Monday, August 8, 2022

 

Selecting Double-sided Printing Settings - Windows

You can print on both sides of the paper by selecting one of the 2-Sided Printing options on the Main tab.

Note: Some options may be pre-selected or unavailable, depending on other settings you have chosen or if you are accessing the product over a network.

  1. Select one of the following options for 2-Sided Printing:
    • Auto (Long-edge binding) to print your double-sided print job by automatically flipping the paper on the long edge.
    • Auto (Short-edge binding) to print your double-sided print job by automatically flipping the paper on the short edge.
    • Manual (Long-edge binding) to print your double-sided print job by printing one side and prompting you to flip the paper over on the long edge to print the other side (recommended for paper types that do not support automatic duplexing).
    • Manual (Short-edge binding) to print your double-sided print job by printing one side and prompting you to flip the paper over on the short edge to print the other side (recommended for paper types that do not support automatic duplexing).
  2. Click the Settings button. You see this window:

  3. Select the double-sided printing options you want to use.
  4. Click OK to return to the Main tab.
  5. Click the Print Density button. You see this window:

  6. Select the type of document you are printing as the Document Type setting. The software automatically sets the Adjustments options for that document type.
  7. If necessary, select the Adjustments options you want to use.
  8. Click OK to return to the Main tab.
  9. Print a test copy of your double-sided document to test the selected settings.
  10. Follow any instructions displayed on the screen during printing.
Related tasks
Selecting Basic Print Settings - Windows

 Tôi được lảnh lương tháng 3, tháng lương cuối cùng của đời lính ở đèo Phượng Hoàng trước khi cuộc chiến xảy ra .Lảnh lương có tiền, tôi rủ Hiệp và Hùng 2 khinh binh Tr/Đội4/ĐĐ21 ra Dục Mỹ chơi. ĐĐ21/TĐ2 đang đóng an ninh cho Pháo Đội C2/TĐ2/PB/ND .Chúng tôi quá giang được xe GMC về Dục Mỹ, trên xe có khoảng 10 Nhảy Dù của các TĐ/ND và tôi có cấp bực lớn nhất .Xe ngừng ngay tại chợ Dục Mỹ.Chúng tôi vừa xuống xe thì từ trong quán nước bên đường một ông mặc đồ Dù hai bông mai đen một gạch dưới vẩy tay gọi 'lại đây lại đây'. Tôi mặt mày xanh lè, kỳ nầy là tiêu rồi. Nhanh như con sóc tôi la lên : "Tất cả tập họp, anh em sửa sang lại quân phục .Hiệp làm chuẩn một hàng ngang trước mặt ông. Ch/U Nguyễn Phạm Phúc SQ: 75/118249 trưởng toán 9 người trình diện Tr/Tá chờ lệnh" .Tôi la to và rõ ràng từng chữ một cả chợ cũng còn nghe.Ai cũng quay lại nhìn chúng tôi chắc rất ư là khâm phục quân phong , quân kỷ của Nhảy Dù. Trúng tâm lý ông hiền từ hỏi ;Đi đâu vậy ?Sao tóc dài vậy . Tôi trả lời :Thưa Tr/T tụi em xuống chơ hớt tóc và mua ít đồ . Ông bảo :Nhớ về đơn vị sớm .Tôi mừng hơn bắt được vàng trả lời dạ, rồi đàng sau quây hô to :Tan hàng cố gắng rồi dọt lẹ,hú hồn. .Nhưng vẫn nhớ bảng tên Phát đó là Tr/Tá Phát LĐT/LĐ3/ND.


 Chúng tôi ăn sáng ở Câu Lạc Bộ A của Trường Pháo Binh, xong ra chợ Dục Mỹ mua đồ và uống cà phê.Cô Loan chủ quán nhận ra tôi ngay. Trước đây 7 tháng tôi là khách hàng thường trực của cô khi học CBSQ/PB. Cô có dáng người cao nước da trắng của con gái Đà Lạt. Ở tới chiều chúng tôi đón xe về lại Đơn Vị. Tối đó thiết giáp rút lui, không hiểu tại sao lại bắn loạn xạ hai bên đường như sợ bị phục kích làm chết và bị thương lính của TĐ6. Tờ mờ sáng ĐĐ21 được lệnh hành quân. Ai rút không biết, chứ ĐĐ21 tiến lên giải vây cho TĐ6/ND đang bị tấn công. Tr/Uý Hà ĐĐT/ĐĐ21 điều các trung đội tấn công với pháo binh yểm trợ. Đóng quân trên đỉnh đồi nhỏ cách Quốc Lộ 21 khoảng trăm mét sau lưng BCH/TĐ6, tôi bắ́n pháo vào cứ điểm xung quanh Buôn Ea Thi bên kia đường, đạn nổ từng tràng ngăn các cuộc tấn công. VC mấy lần bắn sẻ bằng CKC. Tôi suýt chết trong gang tấc. Tr/Úy Hà cho Hiệp khinh binh bò lên nhưng bị một CKC khác bắn bể tay cầm M16. VC ở khắp nơi tấn công nhưng không làm gì được phòng tuyến vẫn vững vàng. Nhưng VC không để yên cho các căn cứ Pháo của ND. Với quân số đông áp đảo họ dể dàng bọc hậu, xuyên hông tấn công các căn cứ PB/ND. Không có quân tác chiến bảo vệ căn cứ PB/ND đều bị tràn ngập. Sau đó VC không đánh ĐĐ21 nữa mà đi vòng qua chúng tôi xuống Quốc Lộ 21 về Nha Trang, đi từng đoàn trên quốc lộ như đi diển hành theo đội hình thiết giáp và bộ binh tùng thiết.

Tr/U Hà ĐĐT21 phải cho mở đường máu xuống núi ,Hiệp khinh binh dẫn đầu. ĐĐ21 chỉ với BCH và Trung Đội 4 tràn xuống băng qua quốc lộ hội quân với BCH/TĐ6/ND của Tr/T Thành TĐT/TĐ6. Vừa tấn công xông qua được quốc lộ tôi nghe tiếng của Th/Sỉ Hùng Thường Vụ ĐĐ21 : Pháo Binh có đây không ? Vì sợ tôi theo không kịp. Đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với Th/Sỉ Hùng (Th/Sĩ Hùng đã vỉnh viển ở lại cùng với rất nhiều anh em khác) Hiệp khinh binh chạy theo dúi vào tay tôi cây AK47 bá xếp và bảo: Ông giữ phòng thân khi nào về Nha Trang bán lấy tiền xài rồi cười ha hả. Chưa chi mà đã lo sợ về Nha Trang không có tiền xài. Trên nét mặt của người lính ĐĐ21 không có chút gì là lo lắng hay sợ sệt, họ kỷ luật, hồn nhiên như là đang tham dự hành quân thao dợt . ĐĐ21 và BCH/TĐ6 cắt rừng ,lội suối , nhổ chốt hướng về Dục Mỹ. VC phản ứng không kịp trong 2 ngày đầu rồi cái gì tới thì phải tới. Khi gom đủ quân VC bao vây và tấn công ĐĐ21 và BCH/TĐ6 Quân số ít ỏi. không liên lạc, tiếp tế,thiếu đạn dược và yểm trợ tan hàng là điều không tránh khỏi. Ngày 2 tháng 4 năm 1975 ĐĐ21 và BCH/TĐ6 tan hàng. Tr/T Thành TĐT/TĐ6,Tr/U Hà ĐĐT21 bị bắt.

ĐĐ21 và BCH/TĐ6 bị phục kích vào rạng sáng ngày 2 tháng 4 năm 1975. Sau đợt tấn công đầu tiên và bất ngờ của VC vào đội hình ĐĐ21 anh em hy sinh rất nhiều, Tr/u Hà sắp xếp lại đội hình ra lệnh chiếm cao điểm vì ĐĐ21 đang ở triền suối. Tôi theo Tr/u Hà xung phong lên chiếm cao điểm. Cây AK của Hiệp bây giờ mới hửu dụng. Tôi làm một tràng lấy tinh thần rồi theo chân Tr/u Hà và Trung Đội 4 . AK ,lựu đạn rải theo, tôi phóng người nằm bẹp dưới gốc cây .Trái lựu đạn bay bổng rớt lăn trước mặt chừng 3 mét. Vì đang trên đà phóng người tới té xấp cạ̣nh gốc cây nên tôi bất lực khi thấy lựu đạn. Lấy tay ôm mặt dí người sát đất. Ầm tôi mở mắt ra sau tiếng nổ, thấy xác Việt Tr/Đội 4 gục xuống .Việt cũng xung phong cũng trên đà phóng người tìm chổ ẩn núp, vô tình đè trên trái lựu đạn hoặc là che mảnh cho tôi .Sống chết số trời. Tôi định thần nhìn qua thì không thấy Tr/u Hà đâu nửa chắc là đã lên tới đỉnh rồi.Tôi dạt qua trái cùng anh em .AK lại nổ nhiều anh em dính đạn ngả gục.Tôi đáp trả siết cò hết luôn băng AK, dọt vào bụi rậm cắt đường xuống suối trở lại .Súng vẫn nổ dòn khắp nơi.Tôi men theo suối theo sau là 3 ND .Mà lạ lùng càng xuống suối tiếng súng càng xa lần chúng tôi tiếp tục đi. Tôi tìm một chỗ kín đáo gần con suối cả 4 người núp mình vào đó đợi trời tối sẽ̉ đi.Một lát sau chúng tôi nghe nhiều tiếng con gái giọng Bắc nói chuyện hình như đang lấy nước và giặt đồ . Thì ra chổ nầy là hậu cần của VC. Chúng tôi đã vô tình lọt và ổ VC mà cũng không ai ngờ là có 4 ND đang nằm kế bên .Đúng là chổ nguy hiểm nhất là chổ an toàn nhứt.

                                Rừng già nên trời tối rất nhanh. Học bài học xương máu vừa qua nên tôi quyết định đi sâu vào rừng càng xa Quốc Lộ 21 càng tốt trước khi đi xéo về Dục Mỹ. Tôi chọn Dục Mỹ vì bản đồ tôi cầm chỉ tới đó thôi biết đi đâu bây giờ và lúc nào cũng nghĩ Dục Mỹ đang là tuyến chiến đấu vì có cả 3 Quân Trường ở đó (QT Pháo Binh, QT Lam Sơn, và QT Biệt Động Quân). Bỏ lại cây AK mà Hiệp đưa hết đạn rồi, hỏa lực còn lại 2 M16 với 2 băng đạn và Colt 45. Tôi dẫn đầu với chiếc la bàn trong tay người sau vịn vai người trước. trời tối đen như mực chúng tôi lên đường . Đi suốt đêm tới trời sáng ,cẩn thân băng qua trảng tranh lớn tôi hối đi nhanh để vào lại trong rừng thì nghe tiếng gọi Nhảy Dù ,Nhảy Dù. Xa chừng khoảng 30 mét là hai bộ đồ ND đứng lên từ bụi cây thấp kêu chúng tôi.Đó là 2 ND của TĐ5 thất lạc mấy ngày rồi gặp chúng tôi nên mừng lắm. Thế là chúng tôi có 6 người 2 TĐ2 ,2 TĐ5 và 2 TĐ6 và thêm 1 con chó nhỏ .Chúng tôi đi không nghỉ để chạy với thời gian .Đi không kể ngày đêm khi mệt hoặc đói thì nghỉ nấu cháo húp mỗi người một ít xong cứ thế mà đi không hề biết ngày giờ chi cả. Dọc đường chứng kiến xác của anh em ND rải rác khắp nơi .Tôi cẩn thận tháo thẻ bài cất giữ để khi về được Dục Mỹ thì báo tin đã gần chục cái .Lương thực thì chỉ có 2 bịch gạo tươi mà Nương đệ tử đã nhét vào túi cho tôi .Còn 2 đệ tử Nương và Hồng theo tôi không biết giờ nầy ở đâu đã lạc từ cú "tấp pi" đầu tiên của VC chắc là theo Tr/uy Hà .Hai bịch gạo và 1 con chó là lương thực của 6 người chúng tôi và đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi ăn thịt chó. Một ngày vào buổi trưa chúng tôi nghe nhiều tiếng trực thăng bay trên đầu như là đang đổ quân. tuy không cách nào liên lạc được nhưng lại tăng niềm tin cho chúng tôi.Tôi cắt xéo đường hướng về Dục Mỹ và cuối cùng cũng tới .

