Thursday, May 2, 2024

 

Cựu binh kể thời khắc mở cửa hầm, tiếp quản 16 tấn vàng ngày giải phóng

VOV.VN - Ký ức hiện về như thước phim quay chậm, khung cảnh ngày bàn giao - tiếp quản kho vàng của gần năm thập kỷ trước mở ra trước mắt cựu binh Hoàng Minh Duyệt...

 - Mời các anh vào! 

Nói rồi, ông Huỳnh Bửu Sơn, lãnh đạo Nha phát hành Ngân hàng Quốc gia dịch người qua trái, cánh cửa cuối cùng dẫn vào hầm vàng được mở toang. Trước mắt, hàng nghìn thỏi vàng với vô số tiền bạc xếp lớp, hầm rộng như sân bóng. 

Đó là một buổi chiều ngày đầu tháng 5 năm 1975. 

Tiến về Sài Gòn

Ngày ấy, Sài Gòn còn hỗn loạn. Nếu không phải là người trong cuộc, trực tiếp kiểm kê, "mắt thấy, tay sờ" thì chính cựu binh Hoàng Minh Duyệt, nguyên là Chỉ huy phó của Đơn vị tiếp quản Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ngày giải phóng cũng khó tin rằng, 16 tấn vàng vẫn được nhân viên của Ngân hàng Quốc gia quản lý an toàn đến vậy. 

Trong những năm 1973 - 1974, ông Hoàng Minh Duyệt là một trong những chiến sỹ hăng hái của C282Q Công an nhân dân vũ trang tại đơn vị B17 tại Hà Tĩnh. Với sức trẻ và lòng yêu nước, tháng 12/1974, các chiến sỹ C282Q được nhận lệnh hành quân vào Nam chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. 

Đoàn hành quân do Thượng úy Đặng Hồng Minh làm đoàn trưởng, ông Hoàng Minh Duyệt hồi đó là Chuẩn úy làm đoàn phó, cùng 32 chiến sỹ khác. Tất cả 34 người đều ở tuổi đôi mươi, mới chỉ vài người lập gia đình. 

Thời điểm đó, Huế và Đà Nẵng vẫn đang bị bom đạn xối xả ngày đêm. Để không bị địch chú ý, các chiến sỹ phải tính toán thời gian, sắp xếp hành quân chủ yếu vào đêm tối.  Sau nhiều ngày vượt qua những con đường bị bom đạn cày xới, qua bạt ngàn thi thể xếp lớp giữa mùi súng ống, đoàn hành quân kịp đến Trung ương Cục miền Nam nhận nhiệm vụ. 

Ngày 2/4/1975, Chiến dịch 275 (chiến dịch Tây Nguyên) thành công mở đầu cho những thất bại quân sự không thể cứu vãn của quân lực Việt Nam Cộng hoà. Sau khi giải phóng Tây Nguyên, Trung ương Cục miền Nam lập tức phổ biến kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng để tiếp quản các căn cứ tại Sài Gòn. 

Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Các chiến sỹ C282Q được giao nhiệm vụ đi đầu để bảo vệ đoàn của Trung ương Cục miền Nam tiến về Sài Gòn. 14 giờ 30 phút, trong niềm hân hoan chiến thắng và háo hức của những người lính trẻ lần đầu tận thấy một đô thị lớn, đoàn về tới Ngã tư Bảy Hiền (Phường 4, quận Tân Bình). 

Cũng như các chiến sỹ khác trong đoàn, cậu thanh niên Hoàng Minh Duyệt hồi đó dù đói khát, vẫn còn e dè với những đòn bánh tét, chai nước ngọt của người dân thành phố đem cho. 

"Người dân thành phố vừa được giải phóng, thấy bộ đội đi vào nên cho đồ ăn nhiều lắm. Chúng tôi nhận nhưng thú thật không dám ăn, vì vừa giải phóng, ai biết địch có trà trộn, cài cắm hay không", ông Hoàng Minh Duyệt nhớ lại. 

Đêm hôm đó, cùng với các cán bộ Ban Kinh tài, Trung ương Cục, đoàn C282Q tập kết về Trường Cao Thắng (phường Bến Nghé, Quận 1) tạm nghỉ, chờ phân công nhiệm vụ. Trường Cao Thắng lúc các chiến sỹ tiến vào có khoảng 20 người đang ẩn nấp. Thấy quân giải phóng, họ cuống cuồng chui xuống gầm giường, vào nhà vệ sinh "lánh nạn".

"Họ run rẩy, sợ hãi, lại có người đói khát sắp ngất đi. Thấy vậy, chúng tôi trấn an, cho biết mình là quân giải phóng, chỉ muốn gắn kết đồng bào", ông Duyệt kể. 

Sau khi được các chiến sỹ chia đồ ăn, nước uống, nỗi lo sợ vơi đi, họ "khai" mình là người dân ở các tỉnh dạt vào Sài Gòn. Để xoá bỏ khoảng cách, ông Duyệt khởi xướng màn giao lưu văn nghệ. Tiếng hát cất lên, những tráng pháo tay giòn giã, quân và dân thực sự hoà làm một. 

4 giờ ngày 1/5, đoàn nhận lệnh rời Trường Cao Thắng, xuất phát đến Ngân hàng Quốc gia Việt Nam số 17 Bến Chương Dương (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chi nhánh TP.HCM số 8 đường Võ Văn Kiệt, Quận 1) canh giữ, tiếp quản kho vàng.

Vào hầm 

4 giờ, trời Sài Gòn bóng tối đen đặc, súng ống vẫn ngổn ngang trước cửa Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Trong khi nhiều toà nhà và trụ sở lân cận bị cướp phá, ngân hàng vẫn được bảo vệ dưới sự chỉ huy của một thiếu tá Việt Nam Cộng hoà và vài cảnh sát. 

Ông Hoàng Minh Duyệt cùng 33 chiến sỹ C282Q tiến tới trên 3 chiếc ô tô Zin 157. Khẩu súng máy đại liên vốn định sử dụng để khống chế lực lượng cũ chưa kịp dùng tới thì đối phương đã buông súng đầu hàng. Ngay sau đó, đoàn triển khai đội hình bảo vệ tòa nhà. 

Đúng 8 giờ, trước mặt hàng trăm nhân viên ngân hàng, ông Lữ Minh Châu, Phó Ban Tài chính đặc biệt của Trung ương Cục (có thời gian dài sống trong vỏ bọc là cán bộ một ngân hàng Sài Gòn) công bố lệnh tiếp quản và lệnh cho các ngân hàng ngưng hoạt động. 

Trong lúc công bố lệnh tiếp quản, ông Châu cũng công bố các chính sách về quyền lợi và nghĩa vụ trong quan hệ đối nội, đối ngoại của các ngân hàng chế độ cũ. Trong đó bao gồm cả việc xác nhận nợ, tiếp quản các kho thế chấp, trả lại tiền gửi cho nhân dân và các tổ chức trong ngoài nước.  

Công bố lệnh tiếp quản hoàn tất, những người có liên quan trực tiếp đến việc quản lý, bảo vệ tài sản được giữ lại làm việc, những người còn lại được cho về, khi cần sẽ gọi. 

Có mặt trong buổi sáng hôm đó, chánh sự vụ Lê Minh Khiêm và kiểm soát viên Huỳnh Bửu Sơn, hai người nằm trong Ban lãnh đạo Nha phát hành Ngân hàng Quốc gia được giữ lại. Ông Khiêm là người giữ mã số các hầm bạc, còn ông Sơn giữ chìa khóa kho vàng. 

Sau khi vãn hồi trật tự, chiều cùng ngày, quân ta bắt đầu thực hiện lệnh mở hầm, kiểm đếm và tiếp quản tài sản của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Lối đi xuống hầm chỉ vừa một người. Ông Huỳnh Bửu Sơn dẫn đầu, phía sau là các đại diện Ban Quân quản và đơn vị tiếp quản ngân hàng. Ông Hoàng Minh Duyệt là Chỉ huy phó của đơn vị tiếp quản nên tham gia và chứng kiến toàn bộ quá trình bàn giao. 

"Lối đi xuống hầm nếu đi 2 người thì bị chật, đi một người thì vừa vặn, thoải mái. Hầm được xây rất kiên cố với hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước. Còn cửa hầm thì bằng thép, nặng hàng tấn, có ổ khóa và mật mã riêng, được thay đổi định kỳ", cựu binh Hoàng Minh Duyệt kể. 

Từng cánh cửa lần lượt được mở ra. Tới cánh cửa cuối cùng, tất cả đều im lặng, tập trung cao độ để ông Huỳnh Bửu Sơn mở khoá. 

"Chúng tôi lúc đó gần như không ai động đậy, vì hồi hộp. Sau khoảng 3 giây tra khoá vào ổ, một tiếng tách bật lên, ông Sơn dùng sức đẩy toang cánh cửa rồi nói 'Mời các anh vào!'. Thật sự chúng tôi chưa từng tưởng tượng đến việc có một căn hầm đồ sộ và hoành tráng đến vậy.

Hầm rộng như một sân bóng, sáng choang, mát lạnh dù không gắn điều hoà. Vô số thùng vàng và tiền bạc xếp lớp khiến cả đoàn ai nấy đều sửng sốt, choáng ngợp", ông Duyệt nhớ lại thời khắc cửa hầm bật mở. 

Cửa hầm mở, Ban Quân quản và đơn vị tiếp quản ngân hàng bước vào. Thời khắc đơn vị mới chuẩn bị tiếp quản toàn bộ tài sản nơi mình làm việc và canh giữ, các nhân viên ngân hàng vẫn tiếp tục công việc, nghiêm túc như không hề có bất cứ sự thay đổi nào. 

16 tấn vàng

Vào hầm, ông Huỳnh Bửu Sơn tiến về các tủ sắt khổng lồ và cho biết đây là những tủ chứa vàng. Mỗi tủ sắt được trang bị hai lớp khoá, ông Sơn lần lượt mở từng tủ.

Những cánh cửa sắt lần lượt được mở toang. Hàng nghìn thỏi vàng xếp lớp trên các kệ bằng thép, có một vài kệ võng xuống theo thời gian. Có nhiều thùng gỗ cũng được đặt trong tủ, bên trong chứa vô số đồng tiền vàng cổ.Đó có là cảnh tượng mà khó ai có thể một lần thấy trong đời.

"Vì hiếu kỳ, tôi thử cầm một thoi lên thì ông Bửu Sơn cười trêu 'không nhấc được đâu, phải lấy thế'. Sau khi được ông Sơn chỉ cho cách đứng dạng hai chân, dùng sức cả hai tay, tôi mới nhấc nổi một thỏi vàng", khung cảnh 49 năm trước hiện về rõ mồn một trong ký ức của cựu binh Hoàng Minh Duyệt. 

Khó nhấc nổi cũng dễ hiểu, bởi mỗi thoi vàng lúc đó đều nặng từ 12 - 14kg. Tất cả đều là vàng nguyên chất, trên mỗi thoi được khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Từ các số hiệu, vàng được xác định có nguồn gốc từ Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), Công ty Montagu (ở Nam Phi) và Công ty Kim Thành (đúc tại Việt Nam).  

