa chống lại nhà Hồ, và gây ra những vụ xung đột biên giới để phân tán quân đội nhà Hồ.
Việc nhượng bộ đất của Hồ Quý Ly đã gây bất mãn sâu rộng trong quần chúng.  Tuy nhiên, mặt khác cũng tạo được một khoảng thời gian gần 5 năm để vương triều Hồ xây dựng quân đội và trang bị vũ khí với ảo tưởng rằng với quân đội hùng mạnh và vũ khí hiện đại (theo thời đó) thì sẽ chặn được sự xâm lược của quân Minh.
Năm 1401 nhà Hồ ra lệnh kiểm kê dân số và từ đó tiến hành tổng động viên.  Quân đội được chia thành Nam Ban và Bắc Ban với 12 vệ (tương đương sư đoàn), quân Điện Hậu Đông và Tây gồm 8 vệ.  Ngoài quân chủ lực, còn tổ chức thêm hương binh của làng xã, và quân dũng hãn chiêu mộ từ nông dân lưu vong.
Hồ Quý Ly cũng tăng cường chế tạo vũ khí và đạt được những thành tự khoa học quân sự đáng nể.  Bên cạnh các loại vũ khí thông thường như cung tên, giáo mác, kiếm lao, máy bắn đá…..còn có súng thần cơ do Hồ Nguyên Trừng chế tạo có sức công phá và sát thương hơn hẳn các loại súng của quân Minh.
Ngoài ra, nhà Hồ cũng lập những phòng tuyến quân sự kiên cố như phòng tuyến phía bắc chạy dài từ chân núi Tản Viên, Ba Vì, men theo sông Đà, tiếp theo sông Nhị qua Đông Đô, rồi theo sông Hải Triều, sông Hy (sông Luộc) chuyển qua sông Ma Lao (sông Thái Bình) đến Chí Linh, Hải Dương.   Tất cả các phòng tuyến đều được đóng cọc dưới sông, cắm chông dày đặc trên bờ, và phía ngoài có bẫy ngựa và quân lính.
Cho dù có sự chuẩn bị kỹ càng về quân sự, nhà Hồ đã thất bại nặng nề trong cuộc chiến chống quân Minh.  Với một đạo quân gần một triệu (cả chủ lực lẫn tiếp vận), và bất chấp sự kháng cứ mãnh liệt của quân đội vương triều Hồ, quân Minh đã thôn tính được Việt Nam vào năm 1407, sau 6 tháng chiến đấu ác liệt.
Lịch sử phải công minh ghi nhận rằng vương triều Hồ và Hồ Quý Ly đều chủ trương kiên quyết đánh giặc giữ nước, và đã đánh đến cùng.  Tuy nhiên, lịch sử cũng phải thừa nhận rằng nguyên nhân thất bại chủ yếu của triều Hồ là không đoàn kết được toàn dân đánh giặc.
Một điểm đáng lưu ý là những mâu thuẫn nội bộ giữa nhà Trần bị lật đổ và vương triều Hồ (tạm gọi là “ý thức hệ) rất sâu sắc.  Nhà Minh lợi dụng khoét sâu thêm mâu thuẫn này để gây rối trong nội bộ nhà Hồ.
Trước tình hình đó, lẽ ra nhà Hồ phải biết đặt lợi ích của đất nước lên trên hết, giải quyết các mâu thuẫn bên trong theo hướng đáp ứng xu hướng chủ đạo của phát triển chính trị xã hội, để từ đó thắt chặt sư đoàn kết của toàn dân, và huy động sức mạnh của cả nước vào chống giặc cứu nước. Nhưng nhà Hồ đã không làm được như vậy.
Do đó, khi quân Minh tiến sang, triều Hồ không thu phục được lòng dân, không dấy lên được sức mạnh của cả nước đánh giặc, toàn dân đánh giặc, thực hiện một cuộc chiến tranh nhân dân yêu nước chống ngoại xâm.
Từ hạn chế trên đã đưa nhà Hồ đến những sai lầm về quân sự, đó là dựa chủ yếu vào quân mà không dựa vào dân, dựa chủ yếu vào vũ khí và thành quách, mà không dựa vào lòng người và địa hình.  Suy nghĩ về những sai lầm và thất bại của nhà Hồ trong kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi viết:
Lớp lớp rào lim ngăn sóng biển,
Khóa sông xích sắt cũng vậy thôi.
Lật thuyền mới rõ dân như nước
(Quan Hải)
Những thất bại trong lịch sử chống ngoại xâm Phương Bắc nói trên cho thấy không phải lúc nào Việt Nam cũng chiến thắng.  Những thất bại quân sự dẫn đến mất nước Việt Nam chỉ do một nguyên nhân chính đó là:  Mâu thuẫn, đấu đá tranh giành quyền lực nối bộ, thiếu dân chủ dẫn đến mất lòng dân. Từ chỗ mất lòng dân, những triều đại thất bại trước đây buộc phải dựa vào vũ khí (Nỏ Thần, Đại Thần Cơ) và quân chủ lực.
Trong chiến tranh với Phương Bắc, nếu Việt Nam chỉ dựa vào quân đội và vũ khí thì thất bại là nắm chắc trong tay vì Việt Nam ở bất cứ thời đại nào cũng không thể đủ lính và đủ vũ khí để áp đảo Trung Quốc.  Những gì đang diễn ra hiện nay cho thấy Việt Nam với Quân đội Nhân dân Việt nam, đã và đang có những nét tương đồng đáng sợ với đội quân chủ lực của  Hồ Quý Ly.
Thứ nhất, Việt Nam cho dù đã và rất kiên quyết, nhưng cũng đã và sẽ tiếp tục phải nhượng bộ với Trung Quốc với mục đích là kéo dài thêm được thời gian hòa bình càng lâu càng tốt.  Đây là điều nhà Hồ đã làm, thậm chí phải nhượng cả một số đất của Việt Nam để kéo dài thời gian hòa hoãn cho việc xây dựng quân đội.