                   Từ trong rừng trên cao nhìn xuống Dục Mỹ sao im lìm quá không giống như đánh nhau . Và tôi cũng không nghe tiếng pháo binh từ lâu lắm rồi Chúng tôi vẫn đổ xuống Dục Mỹ vào buổi sáng sớm, lẻn vào một chòi canh rẩy của ai đó . Chúng tôi nhổ khoai mì nấu ăn xong lại tiếp tục vào rừng đi bọc vòng qua hướng khác .Tôi đã đoán được chuyện gì đã xảy ra với Dục Mỹ .Đói khát tả tơi chúng tôi lại xuống làng ,lần nầy tôi quyết định xuống vào buổi chiều để tối đột nhập vào làng gặp dân hỏi thăm tin tức và tính đường khác chớ không thể ở mã̉i trong rừng được.Cũng như lần trước 4 người canh 2 người nấu .Ăn xong trời chưa tối chúng tôi nằm nghỉ rồi ngũ quên lúc nào không biết .Cái gì đó chọt vào ngực làm tôi thức dậy hai họng súng AK đang chỉa vào tôi.Hai ba người đè tôi xuống và trói chúng tôi lại .Khi biết tôi là sỉ quan người cán bộ trung niên tới hỏi đơn vị và cấp bực rồi dẫn chúng tôi ra ngoài lên xe Lam chở về chợ Duc Mỹ.Chúng tôi bị bắt bởi đơn vị quân dân mới thành lập ở Dục Mỹ nên cũng dể thở .Họ bỏ chúng tôi ngay chợ Dục Mỹ. Ngay lúc đó có vài tên đơn vị chánh qui mặc dồ xanh đi qua ,chúng chửi thề giọng Bắc gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi ." Địt Mẹ làm sao tụi bây xuống tới đây được " Dân chúng bu lại rất đông nhìn chúng tôi như che chở. Người cán bộ trung niên nói gì với tụi chính qui ,mấy tên đó hậm hực bỏ đi. "Mấy anh ăn gì chưa để em nấu mì cho mấy anh " tiếng người con gái nghe quen quen .Tôi nhìn lên thì ra là CÔ LOAN chủ quán cà phê mà tôi quen .Người cán bộ trung niên không nói gì .Im lặng là đồng ý .Chúng tôi được đưa vào trụ sở nhìn vào tấm lịch treo tường NGÀY 9 THÁNG 4 NĂM 1975 .Chúng tôi đã 7 ngày lang thang trong rừng kể từ ngày xa đơn vị. Cô Loan mang lại cho chúng tôi 6 tô mì và nước uống .Riêng tôi là ly chanh đường quen thuộc mà tôi thường gọi khi tới quán CÔ uống nước vì tôi không biết uống cà phê,và nhiều miếng thịt bò nằm dưới đáy tô mì .Ôi kỷ niệm không bao giờ quên được của những ngày cuối tháng 3 .


 


 


 


                     Tặng và Tưởng Nhớ Các Bạn Tôi Những Người Một Lần Áo Hoa và Mủ Đỏ


Sunday, August 7, 2022

 

Suối Tre Long Khánh

Từ TPHCM về Long Khánh, khi còn cách thị xã Long Khánh 4 km, phía bên trái quốc lộ 1 là Suối Tre (khoảng cây số 1.824). Tên đầy đủ là Trung tâm Văn hóa Suối Tre.

Suối Tre lung linh giữa những cánh rừng cao su như một Đà lạt thu nhỏ, mang đậm phong cách Pháp được hình thành từ hồi đầu thế kỷ XX, là một mô hình du lịch lịch lãm mà bàn tay con người biết trân trọng hoà nhịp với thiên nhiên. Suối Tre nằm trên địa hình vùng đồi núi Bazan ở Long Khánh Đồng Nai. được kiến tạo bởi những quả đồi, với triền đồi thoai thoải đầy ngoạn mục.

Suối Tre nằm dọc theo quốc lộ IA, cách thành phố Hồ Chí Minh 80Km về hướng Đông Bắc. Nơi đây đã từng được mệnh danh là “Đà lạt của Miền Đông”.

Được hình thành từ những năm đầu thế kỷ XX, khi các tư sản người Pháp sang Việt Nam lập các đồn điền cao su, nơi này có khí hậu ôn hòa, địa hình lạ, thiên nhiên ưu đãi, đã giữ chân người Pháp ở lại đây, họ tập trung khai thác và lập thành một khu nghỉ ngơi và giải trí rất đặc biệt.

Cả khu vực này rộng trên chục hécta, với nhiều đồi cỏ nhấp nhô, bao bọc con suối quanh co bên những bờ tre xanh ngắt. Trước đây, trên mỗi đỉnh đồi đều được xây một ngôi biệt thự (theo kiến trúc Pháp) rất khang trang, thoáng mát, đầy đủ tiện nghi tạo thành khu liên gia cư dành riêng cho các ông chủ đồn điền SIPH. Xung quanh những ngôi biệt thự là bạt ngàn những hàng dương, lúc nào cũng rì rào tỏa bóng bát, và có nhiều cây cổ thụ in bóng hàng thế kỷ.

Khu trung tâm là vùng đất bằng phẳng, có hồ tắm, bể bơi, nhà hàng, dangcing, sân tenis và nhiều trò chơi giải trí khác. Đây là công viên văn hóa đẹp như một bản giao hưởng gồm những đồi thấp trồng cỏ, những cây cổ thụ trăm tuổi, những ngôi biệt thự gothique tạo cảm giác vô cùng thoải mái khi đặt chân đến đây.

                         




Thursday, August 4, 2022


Cuộc đời của TNS Kyrsten Sinema (DC bang Arizona) qua lăng kính LTS.

                         


1/ Dựa vào tên khai sanh. 

Thay thế các mẫu tự bằng trị số tương ứng, ta có: 

KYRSTEN = 2123455 = 22 = ko thể rút gọn

LEA = 351 = 9

SINEMA = 315541 = 19 = 10 = 1

Cộng lại: 22 + 9 + 1 = 32 = rất may mắn.

Sau đây là ý nghĩa của số này.

Sự giao tiếp (Communication)

Số này có quyền lực phi thuờng (magical power) ảnh huởng hay tác động đến quần chúng (sway masses of people) cũng như số 14, có sự giúp đỡ từ những nguời có địa vị cao cũng như số 23. Thêm vào đó là khả năng bẩm sinh lôi cuốn/thu hút đuợc (charm) kẻ khác bằng tài ăn nói có sức hấp dẫn mạnh mẽ (magnetic), và điều rõ ràng rằng tại sao số 32 đôi khi đuợc biết như, qua cách hiện đại hóa sự tuợng trưng của nguời xưa, là “quyền lực của chính trị gia“ (the politician's vibration). Sự phức tạp của ngành quảng cáo, viết văn, ấn loát, truyền thanh, và truyền hình không phải luôn luôn, nhưng thuờng trở thành dễ dàng (are an open book) cho nguời số 32, vì họ có khuynh huớng làm việc tốt duới áp lực. Nhưng cũng có một cảnh báo đáng ghi nhớ (a warning note sounded) bên trong âm điệu có vẻ êm ái này (seemingly happy melody). 32 là một số rất may mắn nếu nguời, mà nó thay thế , giữ đuợc lập truờng kiên định (inflexibly) đối với những ý kiến và phán đoán của họ trong cả hai lãnh vực: nghệ thuật hay những thứ trừu tuợng và những thứ cụ thể (in both artistic or intangible matters and material matters). Nếu không là như vậy, những kế hoạch của họ có nguy cơ (are liable) bị làm hỏng (to be wrecked) bởi sự ngoan cố (stubbornness) và đần độn (stupidity) từ kẻ khác./.
2/ Nếu dựa vào tên thường dùng.

KYRSTEN = 2123455 = 22 = ko thể rút gọn

SINEMA = 315541 = 19 = 10 = 1

Cộng lại: 22 + 1 = 23 = rất may mắn.

Sau đây là ý nghĩa của số này.

Số 23 – Ngôi Sao Huy Hoàng của Sư Tử

(The Royal Star of the Lion)
Đây là số may mắn do hưởng phước đã tạo từ kiếp trước (karmic reward number) (1). Số 23 ban cho (bestows), không những chỉ là một hứa hẹn sẽ thành công trong nhửng nỗ lực ( endeavors) thuộc về cá nhân và nghề nghiệp, mà còn bảo đảm có sự giúp đỡ từ thượng cấp (help from superiors) và sự che chỡ/bảo vệ từ những người có địa vị cao (protection from those in high places). Đây là một số rất may mắn, và số này ban phát (blesses) dồi dào hồng ân (abundant grace) cho người hoặc thực thể (entity) tượng trưng bởi số này. Số này, cũng nên được xem xét với những số khác (như ngày sanh hay tên) để có một sự phân tách toàn diện dựa theo lý thuyết số (full numerological analysis), điều này có thể đưa đến một kết quả không hoàn toàn may mắn. Nhưng trong những giai đoạn khó khăn, những số khác không có nhiều cơ hội tạo ra (bring about) sự rắc rối nghiêm trọng (serious trouble) khi có sự hiện diện của Ngôi Sao Huy Hoàng này của Sư Tử. Không số nào có thể thách thức với sức mạnh (strength) của Sư Tử và thắng được nó. / .
(Dịch từ trang 259 của quyển Linda Goodman’s Star Signs.)

Chú thích: (1) tỉnh từ karmic xuất phát từ danh từ karma, là tiếng Phạn (Sanskrit) có nghĩa là hành động/số mệnh/nghiệp. Ấn độ giáo và Phật giáo tin rằng nghiệp là những hành động/việc làm của con người trong những kiếp trước, và (nghiệp này) sẽ quyết định số mạng của con người đó trong những kiếp sống sau này.

NHẬN XÉT: Những gì xảy đến với bà đã đúng với ý nghĩa của số 32 và 23.
Theo bà, do cha mẹ ly dị từ nhỏ nên bà và em gái đã ở 3 năm trong một cây xăng bỏ hoang. Bà kể trong 2 năm họ ko có toilet và điện ở đây. Bà kể " cha ghẻ đã làm một giường 2 từng (bunk bed) cho chị em bà. Giường cách nhà bếp bằng một tấm bảng đen lớn -- có thể di chuyển vì có bánh xe. Tôi biết điều đó là kỳ cục vì một tấm bảng đen ko phải là bức tường. Nhà bếp phải có nước."
Bà tốt nghiệp thủ khoa (valedictorian) ở trường trung học Walton tại DeFuniak Springs ở tuổi 16 và có bằng cử nhân (B.A.) ở ĐH Brigham Young năm 1995 ở tuổi 18. Bốn năm sau bà có bằng cao học về Xã Hội Học tại ĐH Arizona. Năm 2004, bà có tiến sĩ luật (J.D. degree) tại ĐH Arizona. Bà cũng có bằng M.B.A. Nguồn: Wiki.

Wednesday, August 3, 2022

Cựu thiếu tá Lê Phi Ô, tiểu đoàn trưởng TĐ 344 BĐQ thuộc TK Bình Tuy. Có em rể là Nguyễn hữu Nhân, cựu đại úy pháo binh. Cả hai đều ở San Jose. Anh Nhân tổ chức họp mặt bạn tù mỗi 2 tuần một lần vào thứ bảy tại nhà anh Nhân (dù được mời nhưng tôi ko tham dự). 