Về đồng tiền vàng, tất cả được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau. Ngoài thỏi vàng và đồng tiền vàng cổ, hầm còn có nhiều thùng chứa trang sức và giấy bạc. 

"Tôi nhớ riêng tiền mặt lúc đó là 625 tỷ đồng tiền Việt Nam Cộng hoà. Mỗi thùng ghi rõ mệnh giá, loại giấy bạc, số lượng. Mệnh giá cao nhất lúc đó là 1.000 đồng", ông Hoàng Minh Duyệt nói. 

Toàn bộ số vàng đều được bộ phận điện toán của ngân hàng theo dõi chi tiết từng đơn vị, bất cứ sự thay đổi vào về xuất hay nhập kho đều được ghi lại. Do đó, công việc kiểm kê khá đơn giản. Chỉ trong một buổi sáng, đoàn đã kiểm kê xong số lượng giấy bạc dự trữ.

Việc kiểm kê số vàng chiếm nhiều thời gian hơn vì phải kiểm kê từng thỏi để xem trọng lượng, tuổi vàng và số hiệu có khớp đúng với sổ sách hay không. 

Chỉ trong hai ngày, cuộc kiểm kê kết thúc. Số lượng tiền vàng tại thời điểm kiểm đếm khớp hoàn toàn với sổ sách của chính quyền Việt Nam Cộng hoà lưu lại. 

"16 tấn vàng. Ngoài những người cũ của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam thì con số này khiến tất cả chúng tôi kinh ngạc. Thú thật là những ngày đầu chúng tôi không hề biết trong hầm có 16 tấn vàng, chúng tôi chỉ biết đây là mục tiêu cần bảo vệ nghiêm ngặt, sẽ bàn giao - tiếp quản khi tình hình vãn hồi", ông Duyệt nói và cho biết, con số 16 tới tận bây giờ vẫn là một điều đặc biệt đối với ông. 

Việc bàn giao tài sản quốc gia cho chính quyền mới hoàn tất, ông Huỳnh Bửu Sơn và Lê Minh Khiêm cùng ký vào biên bản kiểm kê. Cựu binh Hoàng Minh Duyệt cũng không quên nhắc đến cảm xúc của chính mình khi đứng giữa bạt ngàn vàng thỏi và bạc giấy ngày ấy.

Ông nói, hơn bao giờ hết, lúc đó bản thân phải ngay thẳng, phải làm gương trước những người chế độ cũ. 

"Lúc đó chỉ nghĩ là làm sao để không mất đồng xu cắc bạc nào của Nhà nước. Với cả, mình đứng giữa các nhân viên chế độ cũ mà lại có gì không đàng hoàng thì họ sẽ khinh thường cho", ông Duyệt nói thêm. 

Sau giải phóng, đơn vị C282Q của ông Duyệt được phân bổ đi khắp nơi. Riêng ông Duyệt được điều về làm trợ lý tại Cục Chính trị Công an vũ trang, sau đó về Trường Sỹ quan Biên phòng II làm giáo vụ. Năm 1983, ông Duyệt chuyển ngành về Bộ Thương mại và nghỉ hưu. 

 SƯ ĐOÀN 7 BỘ BINH: MỘT THỜI VANG BÓNG (PHẦN II).

THIẾU TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM, TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN IV - QUÂN KHU IV,

KIÊM TƯ LỆNH SƯ ĐOÀN 7 BỘ BINH.

HƯỞNG DƯƠNG 48 TUỔI (1927 - 01/05/1975). 

VƯỜN HOA LẠC HỒNG, THUỘC THỊ XÃ MỸ THO, được xem như là QUẦN ANH HỘI của NHỮNG CHÀNG TRAI THỜI LOẠN thường "xả xú bắp" sau những cuộc hành quân, trong những buổi chiều tàn. Mặc dù, người ngợm vẫn còn lấm lem vết máu khô hoà trộn cùng bùn đất, nhưng Chiến Hữu muốn lai rai chuột đồng, lẩu rắn cùng nhấm nháp Hennessy XO ư ? Có ngay ! Hay là Chiến Hữu muốn lập Một Trận Địa khác với ... chỉ có một người bằng chính cây Colt 2 viên của mình ư ? Cũng có ngay ! Chiến Hữu sẽ được phục vụ chu đáo, tận tình, như ý, miễn sao có "xiền"!

Những chiếc xe GMC vừa dừng lại, Đại Đội của chúng tôi ùa ngay xuống, rồi kéo nhau vào những hàng, quán ven đường. Bên trong đã có nhiều sắc áo, nhưng nổi bật nhất vẫn là 2 màu, áo trận treillis và áo bông của Biệt Động Quân (BĐQ). Các Đơn Vị của chúng tôi luôn sát cánh bên nhau để Hợp Đồng Tác Chiến, trong tất cả những cuộc hành quân, nhưng bên cạnh đó, vẫn hiện diện những bất đồng do bản tính Gà Nòi của Con Nhà lính.

Bàn của chúng tôi gồm 2 Thiếu Uý, 4 Chuẩn Uý, 1 Thượng Sỹ và 1 Trung Sỹ Truyền Tin, cùng 2 Chú Gạc Đờ Co của Đại Bàng. Khởi đầu cuộc nhậu thì chưa có gì dzui, nhưng khi men đã thấm rồi thì mới dzui. Theo lệnh của Sếp Phó, những vỏ chai bia 333 không, thay vì nằm gọn gàng trong két, thì "Hai hàng dọc, đằng trước thẳng !" nối đuôi nhau vào mãi tận bên trong Nhà Bếp ! Nhân Viên Nhà Hàng dở khóc dở cười - vì Ông Lính nào cũng mang súng và lựu đạn thiệt - nên đành phải "dzui lòng" mà chiều theo. Màn dzui của chúng tôi lại làm gai mắt người khác. Một Thiếu Uý BĐQ - bảng tên trên ngực áo ghi rõ "VINH" - lên tiếng thách đấu chúng tôi. Vì đồng cấp nên Đại Bàng nhận lời. Luật chơi quy định: Thách đấu, thi gan trong 3 lần - Parties Trois - bên nào thua nhiều phải trả tiền chầu nhậu cho phe thắng cuộc. "Uýnh tù tì ra cái gì ra ... cái đó", để dành Quyền Ưu Tiên thách đấu trước. Bên thua phải thực hiện đúng lời thách đố của bên kia. Nếu làm được theo mỗi lượt, bên thua lại được Quyền Ưu Tiên thách đố. Đại Bàng uýnh tù tì thua. Thiếu Uý Vinh rút chốt an toàn 1 quả lựu đạn M-26, rồi tọng ngập trong ly cối, bia được rót đầy ngay tức khắc. Quả Lựu Đạn mà trồi lên, trồi lên từ từ, vượt qua thành ly, rồi bung thìa, là kể như Các Bà Má, Các Bà Mẹ có quyền đi nhận xác con mình chỉ qua đôi chân, vì phần trên đã bấy hết ! Tôi ngồi gần, nên lạnh toát cả sống lưng, đến nỗi tỉnh hẳn ! Đại Bàng vẫn bình tĩnh bưng ly cối bia lên uống cạn một hơi. Ly cối vừa đặt nhẹ xuống bàn, Phe Biệt Động Quân lại vội vàng nhặt quả lựu đạn, rồi cài chốt an toàn vào cẩn thận ! Đến phiên Đại Bàng dành Quyền Ưu Tiên thách đấu: thách nắm chặt một cục than lửa đỏ hồng trong một tay. Sau một hồi suy nghĩ, Thiếu Uý Vinh lắc đầu chịu thua. Nhưng "đã chịu chơi, phải chơi đến cùng", Ông lạnh lùng gắp cục than vẫn còn đang cháy hừng hực trong bếp lò của nồi lẩu và bỏ gọn vào lòng bàn tay trái của mình, rồi bóp mạnh. Mọi người nhìn Ông thán phục. Phe chúng tôi thắng, ai cũng hể hả dzui cười. Bàn được kéo lại nhập làm một. Ly chú, ly anh, rất chi là xôm tụ, nói cười rôm rả. Lúc đó, Đại Bàng mới kể. Trong khi bưng ly bia lên uống cạn bằng tay phải, tay trái của Ông đang ngấm ngầm thọc sâu vào xô đá để ướp lạnh. Cái xô được kẹp chặt giữa hai đùi.

-"ĐM ! Lạnh tu keo luôn nhưng tôi cương quyết muốn Ông sụp bẫy !".

Thiếu Uý Vinh chỉ biết cười ruồi, chấp nhận thua cuộc. Cả bọn đang nói cười rôm rả thì bỗng bên ngoài vang lên tiếng súng. Phản xạ của Con Nhà Lính bùng lên. Chụp vội súng, lật nghiêng bàn, chiếm giữ bất cứ mọi chướng ngại vật, súng chĩa tua tủa ra bên ngoài, chuẩn bị tác chiến. Nhưng không ! Bên ngoài vẫn yên ắng, chỉ vọng vào những tiếng "Đu" thật to. Liền kéo nhau ra khỏi Nhà Hàng xem. Ở 2 bên phố, Biệt Động Quân và Thiết Giáp đã dàn thành trận tuyến để sẵn sàng nã đạn vào nhau. Một Vị Tướng Quân thật uy nghi lẫm liệt - được một toán Quân Cảnh bảo vệ chung quanh - cầm khẩu Colt vừa bắn chỉ thiên vừa chửi. Chỉ vì một bất đồng nho nhỏ nào đó, 2 bên rút súng ra khè nhau và định choảng nhau. Thượng Cấp của cả 2 bên can lính của mình không được, đành phải báo cáo lên Thượng Cấp cao hơn: THIẾU TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM. Ông xuất hiện thì xem như Đất Bằng không dạy sóng ! Huề cả làng ! Đây là lần thứ 2 trong Cuộc Đời Binh Nghiệp, tôi được thấy tận mắt nhìn thấy - từ xa - 2 Vị Tướng Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong Bộ Quân Phục thật chỉnh tề. Lần thứ nhất, với tư thế nghiêm trong hàng quân, trong Buổi Lễ Mãn Khoá, tại Quân Trường Đồng Đế. Còn những lần khác, theo Bố vào Câu Lạc Bộ Huỳnh Hữu Bạc, tôi chỉ thấy mấy vị Tướng Quân trong bộ vest.

Những Quân Cảnh của Tướng Quân rất réglo (nguyên tắc). Cho dù anh là Thiếu Tá, nhưng để tóc dài quá quy định, đang măm măm trong Nhà Hàng, họ vẫn kiên nhẫn đợi cho đến khi anh ăn xong và bước ra, họ mới xốp anh đi hớt tóc, xong xuôi mới bỏ đi. Anh là Trung Tá, đang đi dạo tà tà với Người Đẹp, nhưng quần không gom ống, rất lịch sự mời anh gom xong, họ mới thôi. Họ chỉ là Trung Sỹ mà thôi.   

