Saturday, December 5, 2020

MỘT CUỘC HÀNH QUÂN ĐIỂN HÌNH CỦA QUÂN MỸ TẠI VIỆT NAM.

Chương 8 - Hành quân Apache Snow tháng 5/1969 tại thung lũng A Shau, phía tây tỉnh Thừa Thiên


- Dù các lãnh đạo của nước Mỹ bỏ rơi VNCH, nhưng chúng ta ko quên ơn những chiến sĩ Mỹ đã hy sinh cho đất nước này. 


LỜI NÓI ĐẦU: Sau khi TĐ 3/187 của  trung tá Honeycutt chiếm được núi Động Ngải, họ đã xây dựng căn cứ hỏa lực (CCHL) Airborne và ngày 8/5 cả TĐ được trực thăng vận về căn cứ Evans ở bắc Huế. Đại đội Alpha của TĐ 2/501, cũng thuộc sđ đã thay họ canh giữ CCHL này và chỉ sau đó bốn ngày, căn cứ đã bị đặc công csbv tấn công, đã kể trong bài trước. Riêng TĐ của trung tá Honeycutt, ngày 10/5, nghĩa là hai ngày trước khi CCHL này bị tấn công, đã cùng bốn TĐ khác, trong đó của hai TĐ của VNCH, tham dự cuộc HQ Apache Snow, được mô tả trong phần chuyển ngữ dưới đây từ quyển Hamburger Hill.

===

"Lúc 0710 công tác bắn dọn bãi của pháo binh đã chấm dứt (có năm bãi đáp cho năm TĐ). Vài phút sau, một cặp Cobra đã xuất hiện trên mỗi bãi đáp hay LZ (landing zone) và bắt đầu bắn dọn bãi lần cuối. Trong khi chiếc thứ nhứt hover hay bay đứng một chỗ bên hông của bãi đáp để làm nhiệm vụ bảo vệ, chiếc thứ hai nhào xuống phóng từng đợt hỏa tiển loại nổ cao hay HE (high explosive) xuống bãi đáp và khu rừng chung quanh, và sau đó liên tục tưới đạn minigun 7.62 ly xuống khu vực. (Nói thêm: quân đội Việt-Mỹ đã từng dùng súng trường Garand M-1 bắn đạn 7.62 ly và đại liên 50 bắn đạn 12,7 ly. Sở dĩ có số lẻ như vậy vì đường kính lần lượt của đạn 7.62 ly và 12,7 ly bằng 30/100 và 50/100 của một inch trong khi một inch bằng 25,4 ly -- người dịch). Khi chiếc thứ nhứt bắn hết đạn, chiếc thứ hai nhào xuống làm tiếp công việc.

Khi đó, các đoàn trực thăng chỡ quân chỉ còn cách bãi đáp vài giây. Khi mỗi đoàn này tới gần bãi đáp, chiếc Cobra dẫn đầu của đoàn nhẹ nhàng tách rời đoàn và liên tục tưới đạn minigun 7.62 ly, kế đó lại bắn tiếp đạn phóng lựu 40 ly và cuối cùng là một hay hai đợt rocket chống biển người (flechette rocket). Mỗi rocket chống biển người loại Hydra 70 chứa 1179 mũi tên nhỏ, mỗi mủi tên nặng 3.9 gram. Cùng lúc đó, bốn chiếc Cobra đang bảo vệ cạnh sườn của đoàn máy bay này bay tới bên hông bãi đáp tưới thêm đạn minigun xuống bãi, sau đó là hỏa tiển chống biển người và đạn phóng lựu 40 ly. 

Việc bắn dọn bãi này KÉO DÀI LIÊN TỤC TRONG 74 PHÚT. Đúng 0710, mọi Cobra ngừng bắn và rời bãi và hover (bay đứng một chỗ) bên cạnh bãi đáp, sẵn sàng nổ súng khi cần. 

Trong đội hình chữ V, các máy bay chỡ quân loại UH-1 nảy giờ đang hover gần đó để chờ Cobra dọn bãi, nay bắt đầu vào. Tất cả năm bãi đáp đều quá nhỏ cho 16 chiếc trong mỗi đoàn xuống một lần nên máy bay chỉ xuống mỗi lần 1 hay 2 chiếc. Vì bãi đáp đầy hố bom hay hố đại bác và cây cối đổ vỡ nên máy bay bay đứng một chỗ cách mặt đất 1.5 m tới 3 m để xạ thủ bắn đạn 7.62 ly lần chót. Sau đó, các binh sĩ, với ba lô nặng gần 30 kí, nhảy xuống đất và nhanh chóng bung rộng để lập chu vi phòng thủ. Khi có người xuống thêm, chu vi phòng thủ càng mở rộng. 

Thật là lạ, hầu như việc đổ quân ko gặp trở ngại. Chỉ có TĐ 4/1 của VNCH đã bị bắn sẻ khi an ninh bãi đáp ở đỉnh Núi Trần Lây, và một đ.đ. của TĐ 2/1 VNCH mất một Chinook khi họ bắt đầu xây CCHL Tiger ở núi Ka Lou. Nhưng 3 TĐ Mỹ đổ quân thì ko gặp địch, và đến 9 g sáng họ đã bảo vệ an toàn bãi đáp và đang chuẩn bị tiến tới mục tiêu hay đã tiến tới mục tiêu. Nhiệm vụ cơ bản của 5 TĐ này đều giống nhau, đều hành quân lục soát kỹ lưỡng về hướng tây tới biên giới Lào-Việt và về hướng đông tới thung lũng A Shau. 

Tuy nhiên có 3 TĐ có nhiệm vụ hơi khác. Ở xa về phía bắc, TĐ 2/1 của VNCH phải cắt tỉnh lộ 548, có từ đời Pháp, và ngăn chận mọi địch quân rút lui từ thung lũng, và ở phía nam, TĐ 1/506 của sđ 101 Dù phải ngăn chận xa lộ 923 đi từ biên giới Lào tại giao điểm với tỉnh lộ 548. Ở giữa, tđ 3/187 của trung tá Honeycutt có nhiệm vụ lục soát Động Ấp Bia, mà phòng tình báo của lữ đoàn và sđ 101 nghĩ rằng đã được dùng làm trạm trung chuyển (way station) hàng hóa giữa căn cứ 611 gần đó và mạng lưới dầy đặc các đường mòn ở thung lũng.  

Trung tá Honeycutt rất ngạc nhiên về đợt đổ quân vô sự này vì chỉ 2 tuần trước, trong đợt đổ quân đầu tiên đã rớt 3 máy bay và một số khác hư hại. Ông đã nghĩ rằng sẽ gặp hỏa lực địch hôm nay và rất ngạc nhiên khi cuộc đổ quân quá dễ dàng. 