Sau 75, mẹ ông chết đói tại bv và vợ bỏ, để lại bốn con. Ông đang ở 1 nursing home ở SJ vào thời điểm tôi viết bài này.

LÊ = 35 = 8

PHI = 851 = 14 = 5

Ô = 7

Cộng lại: 8 5 7 = 20.

Sau đây là ý nghĩa của số 20.

Số 20
Sự tỉnh thức (awakening)
Ngoài việc được gọi là "sự tỉnh thức", số kép này được mô tả (is pictured) bởi người cổ Can-Đê (Chaldean) là "Sự Phán Xét". Đó là một giải thích kỳ lạ (peculiar), và được tượng trưng bởi "một thiên thần có cánh, thổi kèn, trong khi từ bên dưới, một đàn ông, một đàn bà, và một đứa nhỏ sống lại/nổi lên (arise) từ một nấm mộ, với tay chấp lại cầu nguyện (hands clasped in prayer). Ở một lúc nào đó (at some time) trong kinh nghiệm/thử thách của người hay thực thể thay mặt bởi số 20, có một sự tỉnh thức mạnh mẻ, mang lại một mục tiêu mới, các kế hoạch mới, các tham vọng mới - (đó là) lời kêu gọi hành động cho đại nghĩa hay ý tưởng nào đó (some great cause or ideal). Thỉnh thoảng có thể có những trì hoãn hay chướng ngại cho kế hoạch cho y, nhưng những điều này có thể chinh phục hay vượt qua bằng cách phát triển kiên nhẩn (cũng là thách thức của số 20) và bằng cách tiếp tục trau dồi (cultivate) niềm tin vào các khả năng tự biến đổi của y (in one's own powers to transform). Số 20 đem lại phước lành (blessing) qua những giấc mơ sống động về nhận thức (vivid precognitive dream), cộng thêm khả năng bày tỏ những giấc mơ may mắn và triệt tiêu những giấc mơ tiêu cực (negative). Số 20 không phải là số vật chất (material), vì thế ko chắc có được thành công về tài chánh (doubtful regarding financial success). Nếu cần thiết có số tiền lớn để hỗ trợ thực tế cho một đại nghĩa hay ý tưởng mới, sau đó y có thể chọn một con số nặng về vật chất tích cực hơn (a more positive materialistic number) bằng cách đổi chánh tả của tên, với giả dụ rằng 20 là ngày sanh. Nếu tên cộng lại bằng 20, vậy, hy vọng rằng, ngày sanh này sẽ ban cho (bestow) một tác động tài chánh may mắn hơn (the birth number will bestow a more fortunate financial vibration). Tuy nhiên, những ai hợp với sự tác động/rung động của số 20 ít khi để ý vấn đề tài chánh. Tiền bạc không quan trọng với họ -- và số 20 sẽ, như một luật phổ quát, cung cấp đủ cho những nhu cầu căn bản".
Dịch từ trang 257-8 của sách Linda Goodman's Star Signs.
(Xong lúc 1:35 sáng ngày 17/4/2020 trong mùa đại dịch Covid-19).