Anh em Sĩ Quan trong Đại Đội của chúng tôi - mỗi người mỗi nết, mười phân vẹn ... một chỉ - khi xỉn. Đại Bàng khoái cất tiếng cười gằn theo kiểu Những Võ Tướng ngày xưa (Các Bạn muốn biết cười ra sao thì nên coi phim Tàu, được đem qua Việt Nam bằng đường Lào, nên thường được gọi là "Tào Lao". Khà khà khà ...)(Phu Nhân của Đại Bàng là một Giáo Sư Toán tại Sài Gòn. Thay vì ru con bằng những tiếng "ầu ơ dí dầu ...", Bà lại hát theo điệu nhạc "2 lần 1 là 2, 2 lần 2 là 4 ..."). Sếp Phó, tay trái đưa lên xoa cằm, tay phải gãi gãi vào bao súng được đeo xệ bên nách, nếu có khẩu Colt thì móc ra bắn chỉ thiên, chẳng bắn ai, nhưng cũng làm mọi người phải lên ruột, phát hoảng. Vì thế, trước khi vô độ nhậu, Ông đưa súng cho Cận Vệ của mình giữ dùm. Chim Uyên 1 vì mới ra ràng, nên chưa dám lộ đặc điểm. Chim Uyên 2, thường vừa chạy vừa xách súng bắn, xung phong trong hàng quân mỗi khi vào trận đánh. Chim Uyên 4, với Dân Tộc Tính của Vùng Đất có Sông Hương, Núi Ngự, hay tủm tỉm cười ruồi. Còn tôi - Chim Uyên 3 - "quắc cần câu" thì cứ nằm lăn ra ngủ khò, bất kể là mình đang ở địa thế nào, chẳng lo "trời trăng mây nước". Vì thế, tôi mới tự đặt ra nguyên tắc: khi 2 bàn chân đặt thăng bằng trên mặt đất, rồi đứng thẳng người lên, nếu 2 đầu gối run run, tức là đã đến "chỉ", liền ngưng ngay lập tức. Nhờ vậy, tôi mới còn sống đến ngày hôm nay, để hầu chuyện Các Bạn. Đang lúc hành quân mà ngủ khì thì dễ bị VC đưa tiễn "Viễn Du Miền Tiên Cảnh". Nhưng say rượu tưng tưng, uýnh trận đã lắm !

Một quả đạn Cối - nếu đúng tầm sẽ lọt vào Đồn của Địa Phương Quân - đi lạc địa chỉ, rơi ngay xuống Trường Tiểu Học Cai Lậy - cách đó khoảng 500 m - trong giờ học, khiến Các Học Trò nhỏ bị chết oan thảm thương. Ngay sau đó, Một Tấm Bia Tưởng Niệm Các Nạn Nhân Vô Tội Bị VC Sát Hại được xây trước cổng Trường. VC thường có thói quen "phát huy sáng kiến - cải tiến kỹ thuật" nên đã nhờ quan thầy Trung Cộng hay Nga Sô (?) chế nòng súng cối rộng hơn của VNCH 1 ly. 60 ly => 61 ly. 80 ly => 81 ly. Nên nếu xí được những quả đạn của chúng tôi, họ có thể bắn được, nhưng làm sao quả đạn có được đường bay chính xác ? Họ cũng có sáng kiến cải tiến tiếng nổ của Đại Liên, một thùng thiếc (sắt tây) được đục thủng đáy ở vị trí trung tâm, rồi tròng vào đầu nòng súng, buộc chặt. Khi súng nổ, tiếng sẽ vang to cứ y như Đại Liên 12 ly 7, nghe "rất lạnh lùng sương gió". Đến khi Tiểu Đoàn của chúng tôi lượm được vài khẩu, mấy thằng cha nội mới chịu lộ hàng, bể mánh !     

HUY HIỆU QUÂN ĐOÀN IV - QUÂN KHU IV

(ẢNH NGUỒN: GOOGLE.COM).

"ĐẠI BÀNG ! ĐẠI BÀNG ! CHIM UYÊN 3 GỌI ! NGHE RÕ, TRẢ LỜI !"

(ẢNH: DAVID L. PHAM).

Từ giữa tháng 04/1975, Đại Đội của chúng tôi thường xuyên đi hành quân, có lúc riêng rẽ, có khi chung với cả Tiểu Đoàn. Được tôi luyện trong "lò lửa", nên tôi không còn sợ chết, nhất là câu nói của Đại Uý còn văng vẳng trong tiềm thức:

- " Biết được lý do phải chết, nên chẳng còn gì để sợ. Đời Chiến Binh được bọc Poncho là chuyện thường tình".

Bình thản và lạnh lùng mỗi lần xông trận. Trong Cõi Nhân Sinh, chẳng có một ai được chết hai lần !


Rồi Lệnh Cấm Trại 100 % được ban hành một cách nghiêm ngặt. Những tối nào không phải là Đại Đội Trực hay Trung Đội Trực, tôi có thể ngồi chóc ngóc trong hố cá nhân, hay trong hầm mà lắng nghe qua Đài Tiếng Nói Dạ Lan, 2 giọng ca của Hùng Cường và Mai Lệ Huyền:

- "Một trăm em ơi, chiều nay một trăm phần trăm. Một trăm em ơi, chiều nay một trăm phần trăm. Người yêu anh ơi, giờ đây lại cấm trại rồi. Nào đâu Nàng biết tâm tư Người Lính ...".

Hầm Trú Ẩn của chúng tôi ở đây được "sang" hơn căn hầm cũ khi ở Gò Công, một khung tôn vòm cứng làm mái che, được ken dầy trên nóc bằng những bao cát. Chốt dã ngoại vẫn được duy trì. Chiến Thuật Biển Người của VC không còn làm tôi hãi sợ như lúc đầu. Nếu ngồi trong hố cá nhân để bắn trả thì cũng có hơi run, nhưng khi:

- "ĐM ! Mày lì thì tao cũng liều ! Mày vừa chạy vừa bắn thì tao cũng vừa bắn vừa chạy, đéo ngán ! Thử coi thằng nào ngon hơn ?".

Chúng tôi vẫn có lợi thế hơn vì nhờ hoả lực mạnh và dồi dào hơn. Gà Cồ đẻ "trứng vàng" không tiếc. Chúng tôi lại bị vây khốn, lại bị đói, những bịch cơm sấy đã cạn, cơm thừa đổ đi đã lên mốc xanh, lên meo vàng, được nhặt lại, vo qua loa, rồi được cho vào nồi nấu cháo với đủ thứ hằm bà lằng. Đại Bàng thấy Thuộc Cấp sống trong hoàn cảnh khốn nạn, không cầm được nước mắt. Nhưng bên Chủ Lực Quân, chúng tôi không bị nguy khốn lâu.


25/04, tôi được lệnh dẫn Trung Đội đi hộ tống một Đoàn Công Voa, sang Căn Cứ Đồng Tâm để nhận thêm đạn về cho Tiểu Đoàn. Trong khi chờ đợi trở về, đang nhẩn nha trước cổng, tôi chợt gặp một anh bạn là Thiếu Uý Đăng - đồn trú tại Căn Cứ Hải Quân cách đó không xa. Đăng cứ úp úp mở mở, nửa đùa nửa thật rủ rê:

- "Mày có chịu xuống Tàu đi chơi dzới tụi tao không ?".

- "Tại sao dzậy ? Phải có mục gì dzui chứ, Đăng ?"

- "ĐM ! Ra Phú Quốc giăng câu. Rồi qua Mỹ luôn chứ sao ?"

- "ĐM ! Mày sạo hoài. Qua Mỹ, tao chỉ có nước chết đói ! Nghề ngỗng thì đéo có, lớn lên chỉ có mỗi một nghề bóp cò súng. Chẳng lẽ qua bển đi ăn cướp ! Tiếng Mỹ chỉ đủ đựng đầy một cái lá đa, không đủ để đi ăn xin ! ĐM ! Thôi đi mày, đừng có nói giỡn !".   

Đăng chỉ nhe răng cười khì và chẳng thổ lộ gì thêm. Chúng tôi chia tay nhau.


Trưa 26/04, một trận đánh ác liệt xảy ra giữa 2 bên, tôi đang chạy trong khi một loạt đạn bắn về phía mình, tôi ngã nhào, sờ lên gáy thì cảm nhận được một đống chèm nhẹp, kêu lên trong hoảng hốt:

- "ĐM ! Tao bị trúng đạn bể hũ chao rồi !".

Chú Cận Vệ cuống cuồng rút vội cuộn băng cá nhân, rồi quấn quanh cổ của tôi nhiều vòng. Điên cuồng, say máu, tôi vẫn hô "Xung phong !", vừa chạy vừa bắn đùng, đùng. Sáng hôm sau, Y Tá Trung Đội gỡ cuộn băng để khám, không phải là óc mà là ... một đám sình nhão vẫn còn đang bám chặt vào gáy ! 

Trung Đội được lệnh dừng chân, đóng chốt.

Phía xa xa, VC rất dạn - khác với những lần trước thì biến mất - cứ chạy qua chạy lại. Vừa nhai xong miếng cơm sấy, định đứng dậy để quan sát. Đang lom khom, tôi bỗng phát hiện một viên đạn cứ bay là là, chầm chậm về phía mình, toàn thân cứng đờ như một bức tượng thịt, mọi phản xạ đều bị tê liệt hoàn toàn, mắt mở tròn đầy khiếp sợ, miệng há hốc ! Đến khi viên đạn mồ côi đã bay hết tầm, rơi xuống. Tôi liền ngã nhào ngay xuống đất. Tôi cứ ngỡ thần kinh của mình đã được tôi luyện thành thép không rỉ. Nhưng không, lầm to !


Chiều 27 qua ngày 28/04, Gà Cồ của chúng tôi lại "được" gáy trực xạ. "Những quả trứng vàng" rít trong không khí, xé gió - từ hướng sau lưng - bay về phía mình, quả là một cực hình ! Đại Đội Trưởng liên lạc với Tiểu Đoàn Trưởng, liền nhận được câu trả lời rất chi là phũ phàng:

- "Tao cũng đéo biết !".

Vì mọi liên lạc hàng ngang đã bị cắt đứt, chỉ còn hàng dọc !


03/11/2011.

THOMAS THANH NGUYENTU.


BÀI LIÊN QUAN: 


http://thomasthanhnguyentu.blogspot.com/2012/08/su-oan-7-bo-binh-mot-thoi-vang-bong_3442.html  

Wednesday, May 1, 2024


MỦ ĐỎ TRẦN ANH TUẤN -- KHÁNH DƯƠNG NỖI BUỒN CÒN THEO.

Đã đăng trong Đặc san Mủ Đỏ Xuân Canh Dần 2010.

Bài này chưa thấy ai đọc trên YouTube.