Thật đúng như vậy. Lúc 0801, đ.đ. Delta của đại úy Luther Sanders, xuống đầu tiên, kế đó là đ.đ. Alpha và Charlie. Trong khi Charlie đang an ninh chu vi bãi đáp thì Delta và Alpha đã bắt đầu hành quân lục soát hai hướng dối diện dọc theo sống núi lớn (large ridge) mà trên đó có bãi đáp: Alpha đi phía tây bắc về biên giới, và Delta đi hướng đông nam về đỉnh của Động Ấp Bia. Honeycutt và bộ tham mưu xuống bãi đáp lúc 0930, ông ra lịnh cho đ.đ. Charlie của đại úy Dean Johnson ko làm an ninh bãi đáp nữa mà bắt đầu hành quân lục soát dọc theo một đường thông thủy (draw) lớn chạy theo hướng tây bắc, hướng về biên giới. Rồi với bộ tham mưu và trung đội cối 81 ly, trung tá Honeycutt đi lên sống núi, hướng về tây bắc, theo sau Delta. 

...

Honeycutt đã bắt tay với đ.đ. Delta của đ.u. Sanders lúc 12 g ở khoảng 1000 m cách đỉnh của Động Ấp Bia. Ở đấy mọi người chuẩn bị một bãi đáp và bch TĐ. Ngày kế trung tá đã dự định lập một bch thường trực hơn trên đỉnh của Động Ấp Bia, nhưng giờ đây ông cần một bch đủ gần để chỉ huy hai đ.đ. Alpha và Charlie đang phối hợp lục soát hướng về biên giới Lào-Việt.

Trên sống núi chật hẹp này, quân sĩ của Honeycutt đã nhanh chóng chuẩn bị một vị trí có hình thuông (oblong). Ở đầu tây bắc của vị trí này, lính công binh với cưa máy đã chặt cả chục cây cao trên 30 mét và những cây thấp hơn và một bãi đáp chỉ đủ một chiếc trực thăng đáp xuống. Ở giữa của vị trí này, các lính công binh đã tạo một lổ hổng trong rừng cây để khẫu cối 81 ly có thể bắn, kế đó ở đầu đông nam của vị trí họ đã dùng dao rựa để cắt bỏ một bụi tre dầy (thick stand of bamboo) để làm chỗ cho bch TĐ. Trong khi những lính công binh làm việc dưới nhiệt độ 100 độ F hay 37.7 độ C, chín mươi tư người lính của đ.đ. Delta đã bao quanh vị trí này với những hố chiến đấu, mìn chiếu sáng và mìn claymore, và đã bắt đầu mở những lục soát nhỏ ở những hẽm núi (ravine) và đường thông thủy (draw) chung quanh để bảo đảm rằng ko có địch quân. 

Những biến cố đã xảy ra nhanh chóng khắp vùng bắc A Shau. Dù cả hai đ.đ. Alpha và Charlie chỉ di chuyển vài trăm mét từ bãi đáp đầu tiên, họ đã khám phá những lều và công sự phòng thủ của địch dọc theo đường tiến quân của họ. Một số lều này lớn - đủ chứa cả một trung đội, với những khu vườn chăm sóc cẩn thận ở phía sau và các công sự sâu và rộng. Đại đội Charlie còn thấy lửa cháy dở dang (smoldering) trong một lều chứng tỏ địch quân đã rời khu vực vài phút trước khi đ.đ. tới. 

Trong khi đó, các phi công của các máy bay quan sát OH-6 Loach, trong khi bay sát ngọn cây để họ có thể nhìn qua những lổ trống trong rừng cây dầy đặc, cũng đã trông thấy nhiều lều và công sự phòng thủ khắp nơi chung quanh Động Ấp Bia. (NÓI THÊM: dù là trực thăng quan sát nhưng chiếc OH-6 có thể trang bị một minigun M134 sáu-nòng bắn đạn 7.62 ly hay một phóng lựu M129 bắn lựu đạn 40 ly. Trong số 1.422 chiếc OH-6 dùng trong chiến tranh VN, đã có 964 chiếc rơi vì hỏa lực địch-- người dịch).  

                 

 MỘT TOÁN SĂN VÀ DIỆT GỒM HAI CHIẾC OH-6 LOACH VÀ HAI CHIẾC AH-1 COBRA 

MINIGUN SÁU NÒNG BẮN ĐẠN 7.62 LY
Vào khoảng1400, một trong những chiếc quan sát nhẹ OH-6, trong một Tổ Săn-Diệt (Hunter-Killer Team) với hai chiếc Cobra, đã phát hiện địch. Trong khi bay đứng một chỗ (hover) trên một khu rừng, ở hai ngàn mét phía tây của Động Ấp Bia, phi công của chiếc OH-6 này, trong khi dùng cánh quạt thổi mạnh để tạo một lổ hổng trong rừng cây, đã thấy 5 hay 6 cán binh csbv chạy khỏi một lều và phóng nhanh xuống một đường mòn gần đó. Phi công đã gọi Cobra, đang bay vòng vòng trong khu vực, và họ đã bắt đầu bắn minigun xuống đường mòn này. Một trong hai Cobra đã hạ hai địch quân, nhưng những tên khác đã trốn thoát vào rừng sâu. 

 Vài phút sau, một quan sát cơ (FAC plane) khác, trong khi bay lòng vòng trên một khu ở đông của Động Ấp Bia, bị bắn bằng phòng không 12.7 ly. Sau khi suýt bị bắn rơi, phi công này đã gọi cầu cứu. Hai oanh tạc cơ đã đến, và sau khi vị trí được đánh dấu bởi chiếc quan sát cơ này, đã ném bốn quả 500 cân Anh. Một quả bom đã rơi đúng vị trí, và phi công quan sát thấy các phần của súng phòng không đã văng cao hơn 9 mét lên trời. 

Khi ông nghe hai sự kiện này và so sánh với những dấu hiệu ngày càng gia tăng của địch mà Alpha và Bravo đã khám phá, trung tá Honeycutt đã ko có chọn lựa nào ngoài kết luận rằng TĐ của ông đã nằm (set down) ngay trung tâm của một loại căn cứ nào đó của địch. Ông chỉ có thể phỏng đoán căn cứ lớn cỡ nào hay bao nhiêu lính địch đóng quân tại đó, nhưng ông đã biết rằng địch có thể tấn công họ bất cứ lúc nào chúng muốn. 

Và đó là điều ông lo nhứt. Nếu quân CSBV đã quyết định chiến đấu tại khu vực này, ông sẽ phải cần thêm viện quân, và họ sẽ phải đổ quân vào những bãi đáp nóng. Và ông nghĩ rằng tốt hơn hết là đổ thêm viện quân vào lúc này trong lúc bãi đáp chưa nóng hơn là lúc diển ra trận chiến. 

Từ lâu đại đội Bravo bị giữ làm trừ bị của lữ đoàn 3 tại CCHL Blaze, nên trung tá Honeycutt đã gọi ĐT Joseph Conny, TL lữ đoàn 3, xin trả lại đ.đ. cho TĐ. Không do dự, Conny đã đồng ý đã nhả đ.đ. Bravo, và lúc 1400 toàn đ.đ. này được trực thăng vận vào A Shau. 