Thứ hai, Việt Nam đang dốc tiền đầu tư vào xây dựng quốc phòng như mua tầu ngầm, tầu chiến, máy bay chiến đấu, v.v….đúng như những  biện pháp hiện đại hóa quân sự mà nhà Hồ đã thực hiện vào năm 1401-1405.  Cái hơn của quân đội Hồ Quý Ly so với Quân đội Nhân dân Việt nam hiện nay là nhà Hồ đã chế tạo ra đại thần công có uy lực công phá đáng sợ hơn cả thần công của nhà Minh.
Việt Nam hiện nay không có vũ khí nào có uy thế vượt trội so với Trung Quốc. Cái Việt Nam rất cần làm và phải làm ngay hôm nay là xây dựng “lòng dân” vững mạnh, bên cạnh xây dựng quốc phòng.  Trung Quốc không sợ một Việt Nam mạnh về quốc phòng, mà Trung Quốc chỉ sợ một Việt Nam đoàn kết, dân chủ, toàn dân một lòng.
Thứ ba, nội bộ nhà Hồ lủng củng, chia rẽ và đây là điểm nhà Minh đã lợi dụng để làm yếu nhà Hồ.  Nội bộ của Việt Nam hiện nay cũng đang bị chia rẽ sâu sắc và Trung Quốc hiện nay cũng đã và đang triệt để khoét sâu mâu thuẫn nội bộ này của Việt Nam để làm suy yếu Việt Nam.
Một điều phải khăng định rằng Quân đội Nhân dân Việt nam sẽ chiến đấu mãnh liệt đến cùng để chống ngoại xâm Trung Quốc, cũng giống như đội quân Hồ Quý Ly đã làm.
Nhưng liệu Quân đội Nhân dân Việt nam có thể chiến thắng sự xâm lược của Trung Quốc hay không, hay lại lặp lại thất bại mất giang sơn đau đớn của đội quân Hồ Quý Ly vào năm 1407.
Điều này hoàn toàn phụ thuộc Việt Nam liệu có đủ can đảm để thực hiện những cải cách dân chủ ngay lập tức hay không. Chỉ có một Việt Nam dân chủ thật sự mà trong đó người dân có quyền làm chủ thật sự mới có thể chống lại được bành trướng Trung Quốc.  Tiến trình cải tổ dân chủ đó phải được bắt đầu ngay lập tức nếu không muốn mọi việc trở nên quá muộn.
THẤT BẠI TRONG BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ VỚI MỸ VÀ TÂY ÂU NĂM 1978
Trong lịch sử cận đại khi thế giới chia làm đa cực, một nguyên tắc có tính quy luật với các nước nhỏ để tránh bị lôi vào vòng cuốn gây ảnh hưởng của các nước lớn là tuyên bố chính sách phát triển trung lập.  Tuy nhiên, trên thế giới, rất ít nước nhỏ thực hiện được thành công chính sách phát triển trung lập, ngoại trừ Thụy Sĩ ở Châu Âu, Thái Lan ở Đông Nam Á, hay Nepal và Bhutan ỏ Nam Á  do địa hình quá hiểm trở khiến hai nước này không bị đô hộ.
Việt Nam nằm trong nhóm những nước nhỏ đã liên tục thất bại trong việc theo đuối chính sách ngoại giao trung lập, độc lập, và không bị phụ thuộc vào các nước lớn.
Phần này tập trung phân tích trong giai đoạn 1975- 1979, vì đây là giai đoạn lịch sử có những nét tương đồng đáng kinh ngạc với thời điểm hiện nay về bối cảnh lịch sử, về chính sách đối ngoại của Việt Nam, và về các quyết sách của Trung Quốc và Mỹ với Việt Nam.
Ngay sau ngày 30/4/1975, và thậm chí trước đó một năm vào năm 1974, Việt Nam đã có chủ trương bình thường hóa quan hệ với Mỹ và phương Tây để làm đối trọng với Trung Quốc.  Trong năm 1975 đã có những biểu hiệu Trung Quốc và Pol Pot liên kết với nhau để chống Việt Nam.
Ngày 4/5/1975, chỉ bốn ngày sau khi Mỹ rút khỏi Việt Nam, Pol Pot tấn công Việt Nam.  Ba tháng sau, vào ngày 18/8/1975, Trung Quốc tuyên bố viện trợ toàn diện cho Pol Pot.  Để tranh thủ Trung Quốc, TBT Lê Duẩn đã có chuyến viếng thăm chính thức Trung Quốc ngày 25/9/1975. Nhưng chuyến thăm chính thức không đạt kết quả gì và Trung Quốc không có cam kết viện trợ thêm cho Việt nam.
Cùng thời điểm, Liên Xô tăng cường lôi kéo Việt Nam vào trong khối Đông Âu để chống Trung Quốc. Ngày 30/10/1975, Liên Xô tuyên bố sẽ viện trợ kinh tế cho Việt Nam trị giá gần 2 tỉ đô la, một con số khổng lồ vào thời điểm đó, với hy vọng Việt Nam sẽ bỏ Trung Quốc và theo Liên Xô.  Liên Xô cũng ra sức thuyết phục Việt Nam tham gia khối COMECOM, khối hợp tác kinh tế XHCN.
Tuy nhiên, bất chấp những ve vãn của Liên Xô để lôi kéo Việt Nam chống lại Trung Quốc, Việt Nam chủ trương bình thường hóa quan hệ với Mỹ và phương Tây, hơn là tăng cường quan hệ với Trung Quốc hoặc Liên Xô.  Việt Nam muốn theo đuổi một chính sách cân bằng và độc lập trong đối ngoại.