San Jose ngày 2 May 2024
Tài Trần

 

 LÂM VĂN BÉ -

. . .
Sau khi từ chức, ông Thiệu ngày ngày đi đi lại lại qua các phòng trong dinh Độc Lập (tuy ông từchức nhưng ông vẫn còn ở trong dinh ), nghĩ đến cuộc phục hận. Ông Nguyễn Văn Kiểu, anh ông và cả em họ ông, Hoàng Đức Nhã đều khuyên ông nên ra đi, nhưng ông từ chối vì ông nghĩ là ông còn có một vai trò. Không chịu được cảnh nầy, bà Thiệu đã rời Saigon sáng 24 đi Bangkok trên một chuyến bay thương mại (Snepp, tr. 334)
TT Hương cũng muốn ông Thiệu ra khỏi nước vì sự có mặt của ông Thiệu tạo khó khăn cho ông (hay cho ý kiến) nên nhờ Martin can thiệp. Martin cũng không muốn ông Thiệu bị ám sát càng rắc rối hơn nên Martin tổ chức cho ông Thiệu rời khỏi nước. (theo Snepp, tr. 334, Trần Văn Đôn cũng khuyên TT Thiệu trưa ngày 25 là nên ra đi vì Nguyễn cao Kỳ sẽ tổ chức ám sát)
Lúc 20 giở rưởi, Polgar và tướng Timmes đón ông Thiệu ở nhà ông Khiêm trong Bộ Tổng Tham Mưu. Đoàn xe 3 chiếc gồm ông Thiệu, Khiêm và hơn 10 người khác . Martin đợi sẵn ởphi cơ để tiển đưa.
« Dù buồn thảm và cam chịu số phận, ông Thiệu đi thủng thẳng, cố giữ phong độ. Ông quay lại cám ơn ông Martin. Với giọng xúc động, Martin đáp lễ: Thưa Tổng Thống, đó là điều tối thiểu tôi có thể làm. Xin tạm biệt và chúc Ngài may mắn (Nguyễn tiến Hưng, tr. 392 và Todd tr.339).
Phi cơ trực chỉ Đài Loan (và sau đó ông và gia đình sang tị nạn ở Anh Quốc cho đến thập niên 1980 mới sang Hoa Kỳ).
Theo Hoàng Đống: « ngày 22-4, Thiệu và Khiêm được Mỹ đưa ra phi trường Tân sơn Nhất bay qua Đài Loan. Trước đó 20 ngày, gia đình, của cải của hai vị nầy đã được an toàn chuyển ra ngoại quốc» (tr. 360).
Nhiều tài liệu Anh Pháp nói đến 16 tấn hàng hóa. Theo Lý Quý Chung, thân cận của tướng Minh, ông Thiệu trốn chạy ( Chung, tr. 362).
Cùng một sự kiện, 4 tác giả thuật lại bốn cách khác nhau.
TT. Thiệu rời khỏi nước yên ổn, Martin thở phào. Ông lên xe đến dựcuộc tiếp tân ở toà đại sứ Ba Lan.
Sau đây là câu chuyện giọng nhát gừng giữa 2 ông đại sứ:
-Martin: Cộng Sản Bắc Việt có chấp nhận Dương Văn Minh không ?
– Fijalkowski (đại sứ Ba Lan): Sẽ hỏi Hà Nội. Nhưng có câu hỏi của Hà Nội: Tại sao hàng không mẫu hạm Mỹ lảng vảng ngoài khơi hải phận VN.
– Martin: phải hỏi lại Hà Nội của các anh, tại sao có dàn hỏa tiển gần Saigon. Hà Nội có muốn gây khó khăn cho Hoa kỳ trong công cuộc di tản không? (Todd, tr.340)
Về dư luận ông Thiệu ra đi với 16 tấn vàng, Snepp, nhân viên CIA tường thuật rất rõ (tr.296)
«Một tháng trước, Thiệu đã gởi qua Đài Loan và Canada một phần lớn tài sản và bàn ghế bằng tàu thủy. Nhưng tài sản của quốc gia, 16 tấn vàng trị giá 220 triệu mỹ kim, tượng trưng cho một phần lớn kho bạc của Saigon cũng sẽ đi ra nước ngoài (à expatrier). Lúc đầu, ông Thiệu dự tính gởi lén lút số vàng này vô Ngân hàng Thanh Toán Quốc Tế Bâle (Banque des règlements internationaux de Bâle) ở Thụy Sĩ, nơi mà chánh phủ đã có gởi một số vàng bảo đảm trị giá 5 triệu. Ông Thiệu nói với các cộng sự viên là gởi vàng để mua trang bị cho quân đội. Nhưng vài ngày trước khi gởi, tình báo Mỹ biết được nên tin tung ra trên báo chí, hảng hàng không mà ông Thiệu đã thương thuyết hợp đồng rút lui. Để giải tỏa mọi nghi ngờ, đại sứ Martin buộc ông Thiệu gởi số vàng nầy ở Federal Reserve Bank of New York, ông Thiệu phải đồng ý. Ngày 16 tháng 4, Martin xin Washington một chuyến bay đặc biệt, có bảo hiểm để chở số vàng nầy đi New York. Nhưng Không Lực Mỹ cũng như Ngân Hàng không chấp nhận bảo hiểm chuyên chở một món hàng trị giá quá lớn như vậy từ một nước đang có chiến tranh. Câu chuyện đang dằng co thì 2 ngày sau, ngày 18 tháng tư, 16 sư đoàn Cộng Sản đang hướng về Saigon, chuyện chở vàng bị quên đi và 16 tấn vàng vẫn ngủ yên trong Ngân Hàng Quốc Gia»
Đến ngày 25, sau khi giải quyết vấn đề bảo hiểm, vàng được đưa lên phi cơ để chở đi New York, nhưng giờ chót bị Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Hảo (nội các Nguyễn Bá Cẩn) chận lại nói là theo lịnh của TT Hương chờ cho tân nội các được thành lập. Số vàng nầy vẫn còn nằm trong phi cơ đậu ở phi trường khi quân CS tiến chiếm Saigon. Cũng theo Snepp, tuy không hẳn là theo CS, Nguyễn Văn Hảo đã được CS móc nối hồi đầu tháng tư là sẽ được chế độ mới đối xử tốt nếu bảo vệ kho bạc VNCH. (Snepp. tr.328).
Chuyện ông Thiệu muốn tẩu tán vàng là một tin đồn, nhưng chuyện vàng bị các lãnh tụ đỏ sau nầy bu vào đục khoét là chuyện thực !
-Ngày 26: Lúc 10 giờ sáng, TT Hương đến hợp với lưỡng viện Quốc hội để được báo cáo tình hình quân sự và quyết định người thay thế ông Hương. Có 183 trên 219 người đến tham dự (Darcourt) nhưng theo Lý quý Chung thì chỉ có 136 vì nhiều người đã chuồn ra nước ngoài (LQC, tr.366).
Trong diễn văn, ông Hương không gọi đích danh Dương Văn Minh mà gọi là «người ấy» (cette personne):
« Trước hết tôi đã đề nghị với người ấy chức vụ Thủ Tướng với đầy đủ quyền hành. Ông ta đã từ chối. Tôi đã phải mời ông ta đến gặp tôi tại dinh Độc Lập, ông ta cũng từ chối. Với thiện chí muốn giải quyết vấn đề, tôi không kể nghi thức và mặc dầu tuổi già sức yếu, tôi phải chấp nhận đến nhà một người bạn chung để gặp người ấy. Tôi đề nghị với người ấy chức vụ Phó Tổng Thống, nhưng một lần nữa, chẳng những người ấy từ chối mà còn nói với tôi là: Phải có tất cả không thì thôi, có nghĩa là chỉ có Tổng Thống. Tôi lưu ý làm như vậy là vi hiến, ông ta trả lời rằng: đó không phải là việc của ông ta. Sau đó tôi có đặt cho ông ta một câu hỏi: Có gì bảo đảm là phía bên kia chấp thuận thương thuyết với ông thì ông ta trả lời ngắn gọn là: Tôi đã nhận được từ phía bên kia những cam kết cần thiết để làm tròn vai trò.
Mặc dù tôi nhấn mạnh nhưng ông ấy không có thêm một lời giải thích nào khác ngoài những lời úp mở mà tôi không tin vào những lời đó. Tôi sẽ không bao giờ muốn chịu trách nhiệm về việc trao quyền một cách bất hợp hiến, vì vậy, hôm nay, tôi yêu cầu quý vị hãy trao quyền hành pháp lại cho người ấy bằng lá phiếu hợp pháp của lưỡng viện Quốc hội. Đó là phương thức duy nhất vừa để cứu Saigon khỏi bị một thảm họa mà không làm mất thể diện của quốc gia và chế độ.»
Tuy nhiên,theo bài viết của GS Nguyễn Ngọc An, cựu Tổng Trưởng Thông Tin Chiêu hồi trong nội các Trần Văn Hương ghi âm lại, đăng trong Đặc San Pétrus Ký 1966, thì T/T Trần Văn Hương đề cập đích danh tên Dương Văn Minh:
«…Với ý nghĩa đó, nghĩa là ý nghĩ thương thuyết, tôi đã ra công dò xét tìm bên này, tìm bên nọ, hỏi thăm dò ý kiến mọi nơi. Tới bữa nay cũng nói với quý vị là tôi có dịp đã gặp được Đại tướng Dương Văn Minh, bởi vì theo lời một số người, thì Đại tướng Dương Văn Minh có đủ điều kiện làm việc này. Trong các cuộc gặp gỡ, trong một tư thất của một người bạn chung – bởi vì họp mặt tôi muốn tránh tiếng trước, không thể mời Đại tướng đến Dinh Độc Lập nói chuyện. Một mặt tôi cũng không thể tự mình tới nhà Đại tướng mà nói chuyện. Cho nên chúng tôi đã cùng nhau đến nhà một người bạn chung
– Sau khi nói chuyện, tôi nói rằng: “Theo dư luận, một số người nói rằng Anh – xin lỗi, bởi vì giữa Đại tướng với tôi cũng còn cái thâm tình nhiều – người ta bảo rằng Anh có đủ điều kiện để thương thuyết, vậy thì xin Anh vì nước nhà, mọi tỵ hiềm qua, mọi chuyện không tốt đẹp đã xảy ra, xin Anh vui lòng xóa bỏ để cùng nhau chung lưng dựng nước. Xin Anh chấp nhận cái ghế Thủ tướng để đứng ra thương thuyết với phía bên kia.” Đại tướng, lẽ cố nhiên đối với tôi lúc nào cũng giữ thái độ chẳng những là người bạn thân mà giữ cả thái độ, xin lỗi, như thể một người học trò của tôi vậy, mặc dù Đại tướng không phải là học trò của tôi, Đại tướng nói: “Thầy đã hy sinh đến mức này, thôi xin thầy ráng hy sinh một bước nữa mà thầy trao trọn quyền cho tôi.” Nghĩa là trao cái quyền tổng thống cho Đại tướng…»
Nếu bài viết của Nguyễn ngọc An là trung thực, sự khác biệt các tài liệu ngoại ngữ viết về VN lại còn phát xuất bởi sự diễn dịch và phiên dịch của tác giả ngoại quốc và tác giả người Việt.
Sau khi TT Hương rời trụ sở Thượng Viện, cuộc thảo luận kéo dài từ 14 giờ đến 22 giờ mà kết quả là đi đến một quyết nghị lửng lơ: Quốc Hội nhìn nhận TT Hương có đầy đủ tư cách để chọn người thay thế ông. Người nầy sẽ được ủy nhiệm để xúc tiến cuộc thương thuyết. Tên của Dương Văn Minh không được ghi trong bản quyết nghị này (Darcourt, p.151).