Monday, August 1, 2022

 Tưởng Niệm Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Một Danh Tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Phan Đức Minh, Jan 24, 2007 A/- Đột dòng suy nghĩ: Viết xong những loạt bài cho Báo Xuân phát hành ở nhiều nơi, báo in cũng nhƣ báo “online” nhiều nơi xa gần, trong và ngoài Hoa Kỳ, tôi đã định nghỉ xả hơi 1 thời gian ví tuổi đã cao (76, cộng thêm trên 12 năm đi tù cải tạo tại nhiều vùng rừng núi âm u, kinh hoàng, bây giờ mới thấy hậu quả của nó ghê gớm, mà mấy tay Bác Sĩ Mỹ cũng nhƣ Việt quen thuộc thƣờng nói đùa là Ông hay Bác coi nhƣ ... 76 + 12 là 88 tuổi, sức khỏe nhƣ thế này là tốt quá rồi ). Vậy mà vừa đọc tin trên “ Net “, check e-mail thấy bạn bè, báo “ online “ loan báo cựu Trung Tƣớng Ngô Quang Trƣởng vừa mới qua đời. Tôi thật bất ngờ và xúc động ví tôi từng sống rất gần, hiểu khá nhiều về vị Tƣớng này, đã 2 lần đƣợc tiếp chuyện với ông trong tính “ huynh đệ chi binh “, và tôi rất kình trọng, khâm phục ông về nhiều điểm. Lần gặp và nói chuyện đầu tiên với vị Tƣớng này là chuyện : Trung Tá Nguyễn Minh Đ., 1 Sĩ Quan rất giỏi, can trƣờng, xuất thân trƣờng Võ Bị Đà Lạt, từng làm Trung Đoàn Trƣởng (Regiment commander) đánh giặc gan lí, lên lon từ Thiếu Úy tới Trung Tá hầu hết tại mặt trận, đƣợc ân thƣởng 2 Bảo Quốc Huân Chƣơng (Đệ Ngũ và Đệ Tứ đẳng) với nhành Dƣơng Liễu, rồi làm Quận Trƣởng Quận Thăng Bính , tỉnh Quảng Ngãi là nơi Việt Cộng đánh phá ghê gớm thí ông ra sức bính định lãnh thổ chịu trách nhiệm . Có khi ông đi hành quân không giống ai: xin pháo binh sẵn sàng yểm trợ, rồi ông và lình mang súng đạn, dùng xe gắn máy tiến vào những làng hẻo lánh, xa xôi mà tin tính báo cho hay có những đơn vị không lớn của địch về đây lấy lƣơng thực, tuyển quân vv... quân xa của ta không vào đƣợc, ông Trung Tá Đ. vẫn đem lình vào để đánh địch và bắt sống hay tiêu diệt địch nhiều phen, nhờ ông đã có công xây dựng cơ sở, dân chúng tin tƣởng và hợp tác với ông, với quân đội Cộng Hòa. Ấy vậy mà ông Trung Tá này lại giống ngài Tổng Thống họ Nguyễn hồi đó, y nhƣ Trung Tƣớng Hoàng Xuân L. và vài Tƣớng Lãnh, Sĩ Quan cao cấp khác rất cả tin vào cái vụ... tƣớng số, tử vi để đến nỗi bị truy tố ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I – Vùng I Chiến Thuật, về tội “ Đào ngũ – Desertion “ mới chết chớ. Ví tin vào ông Thầy tƣớng số mà ông Trung Tá lại né 1 cuộc hành quân cỡ lớn, trong đó có Trung Đoàn của ông tham dự,ï để vào Tổng Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng nằm nghỉ chữa bệnh ìt ngày, nhƣng không làm đúng thủ tục hành chánh khi nhập viện . Ông Thầy Tƣớng số nói : “ ông đi hành quân chuyến này không chết cũng ...bị thƣơng nặng... “. Đánh giặc hoài hoài, anh dũng, can trƣờng hàng chục năm liên tục, không biết sợ cái chết mà bữa nay lại tin lời ông Thầy Tƣớng Số để né trận này, thật đáng ... đánh đòn. Trung Tƣớng Trƣởng cần Trung Tá Đ. để đƣa vào phái đoàn 4 bên Quốc Tế kiểm soát đính chiến tại khu vực trách nhiệm của ông. Tƣớng Trƣởng gọi điện thoại về Sƣ Đoàn thí 29 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng – Nam Phong tổng hợp - www.vietnamvanhien.net đƣợc báo cáo là ông Trung Tá đi nằm bệnh viện Duy Tân. Còn đang phân vân chọn ngƣời khác thí chiếc xe Beaulieu, gắn bảng đỏ có 3 sao trắng, của Tƣớng Trƣởng chạy dọc 1 đƣờng phố Đà Nẵng. Ông Tƣớng và Sĩ Quan tùy viên trông thấy rõ ràng Trung Tá Đ. nhà ta đang đi thong dong trên đƣờng phố, chẳng có chi là “ bệnh nhân “ cả. Thế là ông Tƣớng Tƣ Lệnh Quân Đoàn I và Vùng I Chiến Thuật ra lệnh cho Đại Tá Tham Mƣu Trƣởng liên lạc hỏi Trung Tá Bác Sĩ Chỉ Huy Trƣởng Tổng Y Viện Duy Tân về vụ “ bệnh nhân cao cấp “ dạo chơi ngoài phố, rồi gọi điện thoại sang Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I và Vùng I Chiến Thuật (Field Court Martial of the Ist military zone & Ist Tactical Area) yêu cầu Trung Tá Ủy Viên Chình Phủ tới văn phòng Tƣ Lệnh Vùng có việc cần. Bữa đó Trung Tá Ủy Viên Chình Phủ đi công tác, tôi là Phó “ Xử lý thƣờng vụ – Interim “ nên vội lái xe Jeep sang Bộ Tƣ Lệnh Quân Đoàn, tới Văn Phòng Trung Tá Đức, chánh văn phòng. Trung Tá Đức mời tôi ngồi và nói: Trung Tƣớng vừa lái trực thăng đi kiểm soát bất thần 1 đơn vị ở xa, Thiếu Tá chờ cho ìt phút. Vài phút sau Trung Tá Đức sang gặp Tƣớng Trƣởng rồi trở lại: Trung Tƣớng mời Thiếu Tá sang. Tôi bƣớc vào và chào Tƣớng Trƣởng theo quân cách. Ông bắt tay rồi mời tôi ngồi ngay chiếc ghế bên cạnh bàn làm việc của ông. Ông nói nhỏ nhẹ và vắn tắt: Chắc Thiếu Tá đã rõ việc tôi cho gọi điện thoại mời Thiếu Tá sang đây? – Tôi đáp : Thƣa Trung Tƣớng tôi đã rõ. Tƣớng Trƣởng nói tiếp: Tôi không bao giờ can thiệp vào công việc chuyên môn của Tòa Án, của Thiếu Tá, nhƣng với tƣ cách là Tƣ Lệnh 1 đại đơn vị, tôi chỉ mong muốn Thiếu Tá cũng nhƣ các anh em khác bên Tòa Án luôn luôn tìch cực giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ đối với Quân Đội, giữ vững kỷ luật Quân Đội ví đó là sức mạnh của chúng ta nếu chúng ta muốn thắng cộng sản. Một Ông Tƣớng đánh giặc giỏi, lừng danh mà ăn nói thật nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ, từ tốn đến mức dễ thƣơng. Tôi đáp: Trung Tƣớng an tâm, chúng tôi sẽ hết sức làm việc để góp sức xây dựng quân đội nhƣ Trung Tƣớng mong muốn. Sau vài câu chuyện hỏi thăm về công việc, ông đứng dậy bắt tay tôi, tiễn vài bƣớc ra phìa cửa rồi mới quay trở lại. Hôm xử vụ án Trung Tá Đ., bị can đào ngũ cao cấp nhất từ ngày tôi làm việc ở đây, tôi ngồi ghế Công Tố Viên ( prosecutor ), Chánh Thẩm ( Chánh Án – Presiding judge ) là Ông Võ Nhất Minh, Chánh Án Tòa Sơ Thẩm Quảng Nam – Đà Nẵng (đƣợc mời và bổ nhiệm bởi Liên Bộ Quốc Phòng & Tƣ Pháp từng kỳ hạn 1 năm, còn Chánh Thẩm dự khuyết là 1 Đại Tá thuộc ngành Quân pháp chúng tôi), Phụ Thẩm Đoàn là 4 Thẩm Phán quân sự (military judges) hầu hết là Luật Sƣ dân sự trƣớc khi động viên vào quân đội, hoặc là Sĩ Quan tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa rồi thêm trung bính 3 năm tập sự để trở thành Thẩm Phán. Thành phần xét xử của các Tòa Án Quân Sự Mặt Trận thuộc 4 Vùng chiến thuật là hùng hậu nhất, 5 Thẩm Phán thực thụ, sau vụ xét xử Dân Biểu Quốc Hội Trần Ngọc Châu có liên lạc với anh em ruột thịt là cán bộ cộng sản Trần Ngọc Hiền. Luật Sƣ của bị can nêu vấn đề tổ chức Tòa Án xét xử bị can phạm tội chình trị Trần Ngọc Châu là vi hiến ví Hiến Pháp hồi đó quy định là trƣờng hợp nhƣ trên, bị can phải đƣợc xét xử bởi các Thẩm Phán chuyên nghiệp (chớ không có mời phụ thẩm nhân dân hay các Sĩ Quan đang tại ngũ nhƣ Tòa Án Quân Sự Thƣờng trực (Permanent military court). Bốn Tòa Án loại này của Nam Việt Nam phải tạm thời ngƣng họat động 6 tháng để sắp xếp lại cơ cấu tổ chức. Theo bản cáo trạng, tôi lên tiếng buộc tội nghiêm khắc bị can Trung Tá Đ., một Sĩ Quan thuộc hàng cao cấp, từng giữ những chức vụ chỉ huy quan trọng, hiểu biết rõ ràng về quân kỷ, thủ tục hành chánh khi nhập bệnh viện, đã cố tính trốn tránh trách nhiệm trong vụ này nên bị coi là can tội đào ngũ trong thời chiến. Tôi yêu cầu Tòa phạt thật nặng để làm gƣơng cho các Sĩ Quan khác. Tuy nhiên, tôi nói tiếp : Công tố viên là ngƣời bảo vệ Luật Pháp, truy tố tội phạm, nhƣng không có nghĩa là chỉ biết buộc tội bằng cách nhín về một phìa, mà không biết nhín sang phìa khác với những công trạng, thành tìch của 1 quân nhân đã hàng chục năm chiến đấu anh dũng, chỉ huy tài giỏi, thành công to lớn trong binh nghiệp, xin lƣu ý Thẩm Phán Đoàn về những điều đó để quý vị tùy nghi quyết định. Với 1 quân nhân, nhất là Sĩ Quan, có tội cần phải trừng phạt nặng để làm gƣơng cho cấp dƣới, cho bạn đồng ngũ, nhƣng Luật Pháp, Quân Đội không bao giờ bỏ quên những quân nhân anh hùng, dám hi sinh thân mính cho đại cuộc. Không khì phiên Tòa, xét xử duy nhất 1 bị can đào ngũ mang cấp bậc Trung Tá, thật là căng thẳng. Luật Sƣ Vƣơng Thị Thúy tiếp lời bào chữa cho bị can một cách rất khôn khéo, hợp lý, hợp tính... Tòa tuyên bố tạm nghỉ để vào phòng nghị án. Phòng xử án hôm đó rất đông, có nhiều Sĩ Quan, thân nhân, bạn bè của bị can, 30 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng – Nam Phong tổng hợp - www.vietnamvanhien.net tất nhiên có cả quan sát viên của Bộ Tƣ Lệnh Quân Đoàn đến theo dõi để về báo cáo lên Trung Tƣớng Trƣởng. Anh em Quân Cảnh đi lại bên ngoài phòng xử. Không khì đợi chờ bản án thật là yên lặng, tƣởng nhƣ con ruồi bay qua, ngƣời ta cũng nghe thấy tiếng ... Một hồi chuông rung. Ông Chánh Thẩm và Thẩm Phán Đoàn trở lại vị trì. Mọi ngƣời hồi hộp. Ông Chánh Thẩm long trọng đọc những điều có tình cách thủ tục rồi tuyên án... Tòa quyết định: phạt bị can Nguyễn Minh Đ. 5 năm tù ở về tội đào ngũ trong thời chiến... Có tiếng thở dài đâu đó và có ngƣời trong phòng xử xỉu ngã, chắc chắn là thân nhân của bị can, nhƣng tiếp theo liền đó, Ông Chánh Thẩm tuyên bố : căn cứ theo hồ sơ, bị can là 1 Sĩ Quan có nhiều công trạng, thành tìch , tinh thần chiến đấu cũng nhƣ chỉ huy trong quá khứ, cùng với những bằng chứng khen thƣởng quý giá nhƣ thăng cấp liên tục tại mặt trận, đƣợc ban thƣởng nhiều huy chƣơng cao quý, nhất là Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chƣơng với nhành dƣơng liễu gắn tại chiến trƣờng... lần đầu tiên phạm Quân Luật, cho nên Tòa khoan hồng cho bị can đƣợc hƣởng ... án treo! Không khì trong phòng xử nhƣ sống lại trong khi phiên Tòa bế mạc... Trung Tá Nguyễn Minh Đ., viên Sĩ Quan rất tài giỏi, nhƣng chỉ phải cái tội quá tin vào vụ Tử Vi, tƣớng số tào lao mà suýt nữa khổ cả một đời. Trung Tá Đ. tạm thoát đƣợc án tù 5 năm, nhƣng sau đó bị mất quyền chỉ huy đơn vị tác chiến nhƣ xƣa, chỉ đƣợc làm những công việc có tình cách chuyên môn buồn tẻ. Thỉnh thoảng gặp lại tôi tại Bộ Tƣ Lệnh Quân Đoàn, khi các Sĩ Quan đi ăn cơm trƣa tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Quân Đoàn, ông tuy là Trung Tá, nhƣng thƣờng giơ tay chào tôi trƣớc, và có lần không quên nhắc lại: May mà gặp đƣợc Thiếu Tá ngồi ghế Công Tố Ủy Viên bữa đó, biết rõ hoàn cảnh anh em, tội thí phạt, công thí thƣởng nên tôi mới thoát, chớ nếu gặp tay khác... cực đoan, chỉ nhín 1 phìa con ngƣời thí cuộc đời tôi chắc đã ... tàn rồi. Anh em bắt tay nhau vui vẻ, tôi hỏi: Ông Tƣớng Tƣ Lệnh có gọi lên trính diện quở trách chi không ? Trung Tá Đ. nói: thí phải có chớ! Nhƣng Ổng chỉ khuyên bảo đôi điều nhẹ nhàng rồi ra lệnh từ nay trở đi không đƣợc tái phạm. Tòa khoan hồng chỉ 1 lần, không thể lần thứ 2. Thí ra Ông Tƣớng Ngô Quang Trƣởng đã biết hết sự việc của phiên Tòa, kết quả ra sao, và luôn tỏ ra rộng lƣợng, tha thứ cho thuộc cấp có nhiều công trạng, thành tìch mà lần đâu tiên vi phạm Quân Luật . Với chức vụ Phó Ủy Viên Chình Phủ Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I, Cố Vấn Pháp Luật cho Nghiệp Đoàn ký giả miền Trung Việt Nam cho nên tôi đã có nhiều dịp gặp gỡ chuyện trò trong khung cảnh thân mật với 1 số Tƣớng Lãnh nhƣ Trung Tƣớng Hoàng Xuân L., Thiếu Tƣớng Nguyễn Duy Hinh vv... cùng nhiều Sĩ Quan cao cấp khác trong Quân Khu tôi làm việc, nhƣng hính ảnh Trung Tƣớng Ngô Quang Trƣởng kể trên làm tôi khó bao giờ quên đƣợc. Lần thứ 2 tôi gặp và tiếp chuyện với Trung Tƣớng Trƣởng là lần Ông sang thăm Tòa Án của chúng tôi, mà Đại Tá Tham Mƣu Trƣởng Quân Đoàn chỉ điện thoại báo trƣớc có 10 phút. Lần này, Trung Tá Ủy Viên của tôi cũng đi vắng, tôi lại “ xử lý thƣờng vụ “ nghĩa là tạm thời thay mặt ông giải quyết mọi việc, trừ việc thật đặc biệt quan trọng. Khi xe Quân Cảnh dẫn trƣớc chiếc xe gắn bảng đỏ với 3 ngôi sao trắng của Tƣớng Trƣởng đậu trƣớc cửa, tôi ra đón chào và mời Ông vào. Tƣớng Trƣởng mặc quân phục bộ binh, đội mũ sắt 2 lớp ( Ông luôn làm gƣơng cho các Sĩ Quan là lúc nào cũng trong tính trạng sẵn sàng tác chiến), đeo súng ngắn bên thắt lƣng dã chiến) đứng nói chuyện với tôi vài ba phút ngay trƣớc cửa, rồi ông bảo tôi dẫn đi thăm anh em nhân viên làm việc của Tòa Án. Sau khi đi thăm lòng vòng 1 lúc, ông trở lại văn phòng của tôi và nói : Thiếu Tá nhớ luôn luôn nhắc nhỡ anh em về tinh thần làm việc và tôn trọng kỷ luật quân đội. Chợt ông hỏi tôi : trƣớc khi làm việc ở đây, Thiếu Tá có phục vụ ở 1 đơn vị nào khác không ? Tôi hơi ngạc nhiên, nhƣng chợt hiểu ra và trả lời: thƣa Trung Tƣớng , trƣớc kia tôi phục vụ tại Tiểu Đoàn Truyền Tin Quân Đoàn 1, dƣới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Viên, và trƣa nào chúng tôi cũng sang Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Quân Đoàn ăn cơm, thƣờng có sự hiện của Trung Tƣớng. Ông à! một tiếng, không nói gí thêm rồi bắt tay tôi từ giã ra xe, rời Toà Án. Khi Ông đi rồi, tôi có hỏi một vài nhân viên đứng phìa sau gần đó: anh em có hiểu tại sao ông Trung Tƣớng hỏi tôi câu đó không? Có anh em đoán đúng ý tôi: Tại Trung Tƣớng thấy coi bộ cả Tòa chỉ có một mính Thiếu Tá mặc quân phục, đầu tóc giống Trung Tƣớng nhiều hơn, còn lại không mấy ai giống Trung Tƣớng cả. Ông Tƣớng Trƣởng thông cảm cho 1 cơ quan chuyên môn là Tòa Án cho nên nhiều anh em đầu tóc không 31 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng – Nam Phong tổng hợp - www.vietnamvanhien.net cắt cao kiểu “lình“, quân phục là đồ tác chiến nhƣng thƣờng không bỏ ống vào trong giầy cao cổ, Sĩ Quan thí hầu hết là Luật Sƣ dân sự động viên đi học Trƣờng Sĩ Quan trừ bị Thủ Đức hay Sĩ Quan tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa, tập sự mấy năm thành phán rồi về thẳng đây phục vụ cho nên đầu tóc, quân phục làm sao mà giống ông Trung Tƣớng gốc nhẩy dù này đƣợc ! B/- Trích Báo Calitoday online: (Ngày 22 -1 - 2007 )

 

Chiến dịch Ia Drang 1965

Võ Trung Tín

https://www.bhmpics.com/wallpapers/battle_of_ia_drang-1680x1050.jpg

Advertisements
REPORT THIS AD

Trận Ia Drang (từ 28 Tháng Mười, 1965 đến 18 Tháng Mười Một, 1965)

Sau khi liên quân Việt-Mỹ đánh bật Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) ra khỏi vòng đai căn cứ Pleime và giải vây cho đơn vị trú phòng, ngày 27 Tháng Mười, 1965, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 đã phối hợp với Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Quân Khu 2 mở một cuộc hành quân quy mô tổng truy kích ba trung đoàn 32, trung đoàn 33 và trung đoàn 66 CSBV ở vùng núi Chu Prong. Nỗ lực chính trong cuộc hành quân này là một số đơn vị bộ chiến của Sư Đoàn 1 Không Kỵ (1st Air Calvary Division) Hoa Kỳ, trong đó có năm tiểu đoàn của các Trung Đoàn 7, 8, và một thành phần của trung đoàn 9. Cuộc hành quân xuất phát từ Pleiku trải rộng về hướng biên giới Miên Việt. Chỉ huy trực tiếp lực lượng xung kích của cuộc hành quân giai đoạn đầu là Đại Tá Harlow Clark, lữ đoàn trưởng của Lữ Đoàn I thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ. Nhiệm vụ chính của Lữ Đoàn là thực hiện các cuộc hành quân bộ chiến theo phương thức các đơn vị tác chiến được trực thăng vận (không kỵ) nhảy xuống trận địa từ trực thăng của các Đại Đội Trực Thăng cơ hữu để truy lùng và tiêu diệt địch quân.