Vì vậy, trong năm 1976, cho dù Trung Quốc và Liên Xô liên tục đòi Việt Nam cho mở Tổng Lãnh Sự Quán ở TP HCM, Việt Nam không để hai nước này mở Tổng Lãnh Sự Quán ở TP HCM.  Nhưng thay vào đó, đã để Pháp, Ý, Đức và các nước phương Tây khác mở lãnh sự quán.  Thậm chí hãng thông tấn xã Sự Thật của Liên Xô cũng không được mở văn phòng đại diện ở TP HCM, trong khi các hãng thông tấn của Mỹ và Phương Tây được mở lại văn phòng báo chí thường trú.
Trong lúc Việt Nam treo cờ ở toàn bộ các ĐSQ nước ngoài đang bị bỏ hoang ở TP HCM sau ngày 30/4/75,  CP Việt Nam không treo cờ Việt Nam ở Tòa Đại Sứ Mỹ (cũng đang bị bỏ trống) với hàm ý để ngỏ chờ cơ hội mở cửa và bình thường hóa quan hệ.
Vì thế, vào năm 1976, cả  Liên Xô và Trung Quốc đã bày to thất vọng với Việt Nam và cả hai công khai chỉ trích Việt Nam là một đất nước “vô ơn”.
Về kinh tế, Việt Nam cũng từ chối lời mời tham gia COMECOM của Liên Xô.  Thay vào đó, IMF và Ngân Hàng Thế giới đã đến Việt Nam tháng 12/1976 và bắt đầu thiết kế khoản vay 60 triệu đô la đầu tiên cho Việt Nam.
Năm 1977 khi Liên Xô ngỏ ý định không hỗ trợ Việt Nam xây dựng nhà máy thủy điện sông Đã, Việt Nam đã liên hệ với Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) để tìm hiểu khoản vay xây dựng nhà máy thủy điện Sông Đà.
Trong giai đoạn 1976 và 1977, Trung Quốc và Pol Pot tăng cường hợp tác quân sự và kinh tế. Được Trung Quốc bật đèn xanh,  Pol Pot tiến hành các hoạt động tấn công hủy diệt tàn bạo ở các tỉnh biên giới phía Nam của Việt Nam.
Đứng trước một nguy cơ một cuộc chiến tranh tổng lực với Trung Quốc ở phía bắc và một cuộc chiến tranh ở biên giới phía nam với Pol Pot, Việt Nam đã buộc phải vượt qua rào cản ý thức hệ để thúc đẩy hết sức việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ và các nước Tây Âu bằng mọi giá với mục đích tạo đối trọng với Trung Quốc.
Nhận lời mời của Việt Nam, đặc phái viên của Tổng Thống Carter,  Đại sứ Leonard Woodcock đã tiến hành một chuyển viếng thăm bí mật đến Hà Nội ngày 16/3/1977 để bàn về việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
Ngay sau đó,  TTg Phạm Văn Đồng đã tiến hành công du một loạt các nước Tây Âu vào ngày 25/4/1977.
Để đáp lại, dưới sự chỉ đạo của Trung Quốc, Pol Pot đã tiến hành một cuộc tiến công toàn diện vào các tỉnh biên giới phía Nam của Việt Nam ngày 30/4/1975 như một tín hiệu cảnh báo những nỗ lực bình thường hóa quan hệ với phương Tây và Mỹ của Việt Nam
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn quyết tâm đẩy mạnh bình thường hóa quan hệ với Mỹ và ngày 3/5/1977, Việt Nam và Mỹ đã tiến hành đàm phán bình thường hóa quan hệ ở Pháp.
Sau đó, trong suốt nửa cuối năm 1977 cho đến ngày 11/10/1978 là cuộc chạy đua giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ.
Một mặt, Trung Quốc liên tục kích động Pol Pot tấn công Việt Nam để buộc Việt Nam phải tự vệ và từ đó cáo buộc Việt Nam gây hấn để tạo cớ gây sức ép với  Tây Âu không bình thường hóa quan hệ với Việt Nam.
Mặt khác, Trung Quốc tiến hành một chiến dịch ngoại giao để gây sức ép với Mỹ và buộc Mỹ phải cân nhắc lựa chọn giữa Trung Quốc hay Việt Nam trong chiến lược ngoại giao và quân sự của Mỹ.
Ngày 25/12/1977, Việt Nam phản công tự vệ và chiếm một số tỉnh miền tây của Pol Pol.  Sau đó, trong miền nam, Việt Nam tiến hành chiến dịch “đánh tư sản”, thực ra là nhắm vào người Hoa vì phần lớn tư sản và nhà giàu Sài Gòn là người Hoa.
Hậu quả của việc đánh tư sản đã kích động  làn sóng di tản của người Hoa vào tháng 3/1978 cả trên bộ, trên biển và lan rộng khắp Việt Nam vào năm 1978-1980.   Những phản ứng này của Việt Nam đã mắc đúng vào bẫy của Trung Quốc.
Trung Quốc cáo buộc Việt Nam đã vi phạm luật quốc tế bằng xử dụng vũ lực đánh lại một nước nhỏ là Cambodia, và đã vi phạm nhân quyền trong việc đẩy đuổi người Hoa Kiều.
Do vậy, bất chấp sự nhượng bộ của Việt Nam bỏ tất cả các yêu cầu về bồi thường chiến tranh trong buổi đàm phán với Mỹ ngày 27/9/1978 ở New York, dưới sức ép của dư luận trong nước, chính quyền Carter đã buộc phải đưa ra tuyên bố vào ngày 11/10/1978 đình chỉ toàn bộ việc đàm phán bình thường hóa quan hệ với Việt Nam.
Quyết định này của Mỹ đã đẩy Việt Nam vào thế buộc phải dựa vào Liên Xô như là một đối trọng với Trung Quốc.  Sau nhiều lần trì hoãn ký hiệp định hợp tác hữu nghị toàn diện với Liên Xô, ngay sau tuyên bố của Mỹ không bình thường hóa quan hệ, Việt Nam lập tức cử một phái đoàn cao cấp sang LX vào ngày 3/11/1978 để  ký một Hiệp đinh hợp tác toàn diện trong 25 năm.