Nhưng theo Lý Quý Chung, trong Hồi ký của ông thì hoàn toàn khác: «Cuộc biểu quyết truất quyền ông Hương và trao quyền cho ông Minh được thực hiện với số phiếu gần như tuyệt đối 147/151 vào lúc 20giờ 54… Tôi nhớ rất rõ không khí tại trụ sở Thượng Viện trước và sau biểu quyết. Kẻ thì chán nản như người sắp chết đuối là các dân biểu nghị sĩ thuộc phe Thiệu, còn những người phe Dương Văn Minh thì hấp tấp, vội vã như sợ không bắt kịp cơ hội cuối cùng »(LQC, tr.367, 368).
Theo ông Đôn, cũng trong Hồi Ký thì «đa số nghị sĩ dân biểu nghiêng về biện pháp trao quyền cho ông Hương chỉ định Thủ Tướng toàn quyền vì cho rằng ông Minh xem thường Quốc Hội» và sau đó ông Hương gọi điện thoại với ông và nói:«tôi sẽ chỉ định anh làm Thủ tướng» (Đôn, tr. 468,469)
Trong khi lưỡng viện Quốc Hội đang họp, lúc 12 giờ, Võ đông Giang, đại diện cho Mặt Trận trong Ủy Hội Kiểm soát ở Camps Davis (Tân Sơn Nhứt) tuyên bố: Đạo quân chúng tôi tiếp tục tiến công, không có ngưng bắn.
– Ngày 27 tháng tư:
*4 giờ sáng, nhiều tràng hỏa tiển bắn vào Saigon: thiệt hại: 9 người chết, 36 bị thương, những đám cháy nhà cửa và hảng xưởng khiến 2000 người không nơi cư trú.
* 12 giờ: TT Hương gởi văn thư hỏa tốc cho Chủ tịch Thượng Viện: Theo hiến pháp Quốc Hội phải ra quyết nghị người thay thế tôi rõ ràng.
* 15 giờ: «Đại sứ Pháp điện thoại cho tôi [Đôn] biết: 6 giờ chiều nầy nếu không có gì thay đổi thì Hà Nội sẽ pháo kích vào Saigon bằng súng cối 130 ly có tầm bắn xa 30 km» (Đôn, tr.471)
* 19 giờ:Trước khi dân biểu nghị sĩ bắt đầu thảo luận, tướng Trần Văn Đôn, xử lý thường vụ Tổng Trưởng Quốc phòng (nội các NBCẩn) thuyết trình tình hình quân sự:
«14 sư đoàn Bắc Việt được trang bị võ khí hùng hậu đang bao vây Saigon. Biệt kích và đặc công đã xâm nhập vòng đai. Không quân của ta đã hành quân liên tục từ nhiều ngày qua nên các phi công và phi cơ đã quá sức chịu đựng, ngoài ra còn bị thiệt hại khá nặng bởi phòng không của địch. Căn cứ Không quân Biên Hòa gần như đã bị tê liệt vì pháo lực của CS. Trong vài ngày, cũng có thể trong vài giờ, có thể Saigon sẽ bị tàn phá bởi đạn pháo 130 ly tầm xa của CS. Nhứt định ta phải thương thuyết với họ để ngưng bắn càng sớm càng tốt»
Các dân biểu nghị sĩ la ó, phản đối tướng Đôn: Đồ hèn nhát, chủ bại, bị bán đứng rồi, Tướng phòng ngủ. Tướng Đôn và các quân nhân tháp tùng rời phòng hợp trong nhục nhả (Darcourt, p.154).
Hồi ký của tướng Đôn không đề cập gì đến sự kiện nầy.
Sau 4 giờ thảo luận sôi nổi, Quốc Hội biểu quyết chấp thuận cử tướng Minh thay thế TT Hương trong chức vụ Tổng Thống. (120 phiếu thuận, 32 phiếu chống, 20 phiếu trắng theo Darcourt ; 136 phiếu thuận, 2 phiếu trắng theo Todd.
Trong lúc đó, chuyến máy bay do Polgar tổ chức chở Nguyễn Bá Cẩn, Nguyễn Khắc Bình, Hoàng Đức Nhã và một số nhân vật đi Phi luật Tân.
Quốc Hội biểu quyết chấp thuận cử tướng Minh thay thế TT Hương trong chức vụ Tổng Thống. (AP Photo/Errington)
*20 giờ, con đường nối liền Saigon-Biên Hòa bị cắt đứt, 700 quân nhân của Sư đoàn 18 bị mất liên lạc và quốc lộ số 4 nối với miền Tây cũng bị gián đoạn ở nhiều nơi. Saigon trở nên cô lập như một hòn đảo.
Trong khi đó, cuộc di tản tuy chậm, nhưng diễn tiến trong trật tự . Đến 12 giờ trưa ngày 27 đã có 35.245 người đã được Mỹ bốc đi. Các tòa đại sứ, trừ tòa đại sứ Pháp, cũng bắt đầu đóng cửa và di tản nhân viên bằng đường hàng không.
Ngày 27 cũng là ngày Bắc Việt đổi ý về chiến lược. Theo đại sứ Martin, tuy là hồi tháng ba, ông đã có tin tình báo là Hà Nội đã quyết định đi tới một chiến thắng hoàn toàn bằng quân sự, nhưng những tin tức khác tử Mặt Trận giải phóng ở Paris cũng cho biết là họ cũng muốn có một giải pháp chính trị, và Martin cũng suy luận là CS dùng giải pháp chính trị để có thể tiếp tục được viện trợ của quốc tế khi chiến tranh chấm dứt. Nhưng không hiểu vì lý do gì, theo Martin thì đêm 27 tháng 4, CS đã dứt khoát chọn chỉ giải pháp quân sự ( Martin Graham. Vietnamese evacuation: testimony of Ambassador Graham Martin. International relations, January 27, 1976 , p. 609, trích dẫn bởi Nguyển Tiến Hưng, tr.391).
3.Phần kết
-Ngày 28
Saigon đã thật sự hấp hối. Tân Sơn Nhứt bị pháo kích, người di tản ố ạt đến tòa đại sứ Mỹ tràn ngập sân sau, trèo tường, song sắt để xin được di tản. Từ sớm tinh sương, trực thăng của hảng Air America đáp xuống nóc tòa đại sứ để tiếp tục đưa các chánh khách và tướng tá VN đến Tân sơn Nhứt hay ra hạm đội, trong số có Cao Văn Viên.
Trong khi lực lượng Cộng Sản đang tiến về Saigon từ nhiều hướng, thì « tại tư dinh ở số 3 Trấn Quý Cáp, suốt buổi sáng, Dương Văn Minh vùi đầu vào việc chọn lựa các nhân vật thất sũng trong chánh giới Saigon để tìm người cho nội các. Các ứng cử viên lần lượt đến tư dinh ông để xin chức, ông lạnh lùng tiếp đón, gật đầu chào rồi bảo họ ra vườn lan ngoài sau mà chờ. Nhưng ông không bằng lòng các ứng viên bởi lẽ người này là diều hâu, người kia là bồ câu, nên sau cùng ông chọn trình diện nội các với 3 người»(Snepp 355)
Lúc 17 giờ, lễ bàn giao giữa TT Trần Văn Hương và Dương Văn Minh diễn ra tại dinh Độc Lập với các ông Nguyễn Văn Huyền Phó Tổng thống, Vũ Văn Mẫu ThủTướng.
« Khi tân TT Dương Văn Minh vừa bắt đầu bài diễn văn nhậm chức của mình thì sét đánh ầm ầm, một trận mưa to chưa có trong nhiều năm ập xuống Saigon, thậm chí quan khách dự lễ không nghe được ông Minh nói gì. Cái không khí chung của buổi lễ nhậm chức thật buồn não» (LQC tr.354).
Ông Minh tuyên bố muốn điều đình với chánh phủ Mặt Trận Giải Phóng Giải Phóng và chánh phủ miền Bắc trên căn bản hiệp định Paris và một cuộc ngưng bắn.
Ông Minh chấm dứt diễn văn lúc 17giờ 48 phút. Một giờ sau, đài phát thanh Mặt Trận Giải Phóng lên tiếng:«Sau sự ra đi của tên phản quốc Nguyễn Văn Thiệu , những tên thay thế như Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền và Vũ văn Mẫu muốn duy trì chiến tranh để kéo dài chế độ chư hầu của Mỹ. Nhưng chúng chẳng lừa được ai và quân đội giải phóng chỉ chấp nhận một cuộc ngưng bắn với hai điều kiện: ngụy quân Saigon buông súng và hạm đội Mỹ rời khỏi hải phận miền Nam VN.Các binh sĩ nào còn nghe lịnh của Mỹ Ngụy sẽ bị trừng trị đích đáng để làm gương» (Todd, 355)
Khi ông Minh và đoàn tùy tùng từ Dinh Độc Lập trở về «dinh Hoa Lan» (nhà của DVM) thì nghe vang lên những tiếng nổ rung chuyển cả Saigon. Năm phản lực cơA-37 mà quân CS vừa mới chiếm được xuất phát từ Nha Trang, dưới sự chỉ huy của Trung úy Nguyễn Thành Trung oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhứt và vùng Hốc Môn. Tại Paris. tổng trưởng ngoại giao Pháp tiếp đại sứ Bắc Việt Võ văn Sung và đại diện Mặt Trận Phạm Văn Ba để bày tỏ sự ngạc nhiên về sự trở mặt của Cộng Sản. Vai trò trung gian mà Pháp nghĩ rằng mình có thể đóng góp trong cuộc giàn xếp chính trị vào giờ thứ 25 của cuộc chiến đã hoàn toàn thất bại.
-Ngày 29 tháng tư
Saigon hôm nay bắt đầu thực sự đi vào cơn hỗn loạn.
*Từ 4 giờ sáng, đại bác của CS bắn vào bộ chỉ huy của Tổng Tham Mưu ở Tân Sơn Nhứt và bộ tư lệnh hải quân. Nhiều kho súng và kho săng bốc cháy, bùng nổ.
* 6 giờ sáng, Văn tiến Dũng ở Bến Cát nhận lời khen ngợi của Bộ Chính trị ở Hà Nội và yêu cầu Dũng tiến quân thần tốc.
*10 giờ sáng, đài phát thanh Saigon đọc bức thư của Dương Văn Minh gởi cho Martin:
«Tôi trân trọng yêu cầu ông đại sứ vui lòng ra chỉ thị cho các nhân viên cơ quan tùy viên quân sự DAO rời khỏi VN trong 24 giờ đồng hồ kể từ ngày 29 tháng 4, 1975 để vấn đề hoà bình của VN sớm được giải quyết» (Todd p. 362).
Bình luận về ông Minh, Kissinger đã viết:« Ông Minh làm Tổng Thống không tới 72 giờ, chỉ đủ làm được hai việc quan trọng: một là yêu cầu Hà Nội ngưng chiến và thương thuyết chính trị, điều mà Hà Nội đã từ chối thẳng thừng, và hai là ngày 29 tháng tư, ông yêu cầu tất cả người Mỹ rút ra khỏi VN 24 giờ. Bức thư này phù hợp với lịch trình rút lui của chúng tôi, nó đã thực sự giúp cho chúng tôi tháo ra mà không bị chỉ trích là Mỹ đã bỏ rơi đồng minh của mình» ( Hưng, tr.393).
Ông Hoàng ngọc Thành tiết lộ một chi tiết «ly kỳ» hơn: Tòa đại sứ Mỹ soạn một văn thư cho tuớng Minh yêu cầu người Mỹ rút đi trong vòng 24 giờ và bảo cho đọc trên đài phát thanh Saigon. Dương Văn Minh kể cho bà con và bạn hữu biết là ông đã làm như đại sứ Graham Martin bảo (Thành,tr. 568).