Đ.đ. Bravo đã ko gặp may mắn như các đ.đ. khác của TĐ. Mười lăm của 16 chiếc chỡ đ.đ. này đáp xuống bãi đáp ko gặp khó khăn, nhưng chiếc cuối, chỡ trung úy Charles Denholm và BCH đ.đ., bị trúng đạn, khiến phi công đáp khẩn cấp xuống thung lũng. Một trực thăng khác đến vài phút sau đó để bốc họ, nhưng cũng gặp rắc rối. Khi chiếc này bốc lên cao, hướng về phía tây tới Động Ấp Bia, nó bị bắn bởi một số súng phòng không, đặt từ cửa của các hang động ở phía tây của A Shau. Hai hay ba đạn loại proximity của địch đã nổ gần đuôi của chiếc này khiến nó đã xoáy tròn (reel) trong vài giây trước khi phi công làm chủ được máy bay. //Nói thêm: ngòi nổ proximity của đạn này sẽ tự động nổ khi khoảng cách tới mục tiêu nhỏ hơn trị số định trước, nghĩa là ko cần chạm mục tiêu.  Ngòi nổ đã gia tăng sức tàn phá từ 5 đến 10 lần so với những ngòi nổ khác trong đó có ngòi nổ chạm nổ (contact fuze) hay ngòi nổ canh giờ (timed fuze)--người dịch.//

Khi trung úy Denholm và bch của đ.đ. cuối cùng đã xuống đất và gặp lại phần còn lại của đ.đ. Bravo và bắt đầu đi bộ 800 mét tới bch của TĐ. Một giờ sau, họ gặp Honeycutt: ông này lấy viết chì mỡ và bản đồ bọc plastic và vẽ con đường mà ông muốn Bravo đi từ bch TĐ hiện tại tới đỉnh của Động Ấp Bia. 

"Tôi chưa chắc anh làm được việc này tối nay," Honeycutt, "nhưng vào lúc nào đó trong buổi sáng tôi muốn chuyển bch lên đó."

"Không có chi."

"Cẩn thận."

"Đừng lo, thưa trung tá."

Đại úy Littnan đã ko lo ngại (unconcerned) về nhiệm vụ an ninh núi nầy. Vị sĩ quan 29 tuổi này đã ở VN một năm với trung đội cối 81 ly và nắm đ.đ. này được ba tháng, và suốt thời gian này ông đã thực hiện hàng chục nhiệm vụ như vậy mà ko trở ngại. Dù y biết rằng mọi người ở A Shau đều phải cẩn thận, y chưa cảm thấy điềm báo trước về một nguy hiểm nào đó. Đối với Littnan, y và lính của y đã bắt đầu cái mà lính bộ binh gọi là "chỉ là chuyến đi bộ dưới ánh mặt trời."

Cảm giác của Littnan đã được chia sẻ bởi phần lớn người trong đ.đ. Khi tin về nhiệm vụ này truyền xuống đ.đ., mọi người đã bắt đầu nói đùa và chúc mừng lẫn nhau về sự may mắn đột ngột này. 

Phần lớn trước đó đã nghĩ rằng trong một hay hai tuần tới với ba-lô nặng 60 lb hay 27 kg, họ sẽ leo lên leo xuống các dốc núi của vùng bắc A Shau, dễ bị phục kích và chết bất ngờ ở từng khúc quanh của đường mòn, nhưng sắp tới đây họ lại có nhiệm vụ bảo vệ bch TĐ. Đây là nhiệm vụ mà họ đã gọi một cách mĩa mai là "canh gác dinh tổng thống" (palace guard). 

"Sau chiến đấu ác liệt tại Động Ngải," trung úy Frank Boccia, chỉ huy trung đội 1, sau này đã nói, "công việc an ninh ngọn núi cho bch TĐ giống như đi phép hai tuần mỗi năm. Như mọi người khác, tôi đã thực sự nhìn thấy một tuần lễ êm đẹp ở đó."

Bất kể (regardless) sự lạc quan của họ, những người này vẫn có một ngàn mét để vượt qua trước khi tới đỉnh của núi này, là một ngàn mét mà họ phải leo trên một đường mòn hẹp, dốc và đầy nghẹt cây cối, tre, và dây leo gẫy đổ - hậu quả của những vụ bắn phá trước đây của máy bay và trực thăng.

Họ bắt đầu lúc 1620, trung đội 2 của  trung úy Marshall Edward, đi đầu, kế đó là trung đội 1, và bch đ.đ., và cuối cùng là trung đội 4. Edward cho tiểu đội 2 đi đầu và chuyên viên bậc 4 Ron Storm làm khinh binh 1 và chuyên viên bậc 4 James Rocker làm khinh binh 2. Storm đã bắt đầu đi chậm chạp và cẩn thận trên đường mòn, cân nhắc (deliberate) trong mỗi bước đi, y quan sát cẩn thận hai bên đường mòn, sẵn sàng đáp ứng mọi chuyển động nhỏ nhứt. Y để khẫu M16 ở vị thế tự động, hướng súng về trước, sẵn sàng bắn hết băng đạn 20 viên trong một giây. Rocker theo sau, cách y 10 mét, im lặng như một con mèo, bước chầm chậm trên những tảng đá và những khúc cây, di chuyển nhẹ nhàng dưới những giây leo và những cành thấp. 

Đường mòn lúc này giống như một đường hầm với những lá cọ (palm frond) mọc de ra đường như những bàn tay lớn. Dây leo bám đầy các cây. Vì tàn lá dầy nên ánh sáng yếu (wan) và xám, không khí ẩm lạnh (dank) và có mùi khó chịu. 

Storm tiến được 100 mét, và thêm 200 mét. Chẳng bao lâu họ ra khỏi cao địa nơi đặt bch TĐ và gặp một yên ngựa nhỏ và thấp, kế đó một vùng đất bằng phẳng. Ba trăm mét sau đó, Storm tới rìa một yên ngựa thứ hai. Tuy nhiên, cái này sâu hơn cái đầu tiên. Có Rocker bảo vệ y, y xuống được 20 m, rồi ra dấu cho Rocker để phần còn lại của đ.đ. tiến lên.

Storm di chuyển qua khỏi đáy của yên ngựa, và bắt đầu đi lên. Phần lớn của tiểu đội 2 đã qua khỏi yên ngựa và đi lên núi khi một B-40 phụt ra (whoosh) từ một điểm trên đường mòn ở phía trước họ và đã nổ đinh tai nhức óc khi đụng một cây ở bên trái Storm. Sức nổ đã đẩy y khỏi đường mòn, và nằm sóng sượt (sprawl) trên dốc núi bên phải. Y bị choáng (pass out) trong vài giây, rồi kế đó là âm thanh quen thuộc của hỏa lực AK-47. Storm nhìn lên sống núi để xem sự hỗn loạn trên đường mòn. Ba người bị bắn gục, và một người đang liên tiếp la hét, "Tôi bị thương!". Một số người đang bò về phía trước để cứu người bị thương trong khi những người khác bắn vào hàng cây hai bên đường.

Cùng lúc đó, một xạ thủ địch đã thấy Storm và nổ súng. Storm ngả ngửa xuống đất để tránh đạn, và một giây sau một quả B40 đã trúng cây trên đầu y, làm vỏ và lá cây rớt đầy trên đầu y. Y quét mắt phía trên sống núi trong một giây để cố gắng tìm kiếm vị trí của khẩu B40 và thay vào đó thấy 3 hay 4 xạ thủ địch điều khiển một vị trí ở bên trái của sống núi khoảng 25 mét. Y gọi những người còn đứng bên dưới tiến lên, và khinh binh số 2 James Rocker và các binh nhứt Anthony Tolle, Alan Bork, và James Prefundo chạy nhanh đến. Kế đó Storm dẫn toán này tiến thêm khoảng 30 mét, cho tới khi ở phía đối diện và phía sau của vị trí địch.