Tóm lại, Trung Quốc đã đạt được ba thắng lợi lớn sau năm 1975.
Một là cô lập và ngăn chặn quá trình bình thường hóa quan hệ của Việt Nam với Mỹ.  Đây là một đòn giáng rất nặng đến Việt Nam và đã đẩy Việt Nam phải từ bỏ chính sách ngoại giao trung lập sau năm 1975.
Hai là, Trung Quốc đã cài Việt Nam vào bẫy bằng cách xử dụng Pol Pot để buộc Việt Nam phải tự vệ bằng vũ lực, và tạo ra làn xóng di cư của Hoa Kiều để bôi xấu hình ảnh của Việt Nam, từ đó dọn đường dư luận thế giới ủng hộ Trung Quốc – hoặc làm ngơ với Trung Quốc –  trong cuộc chiến tranh biên giới 1979 để triệt phá toàn bộ cơ sở hạ tầng của các tỉnh biên giới Việt Nam.
Ba là Trung Quốc đã thành công làm kiệt quệ nền kinh tế Việt Nam.  Trong khi Việt Nam lao đao vì cấm vận kinh tế, Trung Quốc đã nhân cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mỹ để tạo ra một thị trường xuất khẩu rộng lớn cho phát triển kinh tế trong ba thập niên 70,80, và 90.  Chỉ trong vòng ba thập niên, nền kinh tế Trung Quốc nhờ tăng cường xuất khẩu vào Mỹ và Tây Âu đã bứt phá mạnh mẽ, trong khi nền kinh tế Việt Nam liên tục suy thoái trong ba thập kỷ 70, 80 và đầu những năm 90 do cấm vận kéo dài.
NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM HÔM NAY
Việt Nam cần tấn công chính trị để phòng thủ quân sự.   Một trong các chiến lược quân sự sáng tạo  của chiến tranh nhân dân của Việt Nam là chiến lược tấn công để phòng thủ của Lý Thường Kiệt.  Việt Nam không thụ động đợi quân địch tiến đánh, mà chủ động đánh thẳng vào hậu phương địch.  Vào thời điểm hiện nay, Việt Nam không thể áp dụng chiến lược quân sự này trong chiến tranh hiện đại.
Nhưng Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động tấn công Trung Quốc với biện pháp chính trị bằng cách thực hiện cải tổ chính trị, hướng tới dân chủ ngay tại Việt Nam.  Đây sẽ là đòn giáng nặng nhất vào hậu phương chính trị và quân sự của Trung Quốc.  Nó sẽ tiếp nguồn cho phong trào đòi dân chủ hiện đang bị đàn áp ở Trung Quốc, và buộc Trung Quốc phải quay ra đối đầu với nội bộ, không thể quấy nhiễu bên ngoài.
Hiện nay, ngoại trừ Bắc Triều Tiên là một trường hợp ngoại lệ, chỉ có ba nước theo hệ thống chính trị đóng với quyền lực tập trung vào một đảng, đó là Trung Quốc, Việt Nam và Miến Điện.
Miến Điện hiện đã thực sự cải tổ chính trị và đang hướng tới dân chủ.  Như vậy, chỉ còn Trung Quốc và Việt Nam.  Trung Quốc luôn tuyên truyền để trấn an các phong trào đòi dân chủ trong nước rằng Trung Quốc có thể chế chính trị ưu việt hơn của Việt Nam vì Trung Quốc hiện có 9 đảng đối lập (cho dù là không có quyền lực).
Do vậy, nếu Việt Nam cải cách dân chủ, Trung Quốc sẽ bị sức ép nội bộ rất nặng cho việc cải tổ, và sẽ làm phân tán sự hung hăng gây hấn bên ngoài.
Nếu phải đặt lên bàn cân, các nước dân chủ tiên tiến luôn sẽ chọn Trung Quốc cộng sản thay vì chọn Việt Nam cộng sản.   Về kinh tế, nếu cùng một chủng hàng, cùng chất lượng, mẫu mã giống nhau, và giá cả không chênh lệch nhiều, ai cũng sẽ chọn hàng có khối lượng hoặc số lượng lớn.
Thất bại về bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1978 cho thấy khi phải đặt lên bàn cân giữa Trung Quốc cộng sản và Việt Nam cộng sản, Mỹ đã chọn Trung Quốc.
Thế nhưng, các nước dân chủ tiên tiến buộc phải cân nhắc khi phải lựa chọn giữa một Trung Quốc cộng sản với một Việt Nam dân chủ.
Đây là một bài toán hoàn toàn khác vì một Việt Nam dân chủ có tầm quan trọng trong toàn bộ chiến lược phát triển dân chủ ở khu vực Châu Á.  Trong khi một Việt Nam cộng sản với một ít tiềm năng về kinh tế thì không thể so bì với những cơ hội kinh tế của một Trung Quốc cộng sản, và do vậy họ sẽ sẵn sàng đánh đổi Trung Quốc cộng sản với Việt Nam cộng sản.
Hiện nay, sự lựa chọn này đang diễn ra rất gay gắt trong nội bộ của Mỹ.  Vấn đề Ukraine và hạn chế ảnh hưởng của Nga hiện nay là một trong vấn đề nóng nhất trong c/s đối ngoại của Mỹ.
Trung Quốc nắm được điều này nên đã chơi con bài đúng như năm 1978 là gây sức ép với Mỹ phải lựa chọn giữa Trung Quốc hay Việt Nam.