Nếu quả tình sự việc như vậy, VN đã đến hồi mạt vận vì một nhân vật luôn có mặt trong những cơn khủng hoảng chính trị lớn, chỉ vì muốn làm tổng thống mà hạ mình nhận lệnh của Pháp và của Mỹ.
Trong khi đó, Saigon bắt đầu một cuộc hỗn loạn không tả được. Từng đoàn người tràn vào chiếm kho hàng ở Tân Cảng, súng đạn tủa ra khắp nơi, người ta đạp trên xác chết quân sĩ và đặc công.
Thành phố không còn có chỉ huy: D V Minh đã cách chức tướng Bình, 60 000 cảnh sát và 10 000 cảnh sát dã chiến không biết nghe lịnh ai, quân đội cũng thay đổi tham mưu trưởng 3 lần trong 24 giờ: hôm kia là Cao Văn Viên, nhưng ông đã ra đi cùng với tham mưu phó, hôm qua là tướng Nguyễn Văn Minh và Vĩnh Lộc, nhưng mỗi người chỉ có vài giờ rồi cũng bỏ đi cùng với Chung Tấn Cang, Mai Hữu Xuân, Nguyễn cao Kỳ , Ngô Quang Trưởng, nói chung có 60 vị tướng lãnh.(Darcourt)
Theo tài liệu lưu giữ tại BảoTàng Viện ở San Jose thì vào thời điểm tháng 4-1975, VNCH có 112 tướng lãnh, 80 tướng đã rời VN vào cuối tháng 4.
Trường hợp của Đặng Văn Quang thì bi đát và nhục nhã hơn. Pierre Darcourt đã kể:
«Một cảnh tượng bi đát đã xảy ra ở cổng tòa đại sứ. Tướng Đặng Văn Quang mà nhiều người tố cáo là đứng đầu đường dây buôn lậu ở VN lại không có tên trong danh sách di tản của người Mỹ. Binh sĩ gác cổng đuổi ông đi. Ông phải chạy lại van nài nghị sĩ Nguyễn Văn Ngải giúp ông xin trực thăng bốc đi. Có ai ngờ, một ông cựu cố vấn quân sự của Tổng Thống, ngạo mạn kiêu căng, tác oai tác phúc ở dinh Độc Lập suốt mấy năm trời thì nay chỉ là một đống mỡ run rẩy vì sợ sệt. Ông ta hết quỳ lạy cầu khẩn rồi viện dẫn mạng sống của vợ con và của chính ông vì sẽ bị CS giết. Động lòng, nghị sĩ đưa ông ta cùng đi chung nhưng không nói tên ông ta là ai….» (Darcourt,194 ). Theo Snepp, thì Quang nhờ sự giúp đỡ của Polgar dù nhiều nhân viên CIA không muốn thấy mặt Quang ví Quang đã được CIA trả lương mà đã phản bội không báo cho CIA biết kế họach rút quân của TT Thiệu. Trong cơn hốt hoảng, Quang bỏ quên đứa con trai cùng đi với ông ở ngoài hàng rào sắt của tòa đại sứ. (tr.392)
Trường hợp của Trần Văn Đôn thì lại rất tàn nhẫn với thuộc cấp. Trước khi hối hả leo lên trực thăng cùng với con trai là một bác sĩ, ông Đôn nói với đoàn tùy tùng: « các anh ở lại, các anh không có chức vụ, không có gì nguy hiểm». Những quân nhân nầy vừa đau khổ, vừa khinh bỉ nhìn theo chiếc trực thăng cất cánh. (Darcourt, p. 194)
Lartéguy châm biếm: «Hôm qua là Phó thủ tướng, múa may, tưởng có thể thay thế Minh, bi đát hóa tình hình để đẩy Hương đi. Hôm nay, hối hả bỏ chạy, không thông báo cho cả viên đại tá chánh văn phòng khiến ông này sau đó tự tử .Ông Đôn chỉ là kẻ thừa hành của chánh phủ Pháp.» (Lartéguy , p.129)
Trong khi đó, cuộc di tản đang đến hồi lên cơn sốt.
*10 giờ 40: từ phi trường Tân Sơn Nhứt, tướng Homer Smith, chỉ huy trưởng DAO điện đàm với đô đốc Noël Gayler, tư lịnh lực lượng Mỹ vùng Thái Bình Dương ở Honolulu là phi trường TSN không còn sử dụng được cho cho phi cơ C-130 nữa. Bộ Quốc Phòng ra lệnh cho Gayler áp dụng «Giải pháp số 4» tức di tản bằng trực thăng.
* 12 giờ 30: 36 trực thăng vận tải khổng lồ được yểm trợ bởi các trực thăng chiến đấu Cobra rời hàng không mẫu hạm Hancock.
* 15 giờ: Thủy quân lục chiến thiết lập 3 bãi đáp trực thăng ở khu quân sự trong sân bay TSN.
Có 3000 người chờ đợi di tản. Trên không phận Saigon, trực thăng của Đệ Thất hạm đội, của CIA, của Air America bay rà rà trên nóc các cao ốc tụ điểm, lên xuống phi trường được phi cơ chiến đấu Phantom sẵn sàng can thiệp khi cần thiết. Lực lượng hải lục không quân được huy động như chưa bao giờ có sau trận đổ bộ Dunkerque năm 1940.
* Buổi chiều, trước cửa tòa đại sứ Mỹ có độ 20 000 người chen chúc nhau, hàng ngàn người đổ về bến Bạch Đằng để tìm bất cứ phương tiện nào bằng đường biển, xe cộ vật liệu vất bừa bãi trên đường phố, người dân nhốn nháo, thất thần. Martin áp dụng phương thức di tản người Việt: người đến trước, được di tản trước (premier arrivé, premier servi). Đây là dịp cho các người Mỹ làm tiền các nhà giàu người Việt bằng cách mạo nhận là thân nhân để đưa đi, bán thẻ lên tàu của nhân viên dưới quyền cho người Việt chịu mua với giá từ 5000 đến 10 000 mỹ kim. «Tướng Cao Hảo Hớn, cố vấn TT Thiệu thay vì phân phối 50 thẻ di tản cho bộ tham mưu, đem bán mỗi vé 1000 mỹ kim» (Terzani, p.61)
* 10 giờ đêm (10 giờ sáng Washington): báo cáo từ Saigon về Ngũ Giác Đài cho biết cuộc di tản người Mỹ ở Cần Thơ và ở Vũng Tàu tốt đẹp, trong lúc ở Saigon hỗn loạn.
– Schlesinger điện cho Martin: còn 400 nhân viên tòa đại sứ phải di tản hết và gấp rút.
– Martin trả lời giọng giận dữ: Hãy chỉ cho tôi phương pháp ép những người Mỹ ra đi khi phải bỏ vợ con ở lại [vợ VN và con lai Mỹ]. Đã 4 giờ rồi, tôi đã báo cho Gayler biết là tôi cần 30 phi vụ CH-53, [chở được 50 người, chen chúc được 70] mà bây giờ tôi chỉ có một CH-46 [nhỏ hơn]
Một giờ sau, từ tòa Bạch Ốc, Don Rumsfield yêu cầu Martin di tản 150 nhân viên IBM còn kẹt ở Saigon. Martin lồng lộn: Hãy cút đi, để cho tôi yên ! Trong lúc đó, hải quân lục chiến hối hả tiêu hủy hồ sơ, các trang bị máy móc mà người Mỹ đã trang bị hùng hậu từ 10 năm qua (chỉ hồ sơ của CIA là 14 tấn).
*12 gìờ đêm: Martin điện cho Gayler: Chẳng nhận được gì 20 phút qua, chắc tôi phải ở lại đây ngày 30 tháng tư. Và điện cho Kissinger, Martin trêu cợt: Nếu không suôn sẻ, tôi sẽ qua tòa đại sứ Pháp xin tá túc, và chắc tôi sẽ được ngủ trong phòng của bà Mérillon, và hi vọng bà còn ở đó chớ không ở Paris» (Todd p. 378)
-Ngày 30 tháng tư
*2giờ 30 sáng, tại tòa đại sứ còn 1.000 người Việt, 53 nhân viên dân sự và 173 thủy quân lục chiến, trong khi ở phi trường TSN còn độ 2000.
* 3 giờ 45: Martin nhìn đám người trong sân và tuyên bố: những trực thăng đáp trên nóc tòa đại sứ chỉ dành cho người Mỹ.
* 4 giờ 42: chiếc trực thăng mang tên Lady Ace 9 đáp xuống nóc. Viên phi công trình lệnh của Tổng Thống: Martin phải lên phi cơ. Nếu Martin không tuân lệnh, viên phi công còn có một lệnh khác của Gayler, tư lịnh Mỹ vùng Thái Bình Dương là áp giải Martin.
Bước xuống HKMH Blue Ridge Đại sứ Martin trong một tâm trạng chán nản và mệt mỏi
Theo Darcourt, Đại sứ Martin đánh giá cuộc di tản không ra gì, muốn ở lại và chết ở đó. Với một tâm trạng rối loạn, mệt mõi (ông đã thức suốt 72 giờ liền), ông đáp xuống hàng không mẫu hạm Blue Ridge, vào phòng đóng cửa lại để không ai thấy nỗi thất vọng của ông.
* 7 giờ 53: chiếc trực thăng cuối cùng chở những binh sĩ cuối cùng (thực ra còn 2 xác thủy quân lục chiến ở Tân Sơn Nhứt), yểm trợ bằng 6 trực thăng võ trang Cobra rời tòa đại sứ. Họ ném hơi cay trên đầu 420 người Việt còn đứng chờ bàng hoàng, ngơ ngác.
Lá cờ Mỹ đã cuốn đi mang theo nỗi thất vọng, cay đắng, oán hờn, sung sướng, của người Việt bắt đầu một trang sử mới.
*8 giờ sáng, tại dinh Phủ Thủ Tướng, ông Dương Văn Minh họp cùng các nhân vật quan trọng của nội các mới như Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu để trình bày tình hình quân sự và chính trị đã đến hồi tuyệt vọng, cuộc thương thuyết với chánh phủ Mặt Trận Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam và Hà Nội, qua trung gian của Pháp kể như không có trong khi thành phố Saigon đã hỗn loạn cực kỳ.
«Nhiều toán quân sĩ VNCH lang thang trong thành phố, họ vứt bỏ vũ khí, quân phục. Bọn cướp bóc tràn ngập trong thành phố, súng bắn loạn xạ» (Todd, p.390).
* 9g30: sau phiên họp, nội các Dương Văn Minh đến dinh Độc Lập dự định theo chương trình để bàn giao với Nguyễn Văn Hảo, Phó Thủ tướng trong nội các Nguyễn Bá Cẩn, nhưng cuộc bàn giao không xảy ra mà họ chờ quân giải phóng đến.
*11g30: «tiếng chân người vang dội trong đại sảnh, có cả tiếng khua vũ khí và tiếng đạn lên nòng. Rồi tiếng hô từ phía đại sảnh: Mọi người đi ra khỏi phòng… Người bước ra khỏi phòng trước tiên là tổng thống DVM… Có tiếng hô to: Mọi người giơ hai tay lên. Ông Minh, ông Mẫu và tôi cùng mọi người đi sau đều nhất loạt giơ tay…Một người bộ đội cấp chỉ huy nói với ông Minh: Anh hãy viết một bản tuyên bố đầu hàng. Ông Minh trả lời rằng sáng nay ông đã có một tuyên bố trao quyền rồi. Viên chỉ huy nói: Anh chẳng có gì để trao. Anh chỉ có thể tuyên bố đầu hàng…Ông Minh vẫn đứng yên lặng.