Advertisements
REPORT THIS AD

Giai đoạn I: (All the Way: từ ngày 28 Tháng Mười, 1965 đến ngày 8 Tháng Mười Một, 1965)

Ngày 28 Tháng Mười, 1965, Lữ Đoàn I Không Kỵ được trực thăng vận chở đến phía Tây trận địa Plei Ia Priêng, Quynh Kla và suối Ia Mơ, nơi mà chiến đoàn VNCH trước đây bị phục kích trong trận công đồn đã viện Pleime của CVBV. Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn đóng tại đồn điền trà Catecka, nằm trên quốc lộ 19 và cách quốc lộ 14 độ 4km. Vùng hành quân rộng lớn đến 120 km2 được chia làm 3 khu vực nhỏ mang tên ba vị Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Hoa Kỳ: Shoe, Jim, Earl.

Ngày 1 Tháng Mười Một, 1965 lúc 7 giờ 30, các trực thăng thám thính phát giác sự hiện diện của cán binh Việt Cộng khoảng một trung đội lẩn khuất trong vùng thung lũng tại 10 cây số Tây Nam của trại Pleime. Lữ Đoàn 1 Không Kỵ ngay lập tức thả xuống một Đại Đội Trinh Sát chận đánh. Sau một cuộc chạm súng, quân Cộng Sản bị bất ngờ nên hốt hoảng bỏ chạy để lại 20 xác chết cùng 19 tên bị bắt sống. Cuộc hành quân tảo thanh liền được khai triển tiếp theo và quân Mỹ đã khám phá một bệnh viện dã chiến cấp Trung Đoàn tại phía Tây của trại Pleime khoảng 9km. LĐIKK đã đột kích bắt gọn toàn thể nhân viên và tịch thu nhiều tấn các trang bị, thuốc men và dụng cụ giải phẫu chế tạo tại các nước Cộng Sản còn mới nguyên tổng cộng trị giá khoảng $40,000.

Advertisements
REPORT THIS AD

Đến chiều, trong khi việc di tản chiến lợi phẩm bằng trực thăng tiếp diễn, một đơn vị Cộng quân cấp Tiểu Đoàn thuộc Trung Đoàn 33 âm thầm di chuyển tới gần và mưu toan bao vây và tấn công các vị trí đóng quân của Mỹ ngay tại bệnh viện (CSBV muốn cứu thoát một đại tá Cộng Sản, có thể là Đại Tá Hà Vi Tùng, đang bị thương nằm điều trị tại đây). Lữ Đoàn 1 KBKV tức thời điều động các đơn vị bao vây khu vực. Giao tranh ác liệt kéo dài suốt năm giờ liền. Đến gần sáng Cộng quân rút lui bỏ lại tại trận 250 xác, 44 tù binh, phỏng đoán có đến 200 bị thương rút về hướng biên giới Miên Việt. Trong trận nầy, phía Hoa Kỳ có 12 binh sĩ tử trận, 51 người bị thương, 8 trực thăng bị hư hại. Chiều ngày 2 Tháng Mười Một, các đơn vị Mỹ rút khỏi khu bệnh viện và tiếp tục truy lùng tàn quân Cộng Sản quanh quẩn lẩn khuất đâu đó.

Khu vực hành quân giai đoạn 1 của LĐIKK Hoa Kỳ

Advertisements
REPORT THIS AD

Chiếm được bệnh viện dã chiến của địch là một khám phá lớn của Sư Đoàn Không Kỵ, ngoài việc hủy diệt các lực lượng Việt Cộng, nó cũng đã cung cấp các tài liệu tình báo quý giá, đặc biệt là một bản đồ ghi rõ các đường tiếp liệu và tiến quân trong chiến dịch của CSBV.

Ngày 3 Tháng Mười Một, 1965, lúc 9 giờ đêm, Tiểu Đoàn 1/9 KBKV hành quân phục kích ngay trung tâm của vùng Chu Prông – Ia Drang đã chạm địch và tiêu diệt một đơn vị vận chuyển vũ khí cấp Đại Đội của Trung Đoàn 33 CSBV. Đến 9 giờ đêm, Tiểu Đoàn 8 thuộc Trung Đoàn 66 CSBV (Trung đoàn nầy vừa mới xâm nhập vào Nam từ Tỉnh Quảng Ninh sau hai tháng lội bộ) trở lại bao vây và tấn công Tiểu Đoàn 1/9 tại bãi đáp Mary, lực lượng hành quân chống trả mãnh liệt, giao tranh kéo dài đến 4 giờ sáng, Việt Cộng rút lui bỏ lại 112 chết (đếm được xác), hơn 200 khác ước tính chết và bị thương và 30 vũ khí tịch thâu.

Advertisements
REPORT THIS AD

Sáng ngày 4 Tháng Mười Một, 1965, hai Đại Đội B và D của Tiểu Đoàn 1/8 KBKV được trực thăng vận đến thay thế các đơn vị chạm địch từ hôm qua để truy kích địch quân và thu dọn chiến trường tìm thấy 22 xác Việt Cộng thuộc Trung Đoàn 33 chính quy.

Trong khi đó, Đại Đội B của TĐ2/12 KBKV cũng chạm địch tại gần vị trí bệnh viện đã khám phá một kho chôn giấu vũ khí quân trang quân dụng và thực phẩm tại 5 cây số phía Tây của Trại Pleime, gần cạnh sông Ia Meur. Việt Cộng bỏ lại tại trận địa 72 xác chết và một tù binh thuộc Trung Đoàn 66/SĐ304 chính quy CSBV vừa vượt biên giới vào Nam. Về phía Mỹ có 4 tử thương, 25 bị thương.

Lực lượng hành quân tiếp tục truy kích địch qua phía Bắc của bệnh viện dã chiến của Việc Cộng, các cuộc đụng độ gia tăng, Việc Cộng bắn sẻ vào các đơn vị của Tiểu Đoàn 2/8. KBKV, chiến sự giảm cường độ khi trời tối. Trong khi đó các tù binh bắt được khai báo Trung Đoàn 33 đang di chuyển về núi Chu Prong.

Advertisements
REPORT THIS AD

Ngày 5 Tháng Mười Một, 1965, Tiểu Đoàn 2/8 Cavalry được lịnh hành quân chận địch và Pháo binh yểm trợ được di chuyển từ Cavalair đến Falcon. Nhiều trận đụng độ đẫm máu xảy ra tại phía Bắc của sông Ia Meur giữa các đơn vị của Tiểu Đoàn 2/8 KBKV với Tiểu Đoàn 6 Trung đoàn 33 Cộng Sản kéo dài tới ngày 7 Tháng Mười Một mới chấm dứt. Tiểu Đoàn 6 thuộc Trung Đoàn 33 gần như bị tiêu diệt với 77 xác bỏ lại chiến trường (đếm được xác) gần 400 khác ước tính bị giết và bị thương. Mỹ phải dùng đến 3 chiếc Chinook để chở chiến lợi phẩm.

Từ ngày 6 Tháng Mười Một, 1965, Lữ Đoàn 1 KBKV tập trung cả 3 Tiểu Đoàn trực thuộc càn quét vùng chạm địch có diện tích khoảng 2,500 km2 trong ba ngày liên tiếp, hy vọng tiêu diệt các Trung Đoàn 32 và Trung Đoàn 33 CSBV, nhưng trong các cuộc đụng độ thực hiện trên, không thấy tăm hơi Trung Đoàn 32. Mặc dù con số tổn thương Việt Cộng, gồm cả số trong đợt đầu lên tới 1,500 người, lại tìm thấy thêm một trung đoàn – Trung Đoàn 66 – đã được đưa thêm vào thế trận.

Advertisements
REPORT THIS AD

Giai đoạn II: (Silver Bayonet: từ ngày 9 Tháng Mười Một, 1965, đến 17 Tháng Mười Một, 1965)

Cuộc hành quân của Lữ Đoàn I Không Kỵ không đánh trúng được tâm điểm trú ẩn của lực lượng CSBV, BTL lực lượng tham chiến Hoa Kỳ dựa vào các thông tin tình báo thiếu sót nên đánh giá có thể là các đơn vị của Trung Đoàn 32 đã chuồn mất về hướng Đông, do đó Tướng Kinnard cho các đơn vị thuộc SĐIKBKV tiến về phía Đông và Nam của Trại LLĐB Pleime để truy lùng quân địch. Ngày 9 Tháng Mười Một, 1965, LĐ3KBKV do Đại Tá Thomas “Tim” Brown chỉ huy được lịnh không vận vào vùng để thay thế LĐ1 của Đại Tá H.Clark và cuộc hành quân của LĐ3KBKV được chuyển trọng tâm từ Tây sang Đông bắt đầu vào ngày 10 Tháng Mười Một, 1965.

Advertisements
REPORT THIS AD

Trong khi tin tức tình báo VN của Quân Đoàn II thì cho biết Trung đoàn 66 CSBV gồm 3 Tiểu Đoàn 7, 8 & 9 vừa mới từ Bắc Việt xâm nhập vào Tây Nguyên đang ém quân đóng thành hàng dọc theo sông Ia Drang (làng Tung, phía Tây của Plei Me) mà chờ lệnh sẽ rùng rùng ào ra. – Trung Đoàn 32 đang ở phía Bắc sông Ia Drang trong cùng vùng – Trung Đoàn 33 cũng đang ém quân tại các vị trì kế cận làng Anta (theo danh xưng Việt Cộng), các cánh quân nầy đều đang ở vị trí phía Đông của rặng núi Chu Prông (tức là phía Tây của Plei Me).

Theo cung từ của một sĩ quan chính trị viên hàng binh (Thiếu Úy CSBV Bùi Văn Cường – đã đầu hàng lúc 8 giờ 44 ngày 7 Tháng Mười Một): Sáng ngày 11 Tháng Mười Một, Bộ Tư Lệnh Tiền Phương B3 của CSBV sẽ triệu tập một buổi họp các trung đoàn trưởng, kể cả chỉ huy trưởng của Trung Đoàn 66 mới đặt chân tới chiến trường để điều nghiên kế hoạch cho một cuộc tái tân công một mặt trận mới. Mục tiêu chính của cuộc tấn công nầy là hủy diệt trại LLĐB Plei Me. Vì tin chắc các lực lượng hành quân của Mỹ và VNCH đã đánh mất vết tích của các đơn vị của họ, Mặt Trận CSBV của Chu Huy Mân khởi động thế trận nầy để lấy lại ưu thế bằng một cuộc tập kích lần thứ hai vào trại LLĐB Pleime được ấn định vào ngày 16 Tháng Mười Một với sự tham dự của cả ba Trung đoàn cũng như một tiểu đoàn pháo 120 ly và một Tiểu đoàn súng phòng không hai nòng 14.5 ly. Cả hai đơn vị này đang trên đường xâm nhập và dự tính sẽ tới nơi kịp thời.