Nếu Mỹ lựa chọn Trung Quốc, Trung Quốc sẽ hỗ trợ Mỹ trong việc làm trung gian giữa Mỹ và Nga.  Nếu Mỹ lựa chọn Việt Nam, Trung Quốc sẽ đẩy quan hệ chiến lược với Nga làm đối trọng với Mỹ.
Do vậy, đừng quá ảo tưởng về những tuyên bố gần đây của Mỹ phản đối Trung Quốc về biển Đông.  Việt Nam chỉ có thể vượt trội trong bàn cân chiến lược nếu Việt Nam là một nước dân chủ tiến bộ.
Vì điều này sẽ tạo một làn sóng ủng hộ mạnh mẽ trong nội bộ Quốc hội Mỹ và bất cứ tính toán thực dụng nào thiên về phía Trung Quốc cũng sẽ vấp phải phản ứng của Quốc Hội Mỹ ủng hộ cho một Việt Nam dân chủ.
Không thể áp đảo và thắng Trung Quốc bằng số lượng quân đội và vũ khí.  Đây là bài học muôn thủa, nhưng vẫn bị quên lãng.  Hiện đại quốc phòng là cần thiết.  Nhưng phải xác định không thể thắng Trung Quốc bằng số lượng quân hay vũ khí.  Thất bại của nhà Hồ là điển hình.
Thậm chí ngay cả An Dương Vương vì quá coi trọng vào Nỏ Thần, và dựa vào thành Cổ Loa, mà không thật sự dựa vào dân, đã để thua Triệu Đà và đẩy Việt Nam vào một nghìn năm Bắc thuộc.
Chiến tranh nhân dân, toàn bộ Việt Nam là chiến trường, phi thành quách, toàn bộ người dân là quân, chỗ nào cũng đánh khiến cho địch “không thể cởi giáp và bỏ cung kiếm trong nhiều năm, dẫn đến kiệt quệ và bị tiêu diệt….” (Nguyễn Trãi). Nhưng để làm được như vậy thì phải thực hiện dân chủ, phải thay đổi, nếu không muốn Việt Nam lại rơi vào một thời kỳ Bắc thuộc thế kỷ 21.
Không bị sa bẫy làm “chảy máu kinh tế”.  Trung Quốc đã áp dụng rất thành công chiến lược làm kiệt quệ Việt Nam vào năm 1978.  Với thành công trong việc ép Mỹ và Tây Âu cấm vận Việt Nam vì lý do nhân quyền, và xử dụng vũ lực, Việt Nam đã bị rơi vào cô lập kinh tế mà hậu quả cho đến nay vẫn còn nặng nề.
Những vụ manh động vừa qua đã làm tổn hại nghiêm trọng đến đầu tư lâu dài của nước ngoài ở Việt Nam và những tác động này là hết sức nghiêm trọng về kinh tế.  Từ năm 2012 đến nay, nhà đầu tư dài hạn đang có xu hướng chuyển sang xuất từ Trung Quốc đến các nước ASEAN do nhân công ở Trung Quốc đã quá cao.
Nhưng những vụ biểu tình bạo lực tuần trước đã là tiếng chuông báo động cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài khi tính đến khả năng đầu tư dài hạn ở Việt Nam.  Họ đang tính chuyển dần sang Nam Á hơn là Việt Nam, nhất là sau bầu cử thắng lợi của Ấn độ ngày 19/5/2014.
Trung Quốc sẽ liên tục gây sức ép căng thẳng để kích động và tạo tâm lý chiến tranh để từ đó uy hiếp các nhà đầu tư rút dần ra khỏi Việt Nam.  Đây là một độc chiêu rất nguy hiểm của Trung Quốc.  Hiện nay, Trung Quốc cũng đã loan tin về sự bất ổn về đầu tư dài hạn ở Việt Nam với các nhà đầu tư Đài Loan, và các nhà đầu tư nước ngoài khác.
Không thể ảo tưởng về ngoại giao “khôn khéo và linh hoạt”.  Nhà Hồ đã áp dụng các biện pháp ngoại giao uyển chuyển và linh hoạt trong suốt 5 năm, 1401 – 1406, thậm chí buộc phải nhượng lại một số đất đai phía bắc cho nhà Minh nhưng cũng không tránh được một cuộc chiến tranh với Trung Quốc.
Xung đột vũ trang với Trung Quốc trước sau cũng xảy ra, chỉ là vấn đề thời gian, phạm vi, và mức độ.  Việc xử dụng vũ lực đơn phương và không bị quốc tế trừng phạt – hoặc quốc tế không thể trừng phạt – diễn ra như cơm bữa trong thế kỷ 20 và 21.
Mỹ đánh Iraq không cần nghị quyết LHQ (Nghị quyết số 1441 của LHQ không đồng thuận cho Mỹ đánh Iraq đơn phương).
Việt Nam đánh Cambodia năm 1979 cũng không được LHQ ủng hộ (mà lẽ ra LHQ phải ủng hộ vì Pol Pot thực sự là chế độ diệt chủng).
Tuy nhiên, thực tế trên cho thấy Trung Quốc có thể bất cứ lúc nào đánh Việt Nam, bất chấp dư luận quốc tế phản đối.
Cũng không thể có nước nào có thể áp dụng trừng phạt kinh tế với Trung Quốc vì sự ràng buộc thương mại và đầu tư với Trung Quốc là quá lớn với tất cả các nước có khả năng áp dụng trừng phạt kinh tế.
Trung Quốc đã có thể chiếm các đảo của Việt Nam ngay trong ngày mai, mà Việt Nam khó có thể đánh chiếm lại.
Điều này cho thấy sự khẩn cấp của việc cải tổ chính trị ở Việt Nam càng sớm càng tốt để củng cố lòng tin của dân, củng cố vị thế dân chủ của Việt Nam trên thế giới, từ đó Việt Nam sẽ nằm trong liên minh của các nước dân chủ để đối trọng với Trung Quốc.  Nếu không thực hiện việc cải tổ chính trị ngay và quyết liệt, thì hậu quả với Dân Tộc và Tổ Quốc là khôn lường.
Tác giả Bách Việt.