Storm nhìn nhanh và đã nghĩ rằng y đã thấy 4 hay 5 lính địch ở phía kia. Họ ở sau một cây lớn và được che dấu một phần bởi những nhánh và lá cọ thấp. Lúc đầu, y nghĩ rằng có thể bắn họ, nhưng họ bảo vệ quá kỹ nên điều đó rất khó. Thay vào đó, y đề nghị toán của y nên dùng lựu đạn, và họ đồng ý. Từ một dấu hiệu của Storm, năm người này đã rút chốt lựu đạn và ném một lượt, và tìm chỗ nấp khi phía trái của đường mòn đã rung chuyển bởi một tiếng nổ lớn. 

Tụi nó bị rồi, Storm nghĩ như vậy khi y nhìn lên lổ lớn tạo ra ở phía trên vị trí của địch. Để chắc ăn, tất cả lại ném lựu đạn vào vị trí đó lần nữa, và phía trái của đường mòn đã rung lên lần nữa.

Chẳng bao lâu cả toán bị tấn công mạnh bởi một vị trí ở xa hơn trên đường mòn. Khi một quả B40 nổ trên đầu họ, Storm ra lịnh cho toán trở lại tiểu đội và thấy y tá đang săn sóc ba người bị thương ở bên lề đường trong khi phần còn lại của tiểu đội bắn dữ dội (wildly) về vị trí địch ở phía trước.

"Họ đang kêu máy bay," Storm nghe ai đó la lên. "Chúng ta phải ra khỏi đây."

Storm và phần còn lại của tiểu đội theo đ.đ. vượt qua yên ngựa để về phía sau. Ở đây, trung đội 2 của trung úy Marshall Edward nhanh chóng tạo một chu vi phòng thủ hai bên đường mòn. 

Lời yêu cầu oanh kích đã được đồng ý bởi Honeycutt. Khoảng 5 phút sau, một quan sát cơ xuất hiện, kế đó là hai A-1 Skyraider. Thay vì đánh dấu vị trí của mình bằng lựu đạn khói, đại úy Littnan chỉ dẫn phi công của quan sát cơ cho Skyraider đánh theo sống núi và bắt đầu từ bờ nam của yên ngựa , và đánh từ từ lên cao. 

Một trong hai chiếc Skyraider, theo ý của Littnan, bay nhưng ko ném bom, và khi đc đồng ý, chiếc thứ hai, bay sát ngọn cây và bay theo sống núi, vừa nhả đạn đại bác 20 ly. Chiếc đầu tiên, chỉ vài giây sau chiếc thứ hai, đã tiếp tục bắn đại bác, và chiếc thứ hai trở lại với hai quả 500 cân Anh loại nổ phá và sát thương (high drag bom). 

Máy bay ném bom và bắn phá khoảng 15 phút. Chúng rời mục tiêu lúc 1900, đã biến phần trên của yên ngựa đổ nát và bốc khói. Bom đã đánh gục một số cây cao 30 mét, tạo những lổ to (gaping hole) trên tán lá dầy đặc, và đốn ngả những bụi tre dầy ở 20 mét của hai bên đường mòn. 

Honeycutt đã muốn gửi một toán đi lên đường mòn để kiểm tra thiệt hại, nhưng đã bỏ ý định này vì trời sắp tới. Thay vào đó, ông ra lịnh cho đại úy Littnan lập một vị trí phòng thủ đêm hay NDP ở bờ bắc của yên ngựa này và tiếp tục hành quân lục soát hướng về Động Ấp Bia. 

Sau khi đào hố chiến đấu và đặt các tiền đồn, 107 người của đ.đ. Bravo đã trải một đêm ko an bình. Trong suy nghĩ, phần lớn họ đã cố gắng quân bình niềm lạc quan mà họ đã có trước khi bắt đầu đi vào đường mòn với cú sốc của trận đánh tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu này. Đây là một sự việc riêng biệt hay một linh cảm (presage) về một điều rất xấu sắp xảy ra? Đây là một câu hỏi mà nhiều người đã tự hỏi đêm nay./.

Chuyển ngữ từ trang 63-73 của quyển Hamburger Hill của Samuel Zaffira.

San Jose ngày 9 Dec 2020

Tài Trần




MỘT VÍ DỤ VỀ MỘT ĐƯỜNG THÔNG THỦY TRÊN MỘT BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH. NẾU BẠN ĐỨNG TRÊN MỘT ĐƯỜNG THÔNG THỦY, MẶT ĐẤT SẼ LÊN CAO Ở BA HƯỚNG VÀ ĐI XUỐNG Ở MỘT HƯỚNG. 




 Đại tá Honeycutt đã ko để ý gì lắm về cuộc chạm súng nhỏ này. Dù ông ko có cách nào để biết chắc chắn, ông đã giả định rằng quân CSBV mà đ.đ. Bravo đã đụng là một đv trinh sát (trail watcher). Honeycutt đã phỏng chừng (figure) rằng lính csbv, khi thấy trực thăng, đã quyết định chạy xuống núi và dọ thám bãi đáp. Tuy nhiên, họ đã đụng đầu với trung đội dẫn đầu của đ.đ. Bravo. Đó chỉ là một lý thuyết, nhưng ông ko có lý do nào để giả định điều khác. Dù gì đi nữa, ông vẫn muốn BCH của ông có mặt trên Động Ấp Bia vào giờ đầu của buổi chiều và gọi máy ra lịnh cho đại úy Littnan tiếp tục tiến lên núi. 

Đại đội của đại úy Littnan đã tiến một giờ rưởi sau bình minh, với trung đội 1 của trung úy Boccia đi đầu, kế đó là trung đội 4, và BCH đ.đ., và cuối cùng là trung đội 2. Binh nhì Terry Gann là người đi đầu của trung đội 1, và Boccia đi thứ ba. //Nói thêm: Theo kỹ thuật viễn thám Mỹ, mỗi toán dò đường (pathfinder) thường là sáu người, người đi đầu là point man (tạm gọi khinh binh 1), người kế là slack man (tạm gọi khinh binh 2), kế đó là trưởng toán, người mang máy đi kế, người đi cuối cùng là toán phó, có nhiệm vụ xóa mọi dấu vết (thường có cấp bậc chỉ thua toán trưởng). Dù ko phải là viễn thám nhưng trung đội của Boccia khi đc lịnh dẫn đầu đại đội cũng sắp xếp như vậy--người dịch)//. Lúc 0747, khinh binh Gann đã đi xuống một yên ngựa và đang bắt đầu đi lên bằng cách bò từ từ. Con đường mòn trước mặt đầy các mảnh vở--cây cối đứt gẫy (splintered), tre gẫy, lá cọ (palm frond), và giây leo (tangled vine) - và mùi khó thở của thuốc súng (gagging smell of cordite) vẫn còn vương vấn trong không khí. 