Advertisements
REPORT THIS AD

Nhưng kế hoạch của Chu Huy Mân sẽ chẳng bao giờ có dịp được đem ra thực hiện vì chỉ vài ngày sau đó, ngày 13 Tháng Mười Một, 1965, BTL Sư Đoàn KBKV đã sử dụng tin tức tình báo của VNCH cung cấp về vị trí của quân Việt Cộng ẩn nấp tại rặng núi Chu Prong và quyết định đánh vào nơi mà quân CSBV đang nằm phục kích chờ đó. Rặng Chư Prong cao độ 720 mét có thể quan sát kiểm soát quanh vùng Ia-Drang. Lữ Đoàn 3 KBKV đã đánh thốc trở lại hướng Tây

Ngày 12 Tháng Mười Một, 1965, lúc 1 giờ 15, một đơn vị đặc công CSBV gồm 26 bộ đội trong toán tiền kích trang bị 4 súng cối có du kích địa phương hướng dẫn, đột kích thử sức vào hậu cứ Lữ Đoàn 3 tại đồn điền trà Catekca, (mặc dầu có một thiếu tá Dù VNCH đã cảnh cáo là quân của CSBV thường đánh sau lưng Bộ Chỉ Huy trong lúc đơn vị vừa hoán đổi). Nhưng nhờ có chó canh phòng quân khuyển nên cuộc đột kích này không thành công. Kết quả địch quân đã bỏ xác tại trận 6 tên, bên Hoa Kỳ chết 7 người và bị thương 23 người. Tìm được hơn 100 gói bánh chất nổ bộc phá của địch bỏ lại để liệng vào trực thăng và bồn nhiên liệu quanh đó.

Advertisements
REPORT THIS AD

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/5d/Iadrang-map.jpgPhóng đồ trận đánh tại Lz Xray

Advertisements
REPORT THIS AD

Bãi đáp X-Ray ngày 14 Tháng Mười Một, 1965

Chu Prong với địa thế núi rừng trùng điệp, căn cứ của bộ tư lệnh B3 tiền phương gần sát biên giới Miên-Việt có các đơn vị yểm trợ với nhiều kho tiếp liệu. Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 66 và Tiểu Đoàn 7 chiếm một khu lều trại nối tiếp nhau ở mặt phía Đông, Tiểu Đoàn 8 đóng ngay trong thung lũng Ia Drang cách đó 8km. Mặc dù mỏi mệt và đói khát vì đoạn đường bôn tập, bộ đội CSBV phải làm ngay lều trại, đào công sư phòng thủ, chuyên chở gạo nước đạn dược từ các hầm tiếp vận của mặt trận B3. Trung đoàn nầy được coi là đầy đủ quân số.

Mỗi tiểu đoàn CSBV có khoảng 500 bộ đội, mỗi đại đội có từ 100 đến 120 người, trang bị súng trường tự động AK-47, SKS, tiểu liên, trung liên, súng phóng lựu RPG, súng cối 82 ly và súng không giật. Phần lớn các bộ đội chưa quen với địa thế.

Advertisements
REPORT THIS AD

Sáng sớm ngày 14 Tháng Mười Một, vào lúc 4 giờ rưỡi sáng, Sư Đoàn 1 KBKV đã phát giác ra vị trí của Tiểu Đoàn 9 thuộc Trung Đoàn 66 tại sườn núi Chu Prông. Do đó , Tiểu Đoàn 1/7 KK với quân số khoảng 450 người, do Trung Tá Harold G. Moore chỉ huy được trực thăng vận vào vị trí bãi đáp X-Ray dưới chân rặng núi Chu Prong với nhiệm vụ tìm và diệt địch. (Trung Tá Harold G.Moore, 42 tuổi, xuất thân trường võ bị West Point lớp 1945)

Địa thế vùng này không nhiều cây to nhưng khá um tùm và đặc biệt nhiều cỏ voi cao ngang đầu người bao quanh nhiều gò mối khổng lồ, to như một căn nhà chòi.

Sau 30 phút, hỏa lực pháo binh, hỏa tiễn, không quân cày nát bãi đáp, 16 chiếc trực thăng chuyển quân được trực thăng võ trang hộ tống bắt đầu đổ Đại Đội B/1/7 (quân số 109 người) xuống bãi đáp Xray, cách Pleime khoảng 14km về phía Tây. Bãi đáp chỉ tiếp nhận mỗi đợt bốn chiếc trực thăng đổ quân, đến 2 giờ chiều, sau hơn 3 tiếng chỉ chuyển vận được 3/4 tiểu đoàn. Tiểu Đoàn Trưởng, Trung Tá Harold G. Moore, thân chinh cùng Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, đại đội xung kích – Đại Đội B – đổ bộ đúng 10 giờ 48. Đại Đội Trưởng Đại Đội B, Captain John Herren lo thiết lập an ninh bãi đáp, ra lệnh các Trung Đội lục soát các khu vực chung quanh và đã tập kích bất ngờ vào vị trí Tiểu Đoàn 9/66 trong thế chưa sẵn sàng ứng chiến. Vào khoảng 11 giờ 20, Tiểu Đội của Trung Sĩ John Mingo bất ngờ bắt được một tù binh CSBV (không võ trang), tên này khai là chỉ ăn chuối thay cơm trong năm ngày qua và cho biết có ba Tiểu Đoàn thuộc Trung đoàn 66 CSBV hiện đóng quanh núi Chu Prong.

Advertisements
REPORT THIS AD

Lúc 12 giờ 10, các Đại Đội A, quân số 106 người do Đại Úy Tony Nadal chỉ huy, và C Captain Bob Edwards chỉ huy, cũng lần lượt được thả xuống. Sau khi đổ quân các đơn vị được bung rộng ra lục soát chung quanh bãi đáp X-ray. Trung Tá Moore điều động Đại Đội C (Charlie) thủ mặt Tây, ĐĐ A (Alfa) thủ phía Tây Bắc, và ĐĐB (Braovo) thủ mặt Đông Bắc. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn trấn thủ phía Đông Nam. Một dòng suối cạn chạy dài từ Tây Nam ôm sát bãi đáp lên hướng Đông Bắc gần tới bãi đáp Albany xa khoảng 3 dặm.

Khi chiếc trực thăng đầu tiên bay đến, các tay chỉ huy Trung Đoàn 66 và Tiểu Đoàn 9 CSBV đang đi điều nghiên địa thế ở bờ Sông Ia Drang, cách nơi đóng quân hàng chục cây số. Chính ủy trung đoàn 66 là Nguyễn Ngọc Châu và tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 9 cũng không có mặt ở Bộ Chỉ Huy.

Advertisements
REPORT THIS AD

Từ Bộ Tư Lệnh mới thiết lập trên đỉnh Chu Prong, Nguyễn Hữu An chỉ huy mặt trận B3 tiền phương tỏ ra mất tinh thần khi thấy máy bay và pháo binh Mỹ tàn phá nơi đóng quân Tiểu Đoàn 9 với những đợt trực thăng nhào xuống phía bên kia núi.

Dưới trận mưa bom, các trạm tiền tiêu của tiểu đoàn nầy đã bị tiêu diệt gọn, Tiểu Đoàn 9 không phát hiện ra là lính Mỹ đang tiến tới, cho đến khi còn cách độ 100 mét họ mới biết. Quân Mỹ chia thành hai cánh, một tiến thẳng vào đại đội 11 của Tiểu Đoàn 9 và một đánh thẳng vào bộ chỉ huy tiểu đoàn.

Khoảng 12 giờ 45, các trung đội tiền đồn của Đại đội B (1st Platoon, Lieutenant Al Devney; 2nd Platoon Lieutenant Henry Herrick and the 3rd Platoon, Lieutenant Dennis Deal) bắt đầu chạm địch trong một cuộc đọ súng với tầm mức tương đối nhẹ và Cộng quân cũng bắt đầu pháo vào vị trí đóng quân.

Advertisements
REPORT THIS AD

Cuộc nổ súng bắt đầu, Tiểu Đoàn 9 CSBV gần như bị tê liệt. Riêng đại đội trưởng Đại Đội 11 cố gắng chống đỡ cuộc tấn công, nhưng chính trị viên tiểu đoàn hoảng sợ, người tạm thay tiểu đoàn trưởng chỉ huy, hắn chôn chân dưới hầm, tiểu đoàn coi như không có người chỉ huy. Tiểu đoàn trưởng từ bờ Sông Ia Drang chạy trở về đơn vị, gặp Đại Đội 11 khoảng một giờ sau, nhưng không liên lạc được với ai trong đơn vị.

https://s-media-cache-ak0.pinimg.com/originals/86/82/af/8682af18b767826d2b4d7b3e39a08d4f.jpgTrung Tá H.G. Moore

Advertisements
REPORT THIS AD

(Trận đánh tại bãi đáp X-Ray là trận đánh kinh hoàng nhất cho đời Trung Tá H.G. Moore mà sau nầy ông thăng lên cấp thiếu tướng vẫn không tài nào quên được, Tiểu Đoàn 1/7 mà ông là tiểu đoàn trưởng, đơn vị chủ yếu trong trận đánh X-Ray mà phim ảnh Hollywood gọi là “We were Soldiers” sau 37 năm họ dựng lại một đoạn đánh để đời của Trung Tướng H.G Moore.)

Vào lúc 2 giờ chiều, Nguyễn Hữu An ra lịnh cho hai tiểu đoàn 7 & 9 của Trung Đoàn 66 đồng loạt tấn công ba mặt vào bãi đáp X-Ray. Ngay lúc đó, Đại Đội Trưởng Đại đội B báo cáo bị ít nhất hai đại đội địch tấn công. Cộng quân tập trung hỏa lực bắn xối xả vào hai trung đội đi đầu và đã gây thiệt hại khá nặng cho hai trung đội này và Trung Đội 2B1/7 của Trung Úy Henry Herrick bên cánh phải đả đuổi theo một đám địch quân ẩn hiện phía cạnh sườn phải và đã tiến xa hơn 100 thước, nên bị tách rời khỏi đại đội. Khi tới một khoảng trống, trung đội bất ngờ chạm trán hơn 50 địch quân. Herrick bình tĩnh chỉ huy trung đội tấn công và gây thương vong cho hơn phân nửa số địch mà không bị tổn thất nào đáng kể. Cộng quân sau đó bu lại bao vây và chia cắt Trung Đội 2B1/7 cách xa tiểu đoàn bởi một lực lượng Việt Cộng đông đảo. Cuộc chạm súng gia tăng cường độ, Herrick cấp tốc liên lạc với đại đội, đồng thời thiết lập chu vi phòng thủ tại một gò đất. Trong vòng 25 phút giao tranh, đã có 5 quân Mỹ bị tử thương trong đó có Trung Đội Trưởng Herrick. Trước khi hy sinh viên thiếu úy này còn đủ bình tĩnh báo cáo số anh em bị thương vong cho đại đội, trao quyền chỉ huy lại cho Trung Sĩ Palmer, và ra lệnh phá hủy mật mã, đồng thời vẫn còn tỉnh táo gọi pháo binh bắn yểm trợ rồi buông máy ra đi. Nhưng cũng không lâu sau đó cả hai Trung Sĩ Palmer và người phụ tá là Trung Sĩ Stoke cũng bị đạn địch đốn ngã. Trung Sĩ Nhất Savage lên chỉ huy và liên tục kêu pháo binh nhả đạn chính xác vào quân địch đang bao vây tứ bề. Tới lúc này trung đội đã có tám người chết, 13 người bị thương. Nhưng nhờ sự bình tĩnh chỉ huy của Savage cũng như lòng can trường của y tá Charlie Lose, liều chết bò trườn dưới lằn đạn của địch để băng bó thương tích cho đồng đội. Trung đội được mệnh danh là “xé lẻ” đã giữ vững vị trí chiến đấu trong suốt thời gian bị Cộng quân Bắc Việt bao vây và tấn công.