Sách tham khảo
  • Brezinski, Zbiniew, 1983. Power and Principle:  Memoirs of the National Security Advisor, New York, 1977
  • Chanda, Nayan, 1986 “Brother Enemy:  The War After the War”
  • Heder, Stephen, 1980. From Pol Pot to Pean Sovan.  Chulalongkorn University
  • Phan Huy Lê, 2012 “Lịch Sử và Văn Hóa Việt Nam “Tiếp Cận Bộ Phận”.  Xuất Bản lần thứ hai. Nhà Xuất Bản Thế Giới
  • Ngô Sỹ Liên, 2011 “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” Tập I và Tập II.  In Lần Hai, có sửa chữa.   Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin
  • Vance, Cyrus, 1983. Hard Choices:  Critical Years in American Foreign Policy.  New York: Simon and Schuster
  • World Bank, 1977.  Socialist Republic of Vietnam:  An Introductory Economic Report

Thursday, May 29, 2014



Bắc Kinh có lẽ bắt tháu cáy của Hà Nội và khởi sự chiến tranh (Beijing may call Hanoi's bluff and start war) . 

Bài viết đăng trên Duowei/Đa Chiều , website của Hoa kiều hải ngoại , có đoạn :
. . .
" Nếu VN ko lùi lại (back down) , TQ có lẽ cần bắt đầu chiến tranh để dẹp tan những chướng ngại bên ngoài ngày càng gia tăng cho sự mở rộng của mình , vì một cuộc chiến như vậy với VN sẽ tốt hơn với Nhật và Phi  , cả hai nước cũng vướng vào tranh chấp lãnh thổ với TQ .
Trong khi khả năng QS của Nhật ko thể so sánh với TQ , Nhật lại có sựa hậu thuẩn của Mỹ và có thể làm phức tạp tình hình khi kéo Mỹ vào cuộc xung đột này . Hơn nữa , sự dựa (reliance) vào nhau về buôn bán song phương giửa 2 nước khiến TQ ko muốn dùng QS trong lúc này .
Trong bất cứ cuộc xung đột , có thể xảy ra với Phi , TQ sẽ được xem là trên cơ (bully) khi hải quân TQ sẽ khống chế trong các cuộc đụng độ (face-off) trên biển . HQ của Phi chỉ có 26.000 quân và 66 tàu , 17/100 là tàu từ đệ nhị TC . Trong khi đó , chỉ riêng hạm đội Nam Hải của TQ , đã có hơn 350 tàu , bao gồm 9 tàu khu trục có hỏa tiển điều khiển , 17 tàu khu trục nhỏ (frigate) , ba tàu ngầm nguyên tử và 21 tàu ngầm thường . Phi cũng dựa vào buôn bán với TQ , bạn hàng lớn thứ 3 của họ , dù cho Phi chỉ chiếm 1/100 lượng buôn bán toàn cầu của TQ .
Theo Đa Chiều , VN sẽ là kẻ thù đáng sợ hơn Phi và sẽ đặt ra 1 nguy cơ thấp hơn về sự can thiệp của Mỹ - so với Nhật . VN có 412.000 quân với hải quân 42.000 người với hơn 100 tàu . Trong khi không quân chỉ 15.000 ng với tổng cộng 427 phản lực cơ .
VN có lẽ hy vọng vẫn dựa vào TQ về kinh tế nhưng đang tìm sự bảo vệ của Mỹ về mặt an ninh , một chiến lược thấy trước sẽ thất bại . Đa Chiều thêm rằng , khởi động cuộc chiến với VN , không chỉ là bảo đảm chiến thắng , mà còn đánh mạnh (strike hard) vào đà tiến của Mỹ trong khu vực và làm kinh ngạc các nước láng giềng như Phi và Nhật khiến họ thụt lùi ."
Dịch từ nguồn : http://www.wantchinatimes.com/news-subclass-cnt.aspx?id=20140529000116&cid=1101

Nước cờ hiểm của TQ với giàn khoan

Cập nhật: 09:18 GMT - thứ năm, 29 tháng 5, 2014

Trung̣ Quốc định ngày rút giàn khoan là ngày 15/8
Các đợt xuống đường của người dân Việt Nam có thổi bay cái giàn khoan của Trung Quốc khỏi Biển Đông?
Câu trả lời, nhiều khả năng, là ‘Không’.
Ít nhất những diễn biến trên thực địa cùng với những tuyên bố cứng rắn cho đến giờ cho thấy Trung Quốc quyết không lùi một bước.
Tôi không rành về khai thác dầu khí nhưng theo l‎ý mà suy thì chừng nào xong việc mới rút giàn khoan chứ làm sao biết được sẽ rút ngày nào?
Nhưng nếu Bắc Kinh không công bố trước thời hạn rút giàn khoan thì bất cứ lúc nào họ rút đi cũng sẽ bị cho là chịu thua sức ép của Việt Nam.
Đưa giàn khoan ra Biển Đông, Bắc Kinh muốn quyết tâm khẳng định với thế giới rằng vùng biển xung quanh đó thuộc chủ quyền của họ.
Nhưng tại sao họ lại ra tay vào lúc này? Giàn khoan Hải Dương 981 là cách mà họ thách thức cam kết ‘xoay trục’ mà Tổng thống Mỹ Barack Obama vừa khẳng định với các đồng minh.
Obama vừa mới lên tiếng Senkaku nằm trong phạm vi hiệp ước an ninh với Nhật và Manila cũng vừa k‎ý với Mỹ Hiệp ước tăng cường liên minh quân sự. Kiếm chuyện với Tokyo hay Manila khi Obama vừa rời đi thì quá 'bựa'.
Để thách thức Mỹ nhưng vẫn tránh đối đầu trực diện, Bắc Kinh chọn mục tiêu mềm hơn là Hà Nội.