Gann bò từ từ qua các mảnh vở này. Có một số các lổ lớn ở tán lá (canopy), và các tia nắng chiếu qua các lổ này. Gann đã bò khoảng 50 m, nhưng cuối cùng đã ngừng vì một bụi tre lớn, vì trúng bom đã nằm vắt ngang con đường. Y đẩy một số mảnh vụn sang một bên và đã thấy rằng cây tre khi ngả đã lộ ra một đường hầm xuống giữa tâm của đường mòn. Y nhìn cửa hầm và nhìn lại Boccia: "Ông muốn tôi làm gì?"

Boccia tiến lên cạnh khinh binh 2. "Hảy kiểm tra nó."

Gann bò và lát sau gọi vọng về, "Tôi thấy vài xác ở đây."

Boccia kêu sáu binh sĩ tiến về trước và canh giữa hai bên của đường mòn, và bò theo khinh binh Gann.

Có ba xác CSBV nằm cách cửa hầm khoảng 5 mét và gần đó có một xác. Tất cả đều trẻ, mặc đồng phục, ko có quân hàm, với tóc ngắn, kiểu tân binh. Nằm gần họ là hai AK47, một B40 và sáu đạn B40.

Boccia quan sát kỹ lưỡng các xác này.  Y giả định rằng họ ko ở trong rừng lâu vì ko có vết tre cắt. Họ đều bị bắn vào lưng bởi đại bác 20 ly, có lẽ trong khi cố gắng chạy lên núi thì bị máy bay Skyraider tấn công bằng đại bác 20 ly. 

Trong túi áo của một người, có vẻ là một sĩ quan, Boccia thấy một ảnh của người này và vợ y và một túi tài liệu. Trong ba-lô của một kẻ khác, Boccia thấy một túi những thứ chưa gửi. Dĩ nhiên đây là thư gửi về gia đình, và Boccia cảm thấy buồn mang mác khi biết rằng gia đình của người này sẽ ko bao giờ nhận thư. Lúc đầu Boccia có ý nghĩ sẽ giữ các thư này và ngày nào đó sẽ gửi đi, nhưng cuối cùng y cột chung với các tài liệu trên đây và gửi về bch của TĐ.

Sau khi nghỉ một lát, Boccia cho chuyên viên bậc 4 Phil Nelson đi khinh binh 1 và binh nhứt Nate Hyde khinh binh 2. Gann là một khinh binh giỏi nhưng Nelson và Hyde là hai kẻ dò đường (tracker) kinh nghiệm nhứt của trung đội. Cả hai đều lớn lên ở khu vực nông thôn, Nelson ở bang Virginia và Hyde ở Louisiana, và trong thời gian qua đã có khả năng lạ lùng (uncanny) là thấy vật trong rừng mà người khác ko làm được.

Lúc 0913, Nelson bắt đầu trèo lên dốc núi 25 độ. Một khoảng ngắn từ khu đã bị ném bom trước đó, y đã khám phá một số vết máu, tất cả đều hướng lên núi. Một lát sau, y lại thấy một đống băng cứu thương nằm giữa đường mòn này, rồi dấu chân người, và cuối cùng, xa hơn một chút, một đống băng cứu thương khác. 

Nelson và Hyde ngừng lại để xem xét, và Boccia bò lên.

"Trung úy, hảy nhìn xem," Hyde nói. "Chúng đã chỉ đường cho chúng ta."

"Có điều gì đó ở đây, trung úy, " Nelson nói thêm.

Họ đã nói đúng, Boccia suy nghĩ. Boccia đã nhiều lần biết rằng, ngay cả khi kéo nhiều xác chết và bị thương, Bắc quân ko để lại dấu vết gì kể cả một nhánh cây gẫy.

Lúc đó hiệu thính viên gọi y. Đó là đại úy Littnan trên máy. "Tại sao anh ko thể đi nhanh hơn?

- Tôi đã cố gắng đi nhanh.

- Nhưng tôi thấy anh đi rất chậm.

- Tôi đi chậm vì có gì đó ở đây.

- TĐT ở sau lưng tôi. Ông ta muốn biết tại sao anh đi chậm. 

- Tôi đã cố gắng hết sức.

- Tôi hiểu. Nếu anh ko chắc chắn điều gì phía trước thì cứ từ từ tiến lên. Nhưng tôi cho anh biết TĐT đang theo dỏi.

- Tôi hiểu.

Nelson lần nữa di chuyển rất chậm (at a creep) và lần nữa nhích từng tấc trên đường mòn chật hẹp vì đầy mảnh vở cây rừng. Y đã vượt 100 m trong một giờ. Tới rìa của một đồi nhỏ (knoll), y ra dấu cho trung đội đứng lại và ra dấu kêu Boccia. Có một KHOẢNG TRỐNG NHỎ trên đỉnh của đồi nhỏ này, và ngay giữa nó, là một ba-lô đầy cơm vắt (rice ball), một súng AK47 mới tinh còn trong túi da, một chồng kẹp đạn, và hai lựu đạn TC. 

Boccia suy nghĩ rất nhiều: Bắc quân làm như vậy để làm gì?

Trong khi đó, tại bch TĐ, Honeycutt và đại úy Charles Addison, ban 2, đang quì gối cạnh các máy truyền tin và đọc các tài liệu - mà trước đó đã lấy từ xác một cán binh.

Honeycutt cho gọi Vinh, một cựu hồi chánh viên nay làm thám báo (Kit Carson Scout) của tđ. Khi y đến, ông đưa tài liệu và nhờ y đọc.

Honeycutt ko thích Vinh hay chánh sách dùng cựu cán binh CSBV làm thám báo. Theo ông, kẻ đã phản bội đất nước của y cũng sẽ phản bội nước khác. Tuy nhiên, vì muốn biết tài liệu nói gì trước khi gửi về lữ đoàn, ông đã gọi Vinh.

Vinh bắt đầu đọc rất chậm. Khi được khoảng nửa trang giấy đầu tiên, mắt y mở to với kích động. Ở trang hai, y đọc to bằng tiếng Việt, và tới trang ba, y đã nói lảm nhảm trong kích động (babble excitely) với Honeycutt và Addison.

"Chuck, y nói cái gì?"

Addison dùng rất ít tiếng Việt mà ông biết để hỏi Vinh, nhưng tên cựu HCV này có vẻ ko đáp ứng. Mặt y xám lên (ashe) vì sợ, y ko trả lời Addison và tiếp tục lảm nhảm bằng tiếng việt, trong lúc lắc đầu liên tục. 

"Chuck, thằng này nói gì?"

"Tôi ko biết."

"Bảo nó bình tỉnh lại."

Addison lại hỏi Vinh và khuyên y lấy lại bình tỉnh và cuối cùng Vinh nói, nửa Mỹ nửa Việt.