Fall of Saigon
Viên chỉ huy yêu cầu ông Minh đi đến đài phát thanh để thảo và đọc bản tuyên bố đầu hàng…Trước khi rời dinh Độc Lập đến đài phát thanh, ông Minh nói với vị chỉ huy bộ đội: Vợ tôi vẫn ở đây. Xin các anh bảo đảm an ninh giùm. Viên chỉ huy đáp: Anh hãy yên tâm…Ông Minh và ông Mẫu được đưa đến đài phát thanh Saigon trên chiếc xe Jeep của bộ đội…Bản tuyên bố đầu hàng do chính trị viên Bùi Văn Tùng thảo. Ông Minh đọc và đài phát lúc 13 giờ 30…» (LQC, tr.410-412).
Trần Văn Đôn thuật dựa vào những điều nghe biết sau 30 tháng tư (vì ông đã ra đi): «Sau đó họ mời ông Minh, ông Mẫu và một người nữa lên xe jeep đi. Sau này tôi biết họ chở lại gặp tướng Trần Văn Trà. Tướng Trà nói: Tôi mời mấy ông về đây để uống trà với tôi. Tôi là Trà đây. Chiến tranh đã kết thúc rồi. Không có ai thắng ai bại» (Đôn, tr. 485). Và cũng với luận điệu ấy, Đôn đã viết: «Ai cứu dân chúng Saigon khỏi đổ máu. Không phải Kissinger, không phải đại sứ Mỹ, không phải đại sứ Pháp. Saigon không đổ máu là nhờ Dương Văn Minh».
Pierre Darcourt kể lại với nhiều chi tiết sống sượng hơn:
«Đúng 12 giờ 10 phút, ba chiếc xe tăng T54 cán dẹp những hàng rào cản sơn màu trắng đỏ bao quanh dinh Độc Lập. Họ bắn chỉ thiên một tràng dài, ủi sập cánh cổng lớn, cán lên trên rồi tiến thẳng vào dinh Độc Lập, cày bừa lên các bãi cỏ trong sân. Hai chiếc xe Jeep và một chiếc xe vận tải chạy đến, qua mặt các chiến xa. Tất cả mang cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miên Nam…
Vị sĩ quan cao cấp được 4,5 lính CS hộ tống ập vô đại sảnh, nơi mà tướng Dương Văn Minh đang hội họp với các người thân cận của ông ta. Thấy vị sĩ quan đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, Tướng Minh tưởng rằng mình đứng trước một sĩ quan cao cấp nên nói:
– Thưa quan sáu (nguyên văn: mon général ong sau), tôi đã chờ ông từ sáng để trao quyền cho ông.
– Mầy (nguyên tác: tu, có thể dịch là anh, nhưng mày có lẽ đúng hơn trong hoàn cảnh nầy) dám nói là trao quyền à. Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một tên bù nhìn. Mầy chẳng có quyền nào để trao cho tao cả. Chúng tao đạt được quyền bằng khẩu súng trong tay. Tao nói cho mày rõ là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chính trị. Và kể từ bây giờ, tao cấm mầy không được ngồi xuống. Gương mặt tướng Minh co rúm lại. Giọng nói hung bạo và khinh miệt của người sĩ quan khiến ông Minh hiểu rõ là ông đang đứng trước mặt một sĩ quan miền Bắc (nguyên tác: Tonkinois) chớ không phải là người Mặt Trận miền Nam. Tướng Minh cố giữ bình tỉnh và nhẹ nhàng nói:
– Chúng tôi đã có làm sẵn một bữa cơm để tiếp các ông. Có yến, súp măng cua.
Viên trung tá xẳng giọng
– Tụi bây đang ở trong tình trạng bị bắt. Hãy giữ thức ăn tư sản cho tụi bây. Chúng tao sẽ cho tụi bây ăn cơm dã chiến, một nắm cơm vắt và một hôp thịt mặn.
Tất cả các tổng trưởng hiện diện đều bị khám xét và bị bắt giam trong một phòng. Dinh Độc Lập bị tràn ngập bởi phóng viên báo chí» (Darcourt, p.209).
*Lúc 16 giờ 30, tướng Minh được rời khỏi phòng giam lỏng ở tầng dưới dinh Độc Lập. Một phóng viên của nhật báo Quân đội giài phóng hỏi ông
– Ông nghĩ sao về những biến cố mà ông vừa trải qua?
Ông Minh ngập ngừng giây lát rồi trả lời với ngôn ngữ tuyên truyền mà CS thường sử dụng:
– « Chúng tôi đã nhận thức được sức mạnh của Chánh phủ cách mạng lâm thời và của quân đội giải phóng. Các đơn vị thiết giáp của quân giải phóng thực hùng mạnh, quân đội Saigon không thể nào đương cự được, chỉ còn có việc đầu hàng không điều kiện mà thôi…
Chúng tôi tin tưởng các ông, nếu không thì chúng tôi đâu có đem cả gia đình chúng tôi đến đây để đón các ông. Các ông đã đạt được chiến thắng một cách nhanh chóng, chúng tôi vô cùng sung sướng. Chúng tôi và gia đình chúng tôi bình yên, thật là may mắn » (Darcourt, tr. 213)
Và sau đó, các nhân vật trong nội các cuối cùng của VNCH cũng lưu hậu thế với những câu nói bất hủ.
* Ông Nguyễn Văn Huyền thì dè dặt hơn: «Chúng tôi không chấp nhận cuộc di tản. Là người VN, mình phải ở lại sống trên quê hương mình chớ»
* Ông Vũ văn Mẫu thì hớn hở, nhảy nhót: «Các anh đánh hay lắm. Tôi rất sung sướng đã đuổi được người Mỹ ra đi. Bây giờ thì chúng ta với chúng ta mà thôi. Sau khi nhắc lại quê ông ở quận Thường Tín, phía Nam Hà Nội và chuyện ông cạo đầu phản đối ông Diệm, ông nói: Kể từ hôm nay thì tôi sẽ để tóc lại được rồi»
* Ông Nguyễn Văn Hảo đưa tay lên và nói lớn:«Các anh thật đáng phục vì đã đánh bại được nước Mỹ, chúng tôi hi vọng là tài nguyên của đất nước sẽ được sửdụng để xây dựng đất nước chúng ta». (Darcourt, tr.213)
Trong khi các chánh khách 30 của VNCH đầu hàng CS và tranh nhau nịnh bợ chánh quyền mới, trên khắp các nẽo đường đất nước, quân nhân các cấp phẩn uất, nhiều tướng tá tử tiết thay vì đầu hàng. Chỉ cần đan kể một vài anh hùng liệt sĩ: các tướng Nguyễn Khoa Nam, Phạm văn Phú, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần văn Hai…
Trong lịch sử chiến tranh, không có cuộc chiến nào để lại một khối lượng sử liệu khổng lồ, đa dạng và phức tạp như chiến tranh VN. Tại Hoa Kỳ, có ít nhất 10 đại học danh tiếng có bộ sách về chiến tranh VN trong đó trung tâm Texas Tech University được xem như quan trọng nhất.Ghi lại những biến cố chỉ trong tháng 4 từmột số tài liệu mà độc giả có thể tìm được dễ dàng trong các thư viện công cộng hay nhà sách, chúng tôi muốn nói lên bản chất dị biệt của các tài liệu qua các nguồn tư liệu và tác giả.
Sự dị biệt ít nhiều và bàng bạc qua gần 20 tài lệu mà chúng tôi tham khảo, nhưng chúng tôi chú tâm đặc biệt vào hai biên khảo-hồi ký căn bản của biến cố tháng tư viết bởi hai cộng sự viên quan trọng của Tổng Thống Thiệu là Đại Tướng Cao Văn Viên,Tổng Tham Mưu Trưởng quân lực VNCH và Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cố vấn đặc biệt của Tổng thống. Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên, qua lời văn tuy ôn tồn nhưng quyết liệt, ông Viên đã dành một chương «Lời bạt» thêm vào quyển quân sử The final Collapse do ông soạn thảo cho Trung Tâm Quân sử lục quân Hoa Kỳ phổ biến hạn chế năm 1983 và Nguyễn Kỳ Phong chuyển ngữ với tựa đề là Những ngày cuối cùng của VNCH, xuất bản năm 2003, để làm sáng tỏ và đính chính một số sai lầm, thiếu sót viết về ông và về Bộ Tổng Tham Mưu do ông điều khiển mà tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã viết trong quyển The Palace File xuất bản năm 1986 và ấn bản Việt ngữ tựa là Hồ sơ mật Dinh Độc Lập xuất bản năm 1987.
Đa số độc giả cũng như chúng tôi không am tường các chuyện bí mật chính trị và quân sự, cho nên chuyện đúng hay sai là chuyện của các chuyên gia và nhà sử học, do đó khi chúng ta đọc những tài liệu loại nầy, chúng ta thường đọc bằng cảm tính qua văn phong của tác giả. Chúng ta có khuynh hướng nghiêng (tin) về người bị chỉ trích, bị hạ bệ và phản kháng (không tin) người dao to búa lớn, đại loại, tôi đã khuyên tổng thống chuyện nầy, can thiệp với ông đại sứ nọ… Đó là điều mà chúng tôi gọi là đem tâm tình đọc lịch sử.
Ngoài việc viết thiếu trung thực lịch sử vì vô tình hay cố ý, một hiện tượng khác còn trầm trọng hơn là việc ngụy tạo tài liệu đã đưa độc giả đến những hiểu biết sai lệch mà điển hình là vụ quyển sách Saigon et moi của cựu đại sứ Pháp Jean-Marie Mérillon mà từ hàng chục năm nay, cứ đến tháng tư thì tái xuất hiện như một thứ «cá tháng tư» (poisson d’Avril).
Nhiều sách báo đã phổ biến, trích dẫn «con cá tháng tư» này như chuyện thật.
Cách đây một tháng, nhiều bạn hữu lại chuyển cho chúng tôi qua internet một bài đọc dưới dạng mp3 về một chương sách tưởng tượng trong quyển sách ngụy tạo Saigon et moi. Đại ý, Jean-Marie Mérillon đã dàn xếp được với Mặt Trận Giải Phóng để chấp nhận Dương Văn Minh thành lập một chánh phủ liên hiệp để thoát khỏi gọng kềm của CS miền Bắc nhưng Dương Văn Minh đã phản bội lời hứa, thay vì đi Trảng Bàng để gặp Trần Văn Trà trong toan tính này thì lại đầu hàng với hi vọng sự nhượng bộ này sẽ được CS tưởng thưởng.