Nước cờ chắc ăn

Với lại khi có hành động mà Bắc Kinh biết rằng sẽ bị thách thức dữ dội thì họ phải chọn nước cờ chắc ăn nhất.
Họ không chọn vùng biển xung quanh các đảo mà họ đang nắm giữ ở Trường Sa hoặc một vị trí nào khác trong Biển Đông mà họ biết sẽ rủi ro hơn rất nhiều.
Quần đảo Hoàng Sa chỉ có tranh chấp với Việt Nam, trong khi Trung Quốc còn không thừa nhận là có tranh chấp và lâu nay vẫn cự tuyệt mọi đề xuất đàm phán của Hà Nội.
Về mặt thực tế, ‘Tây Sa’ đã nằm hoàn toàn trong tay Trung Quốc và cách nay không lâu họ còn gióng trống mở cờ thành lập thành phố ‘Tam Sa’ đóng trên quần đảo này.

Tổng thống Mỹ Obama vừa cam kết với các đồng minh châu Á về chính sách 'xoay trục'
Về mặt pháp lý, họ có ‘bửu bối’ là công hàm Phạm Văn Đồng mà nếu Hà Nội có cãi lý thì họ sẽ dùng để đập lại.
Họ kiểm soát, họ không thừa nhận có tranh chấp, họ có bằng chứng Hà Nội ‘công nhận chủ quyền’, rõ ràng Bắc Kinh rất tự tin với ‘chủ quyền Tây Sa’ nên họ mới đưa giàn khoan ra đây.
Nếu Việt Nam có nói là giàn khoan nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của mình thì Trung Quốc sẽ cãi rằng giàn khoan này nằm cách ‘Tây Sa, lãnh thổ của họ’ chỉ 17 hải lý trong khi cách bờ biển Việt Nam đến 150 hải lý.
Trên thực tế đó là kịch bản mà báo chí và các quan chức Trung Quốc đã nói trong những ngày qua.
Một khi có bước đi liều lĩnh như thế chắc chắn Bắc Kinh đã tính toán hết mọi rủi ro mới dám thực hiện.
Nhìn vào động tĩnh của Trung Quốc trong những ngày qua thì sẽ thấy họ theo dõi chặt chẽ phản ứng của Việt Nam, của khối Asean và của Mỹ.
Ngay cả khi phản ứng chính thức của Mỹ chỉ dừng ở mức ‘quan ngại’ và chỉ trích Trung Quốc ‘gia tăng căng thẳng’ thì Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã phủ đầu với tuyên bố ở Thượng Hải rằng ‘các thế lực bên ngoài không được can thiệp’ và ‘chống lập liên minh quân sự nhằm vào bên thứ ba’.
Còn với Asean, mặc dù còn không nêu tên Trung Quốc mà chỉ bày tỏ ‘quan ngại’ nhưng Trung Quốc đã rất nhanh chóng lấy quan hệ chung để nhắc nhở Asean không được dính vào tranh chấp riêng và cảnh báo Hà Nội về việc ‘lôi kéo’ Asean.

Làm chủ tình hình

Phản ứng mạnh mẽ của Việt Nam chắc chắn cũng đã nằm trong dự liệu của Trung Quốc.

Các lãnh đạo Asean không muốn mất lòng Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông
Mỹ can thiệp, Asean dính líu và Việt Nam ngả về phía Mỹ là ba nỗi sợ của Bắc Kinh khi đưa giàn khoan HD-981 ra Biển Đông.
Về phía Mỹ thì Bắc Kinh biết rõ vào lúc này Washington không thể làm được gì nhiều để giúp Hà Nội ngoài hỗ trợ tinh thần.
Về phía Asean thì Bắc Kinh biết rằng với tư cách là đối tác thương mại lớn nhất của khối, các nước Asean sẽ hết sức thận trọng để tránh làm tổn thương quan hệ với Trung Quốc.
Về phía Việt Nam, với quan hệ khắng khít giữa hai Đảng Cộng sản trong những năm qua, Bắc Kinh chắc hẳn nắm rõ suy nghĩ của Hà Nội.
Điều Bắc Kinh sợ nhất là Hà Nội ngả về phía Washington để họ thêm một mối họa ở phía Nam, nhưng một khi họ đã đưa giàn khoan ra thì có nghĩa họ tin rằng Hà Nội dù có bị o ép thế nào đi nữa thì cũng không tìm kiếm liên minh với Mỹ
Chỉ có điều với hành động này thì họ đã hủy hoại quan hệ với Việt Nam. Việt Nam sẽ không còn là ‘láng giềng thân thiện’ với Trung Quốc được nữa. Tuy nhiên, vì mục đích lớn ở Biển Đông, Bắc Kinh sẵn sàng hy sinh.
Trong cái mục đích lớn đó, đảo thì họ đã nắm được một phần nhưng đường lưỡi bò thì đây mới là bước đi quan trọng đầu tiên để hiện thực hóa.
Nếu như Trung Quốc lùi trước sức ép của Việt Nam thì trước mắt người dân trong nước chính quyền là hèn nhát không đủ sức bảo vệ chủ quyền, trước dư luận quốc tế lập luận chủ quyền của họ không vững và nhất là đường lưỡi bò mới tiến được một bước đã phải lùi thì sau này sẽ vô vàn khó khăn.
Biển Đông là cánh cửa để Trung Quốc bành trướng ra ngoài và là chìa khóa để làm bá chủ ở Đông Á nhất là khi họ đã bị chặn bởi các nước lớn khác ở các hướng bắc, đông và tây nam.