Addison nhanh chóng thông dịch. "Y nói rằng những kẻ mà chúng ta giết là lính của trung đoàn 29 csbv - có biệt danh là Niềm Tự Hào của HCM. Có thể họ là một trong những trung đoàn giỏi nhứt của quân csbv. Vinh cũng nói rằng 'họ là dũng sĩ diệt Mỹ' và chúng ta nên rút ra khỏi khu này vì cả trung đoàn đang ở chung quanh đây. Y nói 'Nhiều, nhiều cán binh khắp nơi. Hàng trăm cán binh.' "

"Nói với thằng chó đẻ này rằng tôi rất vui khi biết họ chung quanh đây. Nói với y rằng tại sao chúng ta đến đây-- là để giết bọn csbv-- và nếu chúng ở quanh đây, chúng đã cho chúng ta một cơ hội tốt." Honeycutt nói. 

Khi Addison dịch lại câu nói của Honeycutt, Vinh nhìn Đt một cách nghi ngờ, chỉ vào tài liệu, và lại bắt đầu nói lảm nhảm.  

Ở trên đường mòn, đại úy Littnan cho đ.đ. ngừng 15 phút ăn trưa, và lại chờ thêm 15 phút vì một cơn mưa đột ngột. Tuy nhiên, lúc 1220, đ.đ. lại di chuyển, lần này Hyde làm khinh binh. Khi y dẫn đ.đ. từ từ lên núi, địa thế bắt đầu thay đổi từ từ. Rừng tre từng bám sát hai bên đường mòn từ từ biến dạng. Những cây gỗ teak khổng lồ, nhiều cây cao hơn 100 feet hay 30 m , bắt đầu xuất hiện khắp nơi. Những cây này có thân to lớn, thô tháp (gnarled), có thân và ngọn đan với nhau trên đường mòn, tạo nên một mái vòm (vaulted ceiling). Tầm nhìn trước đây chỉ nhìn trên dưới một mét nhưng nay, ở nhiều chỗ, từ đường mòn, Hyde có thể nhìn xa hơn 50 m. 

Hyde tiếp tục bò, tốc độ như sên. Bực bội vì quá chậm, đại úy Littnan gọi Boccia và bảo trung đội ngừng lại. Theo sau bởi trung úy Denholm, Littnan chạy nhanh lên đường mòn tới khi gặp Boccia.

"Frank, anh phải nhanh lên, " Littnan nói. "Chúng ta phải nhanh hơn."

"Thưa sếp, như tôi đã nói, tôi biết tôi đã kéo dài thời gian. Nhưng ông đã thấy đường mòn. Ông đã thấy những gì chúng tôi vừa thấy. Tôi cảm thấy rằng sẽ ko thoải mái nếu tiến nhanh hơn."

"Tôi ko cần biết anh cảm thấy gì, Frank," Littnan nói, ko dấu sự giận dữ. "Anh phải tiến nhanh hơn vì TĐT sau lưng tôi, và ổng nói chúng ta phải ở núi này lúc 1530. Anh nghe tôi nói ko?

"Vâng, thưa sếp."

"Vậy tiến lên."

Nghe lịnh của Littnan, hiệu thính viên của Boccia, đang ngồi dựa gốc cây, vụt đứng dậy và lấy máy truyền tin. Tuy nhiên, trong khi đeo máy vào người, một dây đeo bị đứt và máy rới xuống đất. Vì thấy anh lính truyền tin ko sửa được dây đeo, đại úy Litnann nói với Boccia, "Frank, tôi ko thể chờ anh," và quay sang trung úy Denholm, "Trung đội của anh thế trung đội của boccia."

Boccia cho lính tạt ngang hông đường mòn để lính của Denholm vượt qua trong im lặng. 

Denholm cho binh nhứt Bill Stevens làm khinh binh 1 và chuyên viên bậc 4 Aaron Rosenstreich làm khinh binh 2, kế đó là chuyên viên bậc 4 John Mccarrell và kế đó là y. Dù tới phiên Stevens làm khinh binh, Denholm rất ngần ngại khi để stevens làm như vậy. Anh lính trẻ này thường xuyên sợ sệt và lo âu và có lúc đã phản ứng vụng về lúc chạm địch. Hơn nữa, Denholm đã nhận thư của mẹ của anh chàng này vài ngày trước, trong đó có câu "Xin đừng để con tôi bị thương. Làm ơn, làm ơn, chăm sóc nó. Nó là tất cả của tôi."

Denholm biết rằng ông ko thể để tình cảm xen vào công việc chỉ huy trung đội, nhưng ông cũng ko thể ko tác động bởi là thư này. Tuy nhiên, vì công bằng, ông ko có chọn lựa nào khác là để Stevens làm khinh binh khi tới phiên nó. 

Đó là một quyết định mà Denholm đã hối tiếc gần như tức thời. Stevens tiến một cách ngập ngừng, và sau khi bò được 10 m đã ngừng. Y nhìn ngược lại Denholm, vẻ mặt sợ hãi, nhưng Denholm ra dấu cho y tiến lên. Stevens bò thêm khoảng 5 hay 10 m rồi quì xuống. Lần này y ko nhìn ra sau.

Denholm vội bò tới y. "Cái gì vậy?"

"Tôi sợ lắm, "Stevens nói lắp bắp (mumble).

"Lấy lại bình tình, "Denholm nói, vừa đặt tay lên vai Stevens. "Chúng ta ko vội vả. Không có gì phải sợ." Denholm xô nhẹ y về phía trước. "Đi. Chúng ta tiếp tục di chuyển."

Denholm trở về phía sau và Stevens bắt đầu bò về phía trước. Tuy nhiên, mới chỉ vài m, một tên bắn sẻ ở đâu đó nổ súng vào trung đội. Ba hay bốn viên cắt ngang ngọn cây, và mọi người nhào xuống hai bên đường mòn.

Chỉ sau vài giây, Rosenstreich và mccarrell đã trở lại đường mòn và bắn vào cây rừng 2 bên. Họ thấy tên bắn sẻ từ gốc cây ven đường, chạy nhanh lên núi. 

Denholm gọi máy cho Litnann và nghe lịnh: "Tiếp tục di chuyển!"

Stevens, lại lần nữa ngần ngại (balk) khi được lịnh tiến lên. "Tôi ko thể," y nói, tay y rung, hơi thở giật từng cơn. 

"Anh phải tiến lên," Denholm quát to. "Hảy tiến lên!"

Nét mặt Stevens nhăn nhó và có vẻ sắp khóc , nhưng cuối cùng nó quay chung quanh và bắt đầu tiến lên. Tên bắn sẻ nổ súng nhưng ko trúng.

Stevens nhảy khỏi đường mòn và núp sau một khúc cây, trong khi Rosenstreich và Mccarrell nổ súng vào hàng cây. Tên bắn sẻ ngừng bắn lập tức.

Denholm bò tới và thúc dục Stevens. "Hảy tiến lên, Billy."

"Tôi ko thể tiến thêm. Tôi sợ quá. . . Tôi ko thể. . . "Stevens nói.

Rosenstreich nói với Denholm. "Để tôi làm khinh binh."

"OK, Rosey,"Denholm nói. Y nhìn Stevens rất lâu và cuối cùng nói với giận dữ, "Đi ra đằng sau."

Stevens vụt chạy về sau (scamper) như con chó bị quất roi, và Denholm đặt tay lên vai Rosenstreich. "Cẩn thận, Rosey."

"Đừng lo cho tôi, trung úy, tôi biết tôi phải làm gì."

"Tôi biết."

. . .