Advertisements
REPORT THIS AD

Những Binh Sĩ của Đại Đội B/1/7th Cavalry lục soát khu vực quanh X-Ray

Khoảng 2 giờ 30, Đại Đội D (Delta) do Đại Úy Ray Lefebvre chỉ huy với quân số đầy đủ được trực thăng vận đổ xuống, như vậy là TĐ 1/7 đã có mặt cả 4 đơn vị cấp đại đội A, B, C, D. Đại Đội D đã nhanh chóng xen vào cùng 3 đại đội kia lập tuyến phòng thủ. Trong khi đó pháo cối 60 và 81 ly của địch tiếp tục rót xuống bãi đáp, Cộng quân ngày càng tấn tới từ phía núi. Đại Đội A liền được điều động di chuyển sang bên cánh trái của Đại Đội B để bảo vệ cạnh sườn. Đại Đội C được lệnh chiếm một vị trí ngăn chận bên ngoài bãi đáp về phía Nam và Tây Nam để tránh cho bãi đáp khỏi bị tràn ngập và cũng để bảo vệ cạnh sườn trái của Đại Đội A. Tiểu Đoàn Trưởng Moore cũng đã gọi pháo binh và không quân yểm trợ tối đa. Hỏa lực không yểm và pháo yểm được lệnh bắn phá vào phần ven triền núi và tiến dần lên núi để chận đường viện quân của địch tới bãi đáp từ hướng Tây và Nam.

Advertisements
REPORT THIS AD

Đợt dội bom của không quân vừa dứt, Cộng quân với khoảng 400 tên từ Chu Prong tràn xuống dọc theo dòng suối cạn, chia làm hai cánh tấn công trực diện Đại Đội A và đánh thốc vào cạnh sườn Đại Đội C với ý định chẻ lực lượng Mỹ ra làm hai.

Một lực lượng Việt Cộng ít nhất cũng một đại đội tiến dọc theo ven phía Tây của bãi đáp tấn công trực diện vào Đại Đội A. Giao tranh bùng nổ dữ dội, nhờ hai khẩu đại liên M.60 do các binh nhất Ladner và Adams là xạ thủ, cách nhau không quá 10 thước.

Ngay khi cuộc giao tranh với Đại Đội A bùng nổ, một lực lượng khác gồm từ 175-200 địch quân tiến tới bãi đáp và đánh thẳng vào Đại Đội C. Địch quân bị chận đứng và nhiều bộ đội đã bị ngã gục dưới hỏa lực của các khẩu đại liên khi cố xông tới chiếm cứ bãi đáp. Cuộc giao tranh kéo dài khoảng một tiếng rưỡi cho đến khi địch bị rối loạn đội hình buộc phải tháo lui dưới hỏa lực không kích và pháo kich, lôi theo nhiều xác chết và quân sĩ bị thương.

Advertisements
REPORT THIS AD

Trận đánh tại bãi đáp X-Ray

Lúc 3 giờ 30 chiều, hỏa lực địch bắt đầu thuyên giảm dưới sức phản công của hai đại đội C và D. Cuộc tấn công của họ bị khựng lại vì tổn thất khá nhiều. Chúng rút lui về phía rừng cây sau những đám cỏ voi.

Rảnh tay, Tiểu Đoàn Trưởng Moore ra lệnh các đơn vị lo di tản thương binh tu sửa vị trí phòng thủ và tái phối trí lực lượng. Sau đó, điều động một cuộc tấn công để tiến tới giải cứu Trung Đội 2B1/7 của Herrick đang vị bao vây. Hai đại đội tiến quân được chừng 70 thước dọc theo bờ suối thì bị một tổ đại liên của địch bố trí sau một gò mối, khai hỏa ồ ạt, gây nhiều tử thương cho binh sĩ. Thiếu Úy Marm, một mình lẻn ra phía sau gò mối, tung từng đợt lựu đạn và bắn rỉa M.16 vào tổ đại liên địch, hạ sát tại chỗ 12 tên, trong đó có tên sĩ quan chỉ huy của chúng.

Advertisements
REPORT THIS AD

Tới lúc này khoảng 5 giờ 40, chiều núi rừng đổ xuống thật mau. Trung Tá Moore ra lệnh cho hai đại đội quay trở lại vị trí xuất phát cố thủ qua đêm. Tạm thời kiểm điểm quân số thì Đại Đội B thiệt hại 47 (kể cả 1 Sĩ Quan), Đại Đội A bị 34 (3 Sĩ Quan), Đại Đội C bị tấn công nặng nhất nhưng chỉ bị thiệt hại có 4 người. Về phía Cộng quân thiệt hại rất lớn, xác địch ngổn ngang chung quanh vị trí của tiểu đoàn không kịp đếm.

Khoảng 6 giờ chiều, Đại Đội B thuộc Tiểu Đoàn 2/7 đổ bộ để tăng cường cho Tiểu Đoàn 1/7. Pháo Binh tác xạ bảo vệ tuyến phòng thủ cho các đơn vị suốt đêm kể cả trung đội đang bị bao vây. Lợi dụng bóng đêm, cộng quân đã tấn công trung đội nầy ba lần, nhưng đều bị đẩy lui vì súng, lựu đạn mặc dù quân số trung đội nầy chỉ còn bảy người khỏe mạnh với 13 bị thương và 9 tử trận. Cộng quân đã dùng “Tù Và” thổi để thúc quân, hòng uy hiếp tinh thần và mong dứt điểm đối phương. Từ nơi xa, pháo đội bạn đã bắn đến viên đạn thứ 4 ngàn trong đêm.

Ngày 15 Tháng Mười Một, 1965

Vì bị tổn thất nặng vào buổi chiều, địch chỉ đánh dạm nhẹ xung quanh chu vi phòng thủ vào ban đêm. Còn trung đội bị cô lập thì bị ba đợt tấn công riêng rẽ nhưng nhờ vào hỏa lực pháo cận phòng liên tục, khi trời sáng, nhiều xác địch nằm ngổn ngang xung quanh trung đội.

Thượng Tá Nguyễn Hữu An tức giận hai Tiểu Đoàn tấn công quân Mỹ khi chưa kịp tổ chức phòng thủ mà không làm gì được nên tung thêm một tiểu đoàn của Trung Đoàn 33 tập kích gấp rút để tấn công vào quân Mỹ lúc 2 giờ sáng, nhưng đơn vị nầy ờ khoảng cách xa, đi lạc đường và lộ mục tiêu vì dùng đèn pin chiếu sáng khi di chuyển nên bị phi cơ Mỹ phát giác và oanh kích.

Khi mặt trời vừa ló dạng, địch quân tái xuất hiện và đồng loạt tấn công từ ba phía Nam, Tây Nam và Đông Nam. Vào khoảng 7 giờ 30, hai Tiểu Đoàn 7/66 CSBV và H15 tấn công vào tuyến phòng thủ của các Đại Đội A, C & D. Địch quân đã di chuyển gần sát chu vi phòng thủ mặc dù bị pháo binh, bích kích pháo và không kích tiếp cận gây tổn thất nặng nề. Có nhiều cuộc đánh xáp lá cà xảy ra. Lúc 8 giờ hơn, hai phản lực cơ F-100 bay đến yểm trợ, oanh tạc lầm vào đơn vị bạn làm chết thêm một số người.

Vào khoảng 9 giờ 10, theo lời yêu cầu của Trung Tá Moore Đại Đội A /TĐ 2/7do Đại Úy Joel Sugdinis chỉ huy được trực thăng vận tới tiếp viện. Đại đội nầy được điều động trám vào khoảng trống tiếp theo Đại Đội C.

Sau gần 2 tiếng rưỡi giao tranh, quân Cộng Sản rút lui. Xác địch, vũ khí và quân cụ nằm ngổn ngang đầy ven bờ và phía trước chu vi phòng thủ. Có dấu vết chỉ cho thấy nhiều xác địch và thương binh địch được lôi kéo ra khỏi khu vực giao tranh.

Đơn vị thiệt hại nhất thuộc quyền Trung Tá Moore là Đại Đội Cộng quân số tại hàng khi chưa đụng trận thì đại đội C nầy gồm có năm sĩ quan và 106 binh sĩ. Đến 2 giờ trưa ngày 15 Tháng Mười Một, khi kiểm điểm tình hình thì toàn thể sĩ quan Đại Đội C đều hy sinh, binh sĩ 42 tử thương và 20 bị thương.

Lúc 11 giờ 30, Lữ Đoàn 3 tung Tiểu Đoàn 2/5 do Trung Tá Bob Tully chỉ huy đổ bộ từ bãi đáp Victor rồi tiến sát tới bãi đáp X-ray lúc 12 giờ 5 để giải cứu Trung Đội 2B 1/7 đang vị bao vây. Địch quân chỉ kháng cự nhẹ và trung đội được giải thoát lúc 3 giờ 10. Đơn vị nầy gồm 29 người còn lại 7 người khỏe mạnh 13 người bị thương, tình thần còn tốt và chỉ bị 9 chết kể cả trung đội trưởng và trung đội phó. Tất cả những người bị thương và chết đều được di tản.

Đêm đến, lực lượng Mỹ lại bố trí phòng thủ qua đêm thứ nhì. Tiểu Đoàn 2/5 CAV được giao cho phòng thủ một nửa chu vi cứ điểm.

Ngày 16 Tháng Mười Một, 1965

Ngày nầy lực lượng phòng thủ đã có hai tiểu đoàn, những tưởng địch quân sẽ tháo lui vì thiệt hại quá nhiều, yếu tố bất ngờ, lấy nhiều đánh ít đã thất bại… Nhưng Chu Huy Mân ra lệnh đánh tiếp.

Đêm trải qua yên tĩnh đến 4 giờ sáng, hệ thống mìn tự động và trái sáng quanh vị trí phòng thủ bị kích hỏa, pháo binh bắn cận phòng suốt đêm cũng không ngăn được địch quân với một lực lượng gồm 250-300 người len qua màng lưới thép tấn công từ phía Đông Nam. Phi cơ thả trái sáng được gọi đến. Địch quân liên tục tấn công bốn đợt, giao tranh cận chiến đẫm máu cho đến 7 giờ sáng. Trung Tá H.G Moore yêu cầu pháo binh bắn vào khu vực hàng rào kẽm gai quanh trại. Loạt đạn nổ chụp quanh rào làm tất cả các địch quân đang tiến vào doanh trại đều bị tử thương cách hàng rào phòng thủ không đầy 3 mét. Như vậy pháo binh đã bẻ gãy cuộc đột kích và gây tổn thất nặng nề cho đối phương.

Lúc 8 giờ sáng, công cuộc tìm và càn quét quanh căn cứ được thực hiện bởi tất cả các đơn vị trong phạm vi phòng thủ. Xác địch bỏ tại trận trên 200 nằm la liệt khắp cùng khu vực và thu lượm được vô số vũ khí. Đại Đội B/1/7 có chín binh sĩ bị thương.

Tổng kết toàn trận đánh kéo dài liên tục trong 48 tiếng đồng hồ, địch quân tổn thất tại X-Ray gồm:

Chết đếm được xác: 634 . Chết xác mang đi (ước tính): 1215

Bị bắt: 6

Vũ khí bị tịch thu: 141

Vũ khí bị phá hủy: 100

Về phía Tiểu Đoàn 1/7 CAV thì 79 quân sĩ bị thiệt mạng và 121 bị thương được lịnh lui về Pleiku để chỉnh trang. Lúc 3 giờ chiều, Tiểu Đoàn 1/7 bàn giao X-Ray lại cho Tiểu Đoàn 2/7 do Trung Tá Robert Mac Dade và Tiểu Đoàn 2/5 được gởi đến thay thế.