Trung Quốc đang muốn biến đường lưỡi bò trên bản đồ thành sự thật

Chậm mà chắc

Năm 1947, đường lưỡi bò lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ Trung Hoa.
Lúc đó, người Trung Quốc còn chưa có gì trên Biển Đông. Gần 70 năm sau, họ đã có ‘thành phố Tam Sa’ – tức là đã có chỗ đứng vững chắc để từ đó vươn ra Biển Đông.
Ai dám chắc sau 70 năm hoặc 100 năm nữa toàn bộ Biển Đông không trở thành ao nhà của Trung Quốc?
Từ chỗ không có gì đến có được như thế phải thấy tầm nhìn và sự khôn ngoan của Trung Quốc trên Biển Đông: họ xác định đó là công việc lâu dài, tiến dần từng bước một, tranh thủ thời cơ, sẵn sàng dùng vũ lực, sức mạnh đến đâu hiện thực chủ quyền đến đó.
Mặc dù có yêu sách đường chín đoạn từ rất lâu nhưng phải đến tận năm 2009 họ mới chính thức trình ra quốc tế. Chứng tỏ Bắc Kinh giỏi giấu mình chờ thời cơ đến mức nào.
Tuy nhiên điều này cũng cho thấy sự không trong sáng trong đòi hỏi chủ quyền của họ. Nếu có chủ quyền thật sự thì cần gì đợi thời cơ mới đưa ra?
Và cái cách mà họ vẽ đường chín đoạn trong tất cả các bản đồ của họ hiện nay, mặc dù chỉ là chủ quyền trên giấy, là nhằm in sâu vào tâm trí mọi người để rồi đến lúc ai cũng mặc nhiên thừa nhận ‘chủ quyền không thể chối cãi’ của Trung Quốc.
Họ cũng rất biết lợi dụng tình hình khi tranh thủ tối đa những lúc Việt Nam rối ren hay gặp tình hình quốc tế bất lợi để ra tay chiếm đảo.

Chính phủ Bắc Việt đã quá tin tưởng vào Trung Quốc?
Với một đất nước đã quen với ván cờ quyền lực và đấu tranh chính trị trong hàng ngàn năm thì Việt Nam không phải là đối thủ của họ trong cuộc đấu trí trên Biển Đông.
Họ có tầm nhìn cả trăm năm, có chiến lược thực hiện rõ ràng và nhất là luôn ở thế tấn công trong khi Việt Nam nằm ở thế bị động chống đỡ các bước đi của họ.
Trước phía nhiều mưu chước như Trung Quốc, Việt Nam chẳng khác nào một đứa trẻ ngây ngô liên tục bị gài bẫy.
Cái bẫy lớn nhất chính là công hàm năm 1958 công nhận Tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc mà trong Tuyên bố này có khẳng định chủ quyền đối với ‘Tây Sa’ và ‘Nam Sa’.
Bắc Việt lúc đó chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt là sự giúp đỡ của Trung Quốc chứ không lường được cái hại sau này trong khi Trung Quốc mưu tính chuyện lâu dài về sau.
Công luận quốc tế không cần biết ông Đồng suy nghĩ thế nào hay bối cảnh ra sao khi k‎y cái công hàm đó. Chỉ biết giấy trắng mực đen rành rành Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Quốc.

Việt Nam đang chứng kiến các cuộc biểu tình chống Trung Quốc lớn chưa từng thấy
Đành rằng ông Đồng không thể đem cho cái mà Chính phủ của ông không có, nhưng ông có thể thừa nhận quyền sở hữu của người khác đối với tài sản mà ông không có đó.
Và khi đã thừa nhận của người khác thì bây giờ sao lại nói ngược là của mình được?
Rõ ràng Việt Nam tin vào tình đồng chí còn Trung Quốc đã lợi dụng tình đồng chí đó.
Quan hệ quốc tế luôn dựa trên nền tảng lợi ích quốc gia - không có chỗ cho ‘tinh thần quốc tế vô sản trong sáng’. Bắc Kinh đã không đổ xương máu cho Hà Nội nếu không có lợi ích của mình trong đó.
Bắc Việt đã quá ngây thơ khi tin tưởng người đồng chí phương Bắc hơn đồng bào của mình ở miền Nam. Họ đã để ‎y thức hệ chi phối chính sách ngoại giao của mình.
Chính vì ý thức hệ mà khi Việt Nam hụt hẫng sau khi Liên Xô sụp đổ đã bất chấp những kinh nghiệm đau thương trong quá khứ lại tìm đến Trung Quốc làm chỗ dựa. Và đất nước lại bị đặt trước miệng cọp.
Cũng vì ý thức hệ mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi sang thăm Trung Quốc đã chấp nhận lời khuyên lấy ‘đại cục’ làm trọng, tức là đặt lên trên tranh chấp.
Khi đưa giàn khoan ra Biển Đông, Bắc Kinh có nghĩ đến ‘đại cục’ không?

Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng Việt Nam sẽ không thoát khỏi 'đại cục' với họ?
Rõ ràng ‘đại cục’ đó không phải để ràng buộc Bắc Kinh mà là để Bắc Kinh ràng buộc Hà Nội.
Thậm chí khi Bắc Kinh đã phá vỡ cam kết của lãnh đạo hai Đảng thì Thường Vạn Toàn vẫn tự tin nhắc nhở Phùng Quang Thanh về ‘đại cục’.
Và cho đến giờ cũng chính y thức hệ đã khiến Việt Nam mắc kẹt trong ‘đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, không liên minh với ai’
Mạnh như Nhật mà còn cần hiệp ước an ninh với Mỹ, có vũ khí hạt nhân như Anh, Pháp vẫn cần Mỹ đồng minh trong khối Nato.
Trong khi đó, Việt Nam hiện nay vừa nhỏ yếu vừa bị đe dọa nghiêm trọng thì cứ nói là ‘độc lập, tự chủ’ mà thực ra chỉ thiệt cho mình mà thôi.
Thử cho Mỹ vào Cam Ranh xem? Bắc Kinh không sợ mới lạ.
Mỹ rất muốn nhưng Việt Nam ‘độc lập, tự chủ’ không làm được.
Chính vì thế Việt Nam mất đi một lá bài lợi hại trong cuộc đối đầu vốn dĩ không cân sức.