Ngoài ra, bài đọc (từ bài viết) còn có những chi tiết giựt gân, cảm động, đánh trúng cái khát vọng của người di tản không muốn VNCH chết một cách tức tửi và oán ghét những chánh khách bất tài, xôi thịt, hèn hạ.
Tác giả của nguồn tin này (ông Vũ Hải Hồ) cho là quyển sách xuất bản năm 1985, được ra mắt ở khách sạn La Fayette với sự chứng kiến của Tổng Thống Valéry Giscard d’Estaing và nhiều nhân vật chính trị quan trọng của Pháp, nhưng sau đó mấy ngày thì bị Bộ ngoại giao tịch thu.
Lối giải thích quả tình phi lý vì chế độ kiểm duyệt sách báo ở các quốc gia Tây Phương là chuyện không có, còn chuyện thu hồi một quyển sách hồi ký đã xuất bản lại còn là chuyện thần thoại hơn.
Ngoài ra, trong việc phát triển bộ sách tiếng Việt và sách ngoại ngữ viết về VN cho thư viện thành phố Montréal, chúng tôi có theo dõi trong nhiều năm thời ấy trong các thư mục các nhà xuất bản trên thế giới như Books in prints, Livres disponibles để mua cho thư viện, nhưng không hề thấy tên quyển sách này.
Để chứng minh quyển Saigon et moi không có, GS Tiến sĩ Sử học Hoàng ngọc Thành và Bà Thân thị Nhân Đức trong tác phẩm «Những ngày cuối cùng của Ngô Đình Diệm», xuất bản năm 1994, nơi trang 622 và 623 (trang 574 ấn bản năm 1996, phụbản trong ấn bản năm 1999) có nói rõ về vấn đề này.
Nguyên là ông Hoàng Ngọc Thành khi sang Paris năm 1989 không tìm mua được quyển Saigon et moi, nên có liên lạc với ông Mérillon, lúc ấy làm đại sứ ở Moscou để hỏi rõ . Ông Mérillon đã phúc đáp GS Thành nguyên văn nhưsau:
République Française
Ambassade de France En URSS
L’Ambassadeur
Moscou le 12th November1990
Dear Dr Thanh,
Your letter of the 22nd October has just reached me. I was most touched by it and very pleased to hear from you.
As far as the book«Saigon et moi» is concerned, I must make a point particularly clear. I did not write this book nor have I written any other about Vietnam; therefore the work that you are enquiring about is not mine. However, I am intrigued by this publication and should be glad to have any information relating to it.
Should I visit California, I shall not fail to take advantage of your kind invitation to a Vietnamese dinner.
Wishing your new book every success, I remain
Yours sincerely,
Jean- Marie Mérillon
merillonletter
Khi viết biên khảo, các tác giả có khuynh hướng sử dụng những tài liệu trích dẫn từ những tài liệu tham khảo cấp hai hay cấp ba mà không phải từ tài liệu gốc. Sự sai lầm, nếu có, tuy đáng tiếc, nhưng vẫn có thể hiểu được vì lẽ chúng ta không thể có được trong tay tất cà các tài liệu.
Tuy nhiên, khi đã biết một tài liệu ngụy tạo mà vẫn cố tình sử dụng vì một ý đồ, hành động nầy không thể nào nói khác hơn là một thứ bất lương trí thức. Đó là trường hợp bản dịch quyển « La mort du Viet Nam» của tướng Vanuxem của Dương Hiếu Nghĩa với tựa là «Nước Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử» (Nhà xb Đại Nam, 1997) có một phụ bản đặc biệt từ trang 194 đến trang 221 đăng lại từ tập san Đa Hiệu một chương sách ngụy tạo của Mérillon. Dịch giả đã có lời phi lộ như sau:
«Không ai tìm thấy tung tích quyển sách này ở bất cứ thư viện nào ở Pháp, kể cả Thư viện Quốc Gia Pháp ở Paris. Cũng như sau nầy, chính ông Mérillon đã đính chánh ông không phải là tác giả của quyển Saigon et moi hay bất cứ quyển nào khác viết về VN» (sđd, tr. 195).
Đã biết như vậy mà vẫn tiếp tục phổ biến một tài liệu ngụy tạo, chúng tôi không hiểu tác giả có ngụ ý gì nếu không đã mất trí.
Kết luận
Hôm nay, đọc lại những tài liệu cũ về những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi không giữ được nỗi bàng hoàng nhớ lại nỗi kinh hoàng của những ngày quốc biến của 34 năm trước. Người đọc lịch sử, nhất là lịch sử của tổ quốc mình không thể vô tâm như người ngồi ở ga xe nhìn đoàn tàu đi qua, mà tùy theo cảnh ngộ, người đọc xúc động với biến cố hay suy nghĩ về biến cố. Chẳng phải là sử gia cũng không phải là chính trị gia, đa số người Việt ngoài nước lẫn trong nước đều cảm nhận nỗi bất hạnh của quê hương mình và dân tộc mình đã từ hơn một thế kỷ qua, luôn là mảnh đất để các cường quốc ngoại bang và các tậpđoàn người Việt, nhân danh những khẩu hiệu giả ân giả nghĩa, đã thay phiên nhau xâu xé, thống trị và bốc lột một dân tộc không ngớt gánh chịu điêu linh. Nhưng nghĩ cho cùng, khi con người đã quá khổ đau, con người chỉ còn biết bám víu vào định mệnh. Nếu nước VNcó một định mệnh thì định mệnh đã bắt VN của chúng ta gánh chịu quá nhiều bất hạnh từ 1945 đến nay mà cái bất hạnh lớn nhất, nguy hại nhất, là chiến tranh VN đã được điều khiển bởi một Kissinger ác cảm khinh miệt chế độ miền Nam và một tập đoàn chính trị miền Nam đa số bất tài, thối nát.
Hôm nay, lần giở lại gần hai mươi quyển hồi ký và biên khảo tiếng Việt và ngoại ngữ trong kho tài liệu khổng lồ về chiến tranh VN, nếu chúng tôi được soi sáng vàđược lãnh hội nhiều sự kiện và nhận định ghi lại với sự trung thực và thành khẩn đáng được xem như những sử liệu giá trị qua vài biên khảo và hồi ký, chúng tôi lại cảm thấy bùng dậy nỗi bất bình với những trang giấy viết để ca tụng mình, phe nhóm mình, nhục mạ chiến hữu mình, phe nhóm đối lập với mình. Tác giả những thiên hồi ký khoác lác nầy đa số là những người đã vinh thân trong cuộc chiến, và giờ đây, họ vẫn không còn biết giữ được chút liêm sĩ còn sót lại để im tiếng, để yên cho những người may mắn thoát chết tiếp tục sống với nỗi đau gặm nhấm. Lịch sử sẽ phải thực sự được viết lại bởi những người viết sử công chính và những quyển hồi ký man trá nầy sẽ phải bị chôn sâu dưới nấm mồ của những tác giả đã đánh mất lương tri.
Trong một cuộc mạn đàm với các bậc thức giả, chúng tôi có bày tỏ nỗi ưu tư là những người di tản thế hệ chúng ta không có cơ may đọc được một quyển chính sử viết về thời kỳ chúng ta đã sống. Một cụ già đã sang sảng trả lời: «Biết làm chi nhiều hơn cho thêm cay đắng. Chúng ta chỉ cần biết rõ ràng rằng chúng ta là nạn nhân của ba sự lừa dối và phản bội, thứ nhất là của đồng minh người Mỹ của chúng ta, thứ hai là của người lãnh đạo phe quốc gia chúng ta và thứ ba là của bọn Cộng Sản Việt Nam».
Chúng tôi chỉ biết gục đầu thấm thía lời phẩn nộ nhưng không dám gật đầu chấp nhận thái độ buông tay.
Chúng tôi vẫn tự hỏi, có thế nào lịch sử cận đại của một dân tộc đã phải hi sinh bao triệu người sẽ được viết bởi những kẻ lừa dối và phản bội?
© Lâm-Văn-Bé (Montréal)
© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam
Chuyển sang dạng text từ PDF files bởi ngv
Sách tham khảo chính yếu:
– Bùi Diễm. Gọng kềm lịch sử. Paris: Cơ sở xb Phạm Quang Khai, 2000. (expanded version of The Jaws of History).
– Cao Văn Viên. Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, dịch từ The Final Colllapse bởi
– Nguyễn Kỳ Phong. Centreville(Virginia):Vietnambibliography, 2003.
–Darcourt, Pierre. Vietnam, qu’as-tu fait de tes fils. — Paris: Albatros, 1975.
– Hoàng Đống. Niên biểu lịch sử VN, thời kỳ 1945-1975.California: Đại Nam 2005.
– Hoàng ngọc Thành & Thân thị Nhân Đức. Những ngày cuối cùng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm (ấn bản lần thứ ba).- San José: Quang Vinh, 1999.
– Karnow Stanley. Vietnam: a history.–New York: Viking, 1983.
-Kissinger, Henry, Ending the VN war.–New York: Simon&Schuster, 2003.
– Lartéguy, Jean. L’adieu à Saigon. — Paris: Presses de la Cité, 1975.
– Lý Quý Chung, Hồi ký không tên. — TpHCM: Nhà xb Trẻ, 2004.
– Nesson, Ron. It sure looks different from the inside. — Chicago: Playboy Press, 1978.
– Nguyễn Bá Cẩn. Đất nước tôi. –San Jose: Hoa Hao Press, 2003.
– Nguyễn Khắc Ngữ. Những ngày cuối cùng của VNCH. — Montréal: Tủ sách Nghiên cứu Sử Địa,1979.
– Nguyễn Hữu An. Chiến trường mới. – Hanoi: Nxb Quân đội nhân dân, 2001.
– Nguyễn Tiến Hưng. Khi đồng minh tháo chạy. – San Jose: Cơ sở xb Hứa Chấn Minh, 2005.
– Nguyễn Tiến Hưng. Hồ sơ mật Dinh Độc Lập.
– Snepp, Frank. Sauve qui peut.– Paris: Éditions Balland, 1979 (dịch từ: Decent Interval.– New York:Random House, 1977).
– Terzani, Tiziano. La chute de Saigon, 30 avril 1975. – Paris: Fayard, 1977.
– Todd, Olivier. La chute de Saigon: Cruel Avril. Paris: Laffont, 2005.
– Trần Đông Phong. Việt Nam Cộng Hòa, 10 ngày cuối cùng. – California: Nam Việt, 2006.
– Trần Văn Đôn. Việt Nam nhân chứng. — California: Xuân Thu, 1989.