Rosenstreich bắt đầu tiến lên lúc 1300: khi thì bò khi thì đi bộ và trong 30 phút được 100 m. Gần một cây teak lớn, y ngừng và dấu cho trung đội ngừng. Y chui vào bên cạnh đường mòn, dùng tay sờ soạng một nhúm tre và giây leo cho tới khi đụng cái gì đó, y ra dấu cho Mccarrell và Denholm bò tới.

"Hảy nhìn, rosenstreich nói," trong lúc cầm một dây điện có vỏ dầy, "nếu có dây điện thoại ở đây, trên kia phải có địch. Phải lần theo dây này mà tìm chúng."

Denholm quan sát kỹ sợi dây và thấy dây gắn với một cây nhỏ bằng một miếng cách điện. Y thấy dây chạy về phía đông bắc tới đỉnh của Động Ấp Bia và thẳng về về phía tây xuống một khe (draw) lớn ở bên phải của đường mòn và hướng tới Lào. Denholm gọi Litnann và Litnann nói sẽ lên xem.

Trong khi Litnann đi theo đường mòn để xem dây điện thoại, ĐT Honeycutt đang chờ đại úy Fredericks, sq tình báo của lữ đoàn, với bản dịch đầy đủ của tài liệu đã kể ở trên. 

"Đại úy, anh thấy điều gì?" Honeycutt hỏi.

"Thưa ĐT," Fredericks nói, "có nhiều cộng quân ở nơi nào đó trong khu vực này -- to chuyện rồi!"

"Tôi đã nghĩ tới điều đó. Nhưng chúng ở đâu?

"Tôi ko biết. Tài liệu ko nói. Chúng chỉ nói đv hoạt động ở khu này là trung đoàn 29 csbv."

"Vinh đã nói điều đó."

"Theo tôi ước tính, chúng khoảng 1.200 đến 1.800 tên, tăng cường bởi vũ khí nặng. Chúng rời Hà Nội gần đây và có lịnh rõ ràng là tấn công một vài đv Mỹ trong vùng núi này. Sau đó, chúng có thể xâm nhập xuống đồng bằng và tấn công Huế. Tài liệu ko nói NƠI và KHI NÀO chúng sẽ tấn công, nhưng điều rõ ràng là chúng sẽ đánh lớn."

"Tốt," Honeycutt trả lời. "Đấy là điều tôi cũng đang trông chờ-- một trận đánh lớn!"

Trong khi đ.đ. Bravo đi thám sát về hướng đông nam tới đỉnh của Động Ấp Bia, đ.đ. Alpha cũng đi theo cùng ngọn núi nhưng hướng ngược lại, theo hướng tây bắc tới biên giới Lào và Sông Trung Phạm. Khi ngọn núi hạ thấp cao độ khi tới thung lũng Sông Trung Phạm, đ.đ. Alpha chia thành từng trung đội và bắt đầu tiến tới biên giới theo ba mủi. Dẫn đầu là trung đội 1 của trung úy Frank McGreevy. Họ bắt đầu đi xuống thung lũng của sông này lúc 0800, và ngay từ bắt đầu tiến quân khó khăn. Vì sợ phục kích, vị trung úy 24 tuổi này đã tránh những đường mòn và cho trung đội băng đồng, với khinh binh mở đường bằng dao rựa. Vì vậy, họ phải tốn khoảng 4 giờ để đi từ núi xuống thung lũng của sông này. Tới đây trung úy cho trung đội đổi về hướng nam và bắt đầu lại băng đồng xuống giữa thung lũng này. 

Trung đội di chuyển khoảng 3 giờ vô sự, cho tới khoảng 1400, khi khinh binh, trong lúc chặt một cụm dây leo và lách qua một bụi tre dầy (stand of bamboo), đã lọt ngay giữa một con đường lớn của bắc quân. 

McGreevy và khinh binh 1 và 2 quan sát con đường. Lính Mỹ gọi nó là "siêu xa lộ" và dù ở VN 11 tháng nhưng McGreevy chưa thấy một con đường như vậy. Mặt đường nện rất cứng và rộng đủ cho xe tải chạy. Phía trên, cây rừng đan vào nhau tạo thành mái che, khiến ko thể thấy từ trên không. 

McGreevy cảm thấy một cơn lạnh chạy dọc xương sống và nghĩ: "Chúng ta đang trên đất của chúng. Phải có nhiều người mới làm con đường như vậy. Phải có nhiều người!"

Đi theo con đường, họ thấy nó chạy thẳng hướng tây tới Sông Trung Phạm và hướng đông tới phía rìa phía đông của Động Ấp Bia. McGreevy đặt mỗi tiểu đội ở một bên của siêu xa lộ này và dẫn một tiểu đội theo con đường đi về hướng tây tới sông này. Con đường đi thẳng vào một cụm các túp lều và ở phía sau các lều là một hầm trú ẩn hay bunker có nhiều gà con, quần áo và đạn dược. Lửa còn cháy trong bếp chứng tỏ ai đó đã ở đây và vội vả rút lui. 

(Còn tiếp)

Dịch từ trang 75-85 của Hamburger Hill




Friday, December 4, 2020

 CHƯƠNG 7 - Trận đánh đẫm máu tại Động A Tây (Bloody Ridge): báo trước điềm xấu sẽ xảy ra cho quân Mỹ

Ba ngày sau khi TQLC Mỹ trở về phần đất VN, các không ảnh đã cho thấy quân csbv đã trở lại căn cứ 611; và, tuy là nhỏ giọt, những xe tải lần nữa theo XA LỘ 922 về A Shau. Tệ hơn nữa, không ảnh cũng cho thấy BA TRUNG ĐOÀN CSBV, từng rút sâu vào Lào trong HQ Dewey Canyon, ko những trở lại 611, nhưng trên đường tới thung lũng A Shau. 

Bắc quân đã nghĩ rằng họ chuyển về một nơi trú ẩn an toàn (haven). Thực tế, họ sắp đối đầu với ba trong NHỮNG CUỘC HQ LỚN NHỨT của đồng minh trong chiến tranh VN và một TRẬN ĐÁNH sẽ quần nát A Shau trong 167 ngày sắp tới. Trong những tháng tới, hai của ba trung đoàn này-- 6 và 9-- sẽ chịu những tổn thất khủng khiếp, và trung đoàn thứ ba-- 29 -- đang trên đường tới nơi đóng quân ở một núi nhỏ ko có gì đặc biệt (nondescript), có tên là ĐỘNG ẤP BIA, (sau này được đặt tên là Đồi Thịt Bầm hay Hamburger Hill -- người dịch) sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt (wipe out). 

                            

... 

Tướng Stiwell đã điều động (marshal) hầu hết các lực lượng của hai sđ bộ binh và rất nhiều (plethora) những đv yểm trợ cho trận đánh sắp tới này và hỗ trợ họ với một đoàn (armada) trực thăng, gunship, oanh tạc cơ, và B-52. 