Trung Đoàn 66 CSBV bị tổn thất nặng nề trong trận đánh X-Ray là vì họ bị Tiểu Đoàn 1/7 tấn công bất ngờ (pháo binh tác xạ ngoài rào phòng thủ) và các cán bộ chỉ huy đã không khéo sử dụng địa thế. Các chiến thuật của họ hầu như dựa vào “biển người” và họ quá tự tin là cuộc tấn công của họ sẽ làm cho Tiểu Đoàn 1/7 rã ngũ rất mau chóng. Họ đã không sử dụng các vũ khí cộng đồng trong khi tấn công (Thật ra các khẩu súng cộng đồng và 18 khẩu súng phòng không của họ đều đã bị chiến đoàn QL-VNCH giải vây Pleime tiêu diệt).

Trận đánh Ia Drang của SĐ1 Kỵ Binh Không Vân

Ngày 17 Tháng Mười Một, 1965

Từ chiều ngày 15 Tháng Mười Một, các phóng pháo cơ B52 đã tham gia vào trận đánh với ít nhất năm phi vụ oanh tạc mỗi ngày tại rặng núi Chu Prông. Ngày 17 Tháng Mười Một, các mục tiêu oanh tạc trải thảm của pháo đài bay B52 cũng bao gồm quanh khu vực núi Chu Prong luôn cả bãi đáp X-ray. Hai tiểu đoàn 2/7 và 2/5 được lệnh di chuyển ra cách bãi đáp 3 cây số về hướng Bắc và hướng Đông Bắc tới hai bãi đáp khác gọi là LZ Albany và LZ Columbus .

Việc di chuyển cũng dựa trên ước tính là địch đã rút lui về hướng đó. Vào buổi chiều ngày hôm trước, một trực thăng đã bị bắn rớt trên vùng đó, sự di chuyển của địch cũng nhắm tấn công vị trí pháo binh nằm phía Đông bãi đáp X-Ray, đã từng yểm trợ hữu hiệu cho tiểu đoàn 1/7 trong hai ngày chót. Vào khoảng 9 giờ sáng, hai tiểu đoàn bắt đầu di chuyển theo hai hướng khác nhau, TĐ2nd/7th dưới sự chỉ huy của Trung Tá Robert McDade di chuyển đến LZ Albany khoảng 3km về hướng Bắc-Đông Bắc và TĐ2nd/5th do Trung Tá Bob Tully chỉ huy di chuyển về LZ Columbus khoảng 3km hướng Đông Bắc.

Sau khoảng 3 giờ di chuyển TĐ2/5 đến được mục tiêu LZ Columbus. Trong khi đó, Tiểu Đoàn 2/7 do Trung Tá McDade chỉ huy cũng vừa đến vị trí Albany vào lúc 1 giờ 30 trưa thì bị lọt vào ổ phục kích của các đơn vị Cộng Sản rất đông quân số đang nằm chờ nơi đó từ lâu. Các đơn vị Cộng Sản nầy gồm có Tiểu Đoàn 1/Trung Đoàn 33 CSBV, BCH/Trung Đoàn 33 cùng với TĐ8/Trung Đoàn 66 một đơn vị trừ bị còn sung sức của Chu Huy Mân.

Bộ chỉ huy của TĐ2/7 đi đầu cùng với trung đội Trinh Sát bảo vệ, khi tới nơi, toán trinh sát bắt được 2 tên Việt Cộng đóng chốt đang nằm ngủ. Bắt được tù binh Trung Tá Mc Dade cho lệnh đoàn quân dừng chân nghỉ mệt rồi ông đích thân thẩm vấn hai tên Việt Cộng. Chúng khai rằng Tiểu Đoàn 8/66 hiện đang có mặt quanh đây. Trung Tá Mc. Dade gọi các Đại Đội Trưởng đến họp để ban lệnh. Ngay khi tiểu đoàn đang họp thì Cộng quân nhất loạt xung phong tấn công vào quân Mỹ.

Lợi dụng lúc quân Mỹ đang nằm ngồi ngổn ngang nghỉ mệt, Cộng Quân hàng trăm tên đồng loạt xung phong. Một cánh đánh trực diện đơn vị dẫn đầu của Tiểu Đoàn 2/7 và cánh khác đánh vào cạnh sườn phía bên phải hay phía Đông trong một đội hình phục kích chữ L. Cộng quân tấn công dữ dội vào phòng tuyến Mỹ bằng đủ loại vũ khí và luôn cả đánh xáp lá cà.

Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn 2/7 hoàn toàn bị tê liệt, bị cả một lực lượng đông đảo địch quân tấn công. Trong giờ phút đầu tiên bị tấn công, Lữ Đoàn hay tin nhưng không thể liên lạc được.

Trận chiến kéo dài cho đến trời tối, địch quân đã cắt Tiểu Đoàn 2/7 ra thành từng mảng. Các Binh Sĩ Hoa Kỳ phải ẩn mình trong các vị trí kín đáo để tự chiến đấu. Cộng quân đã gây thiệt hại 50% quân số cho Tiểu Đoàn 2/7. Lúc này quân sĩ Hoa Kỳ gần hết đạn vì hầu hết tất cả quân nhân Hoa Kỳ khi mới đụng trận vào giờ phút đầu thì họ bắn hết phân nửa số đạn mang theo. Quân sĩ Hoa Kỳ thường ỷ y khi đánh trận, bắn cho hết ga, bắn cho sướng tay, càng bắn nhiều thì địch càng chết nhiều. Rồi trực thăng sẽ chở đạn dược đến không cần phải lo. Nhưng khi trực thăng bị lưới phòng không phủ chụp xuống thì việc tiếp tế không thể thực hiện được.

Lúc 3 giờ chiều, Đại Đội B của Tiểu đoàn 1/5 Kỵ Binh do Đại Úy Buse Tully được lịnh di chuyển từ LZ Columbus vào phía sau của Tiểu Đoàn 2/7 cách đó khoảng hai dặm (3km). Lúc 4 giờ 30 chiều, họ đã tiếp cận được với Đại Đội A/2/7 của Đại Úy George Forrest. Một trực thăng tản thương đã hạ cánh an toàn và những thương binh đã được sơ tán. Lúc 6 giờ 25 chiều, các đơn vị nầy đã nhận được lệnh tổ chức vị trí phòng thủ đêm chu vi hai đại đội.

Các Đại Đội C và A bị mất 70 người ngay trong những phút đầu. Đại Đội C thiệt hại nặng nhất, 45 người chết và hơn 50 người bị thương. Các phóng pháo cơ A-1E Skyraider được gởi đến yểm trợ thả bom napalm. Tuy nhiên, do sương mù và sự xen kẽ của quân hai bên đánh xáp lá cà, nên cuộc không kích kém hiệu quả.

Tiểu Đoàn 2, Lữ Đoàn 7 đã gom lại một chu vi nhỏ tại Albany bao gồm những người sống sót của Đại Đội A, trung đội Trinh Sát, Đại Đội C, Đại Đội D và BCH Tiểu Đoàn. Cách xa khoảng 500m về phía Nam là Đại Đội A/2/7 của Đại Úy George Forrest, và Tiểu Đoàn 1/5 Kỵ Binh. Vào khoảng 10 giờ đêm, các trực thăng tản thương đã đáp được xuống Albany để di tản Những thương binh mặc dù đạn phòng không của địch quân dầy đặc.

Đêm về toán địch quân đi thanh toán chiến trường. Tất cả tử thi đều bị địch quân đâm suốt từ tim ra sau lưng, dù tử thi đã chết từ lâu. Thiếu Úy G.A. Custer bị miểng pháo cắt ngang chân, đang nằm chờ chết. Xung quanh anh toàn là người chết xếp lớp. Anh diễn tả khi nghe địch quân “đi thanh toán chiến trường” như sau:

“Họ đi hàng ngang, lưỡi lê kéo dài rất nhọn từ súng AK-47, họ đến từng người lật ngửa xác ra và chĩa lưỡi lê vào ngay tim rồi ấn xuống. Có xác chết từ lâu thì tiếng lưỡi lê hay cây sắt nhọn đâm vào tim, tiếng nghe rất giòn: “Sụt sụt… Ọt ọt,” có nạn nhân đang hấp hối bị đâm suốt vào tim thì người sẽ cong lên và hét lớn lần cuối.” Tiếng thét này đeo đẳng theo Thiếu Úy G.A. Custer suốt đời, từ Ia-Drang đến tận Chicago nơi mà thiếu úy về an dưỡng cuộc đời phế binh 37 năm sau.

Khi đến cách thiếu úy chừng vài mét thì có cuộc trải thảm của B-52 nên Thiếu Úy Custer nghe tiếng kèn thổi lui quân của địch. Và từ đó ông không còn nghe gì nữa cho đến ba tuần sau tại phòng Hồi Sinh của bệnh viện Hoa Kỳ đóng tại phi trường Cù Hanh Pleiku.

Ngày hôm sau, 18 Tháng Mười Một, các đơn vị Mỹ bắt đầu kiểm kê lại trận đánh tại LZ Albany, xác chết đôi bên nằm la liệt trên chiến địa. Tổng kết phía Mỹ thiệt hại 155 tử thương, 124 bị thương và còn lại 171.

Về phía địch quân 403 xác đếm được, tịch thu 147 súng đủ loại. Và sau hết lực lượng Mỹ rút khỏi LZ Albany.

Trận đánh Ia-Drang từng được xưng tụng là chiến thắng ngoạn mục của quân đội Hoa kỳ, nhưng theo nhiều nhà bình luận cho là một thảm họa mà trong đó khoảng 300 bộ binh Mỹ thiệt mạng vì cấp chỉ huy quờ quạng vụng về. Với hỏa lực yểm trợ hùng hậu từ B52, khu trục, phản lực cơ và pháo binh cộng với tốc độ chuyển quân thần tốc của trực thăng vận và lòng dũng cảm chiến đấu kiên cường của người lính, từng ấy ưu điểm đáng lý phải đè bẹp đối phương. Vậy mà để rồi cứ bốn lính Mỹ tham chiến tại IA Drang thì có 1 người bỏ mạng, thế chủ động chiến trường tan theo mây khói và niềm tin vào một thế thượng phong của Hoa Kỳ cũng triệt tiêu.

Trở lại phần phân tích trận chiến, nhiều người đồng ý là lỗi lầm đầu tiên của các tiểu đoàn trưởng là đã không thu thập tin tức tình báo về bãi đáp X-Ray và điểm tới LZ Albany. Các ông cần phải biết rõ về địch tình, địa thế và thời tiết. Các ông chỉ lo tìm vị trí bãi đáp và không để ý đến địch quân dù rằng quân số địch ước tính cả trung đoàn. Họ chọn bãi đáp đỗ quân cho cuộc hành quân rất gần nơi địch quân đang ẩn núp trong dãy núi Chư-Prong. Tình báo chiến trường của họ cho biết là chắc chắn quân địch đang ở biên giới Cambodia từ lâu rồi, vì quanh núi Chư-Prong đoàn phi cơ thám thính không thấy dấu hiệu địch quân như: dấu chân trên cát hay cỏ, không có dấu hiệu khói nấu ăn, không có cành cây gãy khi đại quân đi qua, tất cả an toàn cho bãi đổ quân. Nhưng tất cả đã lầm.

Nơi đây tiểu đoàn hành quân đã chạm địch ác liệt, đến nỗi họ phải kêu pháo đài bay B-52 giội bom lửa sát phòng tuyến của họ. Lệnh này được lập lại ba lần thì phi công B-52 mới dám thi hành. Sau đó các phi vụ B52 đánh bom đến 18 lần trong ngày. B-52 được lệnh từ Pleiku trải thảm bom toàn thể núi Chư Prong chận địch quân đánh xuống khu vực Hoa Kỳ vừa đổ quân và đồng thời cũng chận bít con đường rút quân của Tướng Chu Huy Mân chạy trốn sang Cambodia.

Trích trong “Binh Chủng Nhảy Dù – 20 Năm Chiến Sự:” phần Chiến dịch Ia Drang 1965