Cuộc HQ đầu tiên có tên MASSACHUSETTS STRIKER. Đặc biệt nhắm vào phía nam thung lũng, lữ đoàn (LĐ) 2 của sđ 101, ra quân NGÀY 1 THÁNG BA với việc thả một toán công binh xuống ĐỘNG TRE GÔNG. Được bảo vệ bởi TĐ 2/17 Không Kỵ, họ đã bắt đầu xây CCHL Whip. Khi hoàn tất, Whip sẽ được làm nơi tập trung quân để HQ vào nam A Shau và Thung lũng Sông Rào Nại gần đó và là một tiền cứ của lữ đoàn 2. 

Khi đã sẵn sàng để đưa các TĐ vào Whip, ĐT John Hoefling, TL của LĐ 2 nói với họ, "Chúng ta sắp có vài trận đánh ác liệt trước mắt, nhưng tôi cảm thấy chưa bao giờ chúng ta có khả năng thành công hơn bây giờ. Quân CSBV mà chúng ta sắp đụng được huấn luyện kỹ, trang bị đầy đủ, cuồng tín (hard-core) sẽ chống trả dữ dội, đặc biệt khi chúng ta tới gần căn cứ và kho tiếp vận của họ."

Dù phát biểu của ông đã chứng tỏ cuối cùng ông đã tiên đoán đúng, nhưng hơi quá sớm. Kẻ thù (nemesis) của họ tại thung lũng hiện nay chỉ là THỜI TIẾT, đã nhanh chóng bắt đầu phức tạp hóa thời biểu của HQ Massachusetts Striker. Tại Động Tre Gông, lính công binh đã khó nhọc bắt đầu dọn sạch tre, cỏ voi, và cây cối ở đỉnh của núi này khi họ bị ướt đẫm bởi một cơn mưa sớm của gió mùa. Mưa đã rơi từng chập trong hai ngày kế, khiến công việc gần như đình trệ, và vào ngày thứ ba, sương mù dầy đặc xuất hiện khắp núi, giảm tầm nhìn xuống còn số không.

Sau MƯỜI NGÀY chờ mưa dứt và sương tan, ĐT Hoefling đã buộc phải chuyển quân từ Động Tre Gông tới một núi ở rìa của thung lũng: CCHL Veghel đã từng chế ngự núi này, nhưng đã bỏ hoang một năm trước. Ông ra lịnh cho trung tá Donald Davis trực thăng vận TĐ 1/502 tới một khu gần Veghel, mở lại CCHL này, và lục soát khu vực chung quanh. Tin tình báo không thấy địch quân chung quanh Veghel nên các cuộc lục soát ko kỹ lưỡng lắm, đây là cách mà TĐ này đã làm cho tới khi sương tan ở vùng nam thung lũng. 

Trung tá Davis, sau khi không thám khu vực, ra lịnh cho đ.đ. Charlie làm an ninh một bãi đáp cho cả TĐ. Đại đội này đến bằng ba chuyến, mỗi chuyến 6 trực thăng, tất cả đều nghĩ rằng họ sắp tới một bãi đáp nguội (cold LZ). Dù, trên mặt đất, một đại đội cộng (vì quân số hơn một đ.đ.) của TĐ 816 csbv đang chờ họ.

Bắc quân, như mọi lúc, rất chịu khó và rất chu đáo cho việc chuẩn bị phục kích. Chẳng những họ bao vây bãi đáp, họ còn gắn nhiều hàng mìn claymore hướng lên trời và nối với nhau để nổ đồng loạt.

Khi 6 chiếc đầu tiên, chở 30 người của trung đội 2 của Charlie xuống gần bãi đáp, Bắc quân cho nổ mìn claymore. Hàng trăm cục thép đã bay tới 6 chiếc này, phá nát cửa kiếng, gây nhiều lổ đạn trên thành tàu, làm dầu chảy, và làm bị thương 10 người. Dù một số phi công bị thương, họ đã đáp được xuống đất, với lính bộ binh chạy nhanh (scurry) tới các hố bom để núp, kéo người bị thương với họ. Tại đây lính Mỹ đã vội vả lập một chu vi phòng thủ và nằm sát đất (hunker down) để tránh B-40, và liên thanh của Bắc quân. 

Lính Mỹ bắn trả bằng M16 và M60. Trên đầu họ, chuyến thứ hai, chỡ trung đội 3 của đ.đ. Charlie, tiến gần bãi đáp, nhưng sau đó thụt lui và bắt đầu bay vòng vòng trên cao. 

Từ bìa rừng, lính CSBV bắt đầu xung phong và lính Mỹ đã dùng M16, M60 và M79 phản công và chận đứng. Nhưng sau đó quân csbv ào ạt tấn công bằng B40 và cối 60 ly, gây bị thương 5 hay 6 lính Mỹ. Sau đó họ xung phong đợt hai nhưng bị đẩy lui tới bìa rừng.

Lúc này xác lính csbv nằm từng đống quanh chu vi, nhưng lính Mỹ cũng ko khá hơn. Hơn 1/2 của trung đội 2 bị thương, và dĩ nhiên họ ko thể chịu nỗi một xung phong mới. Thấy địch chuẩn bị xung phong, họ gọi máy bay thả napalm cách họ chỉ 75m. Hai bom rơi gần chu vi đến độ tóc một số lính bị cháy sém (singe). Bị naplam, địch tạm thời (momentarily) rút lui, kéo theo xác chết và bị thương. 

Sáu trực thăng khác đã nhanh chóng thả xuống với phần lớn của trung đội 3. Một số chạy tới chu vi phòng thủ, số khác đưa thương binh lên máy bay. Những máy bay này cất cánh với thiệt hại nhẹ, nhưng đó là chuyến cuối trong ngày.

Vì trước khi đợt máy bay chỡ phần còn lại của đ.đ. Charlie có thể đáp, sương mù xuất hiện, và sau đó là mưa. Với tầm nhìn chỉ còn trên dưới 1 mét, cuộc chiến tái phát. Dựa vào mưa và sương mù, lính csbv, vừa bò vừa xung phong, ném chất nổ và lựu đạn vào chu vi phòng thủ. Đêm xuống, cuộc chiến vẫn tiếp diển. Nhiều lúc, có những đụng độ nhỏ đẫm máu chỉ có 2-3 người, giữa lính Mỹ và csbv, khắp chu vi phòng thủ. Những lúc khác, núi rừng im lặng vì hai bên tránh mưa. 

Khi trời sáng, cuộc chiến vẫn tiếp diển. May mắn cho lính Mỹ vì sương tan vào giữa sáng. ĐT Hoefling lập tức ra lịnh gunships và oanh tạc cơ tấn công vị trí địch. Và cùng lúc, ông trực thăng vận phần còn lại của TĐ. 

Thấy viện quân, bắc quân bỏ các công sự chiến đấu và rút xuống một đường mòn rộng và nhẳn thín--vì đi lại nhiều-- chạy về phía tây tới A Shau. Họ để lại 12 xác chung quanh chu vi của trung đội 2 và 3 và mang theo 8 xác khác, sau đó chôn họ ở mồ tập thể dọc theo đường rút lui. 

ĐT Hoefling ko cho họ trốn thoát và lập tức ra lịnh trung tá Davis cho tđ chạy băng đồng để chận đánh. Đây là một kế hoạch táo bạo, nhưng đúng với dự kiến của HQ này.

Theo lịnh ông, TĐ 1/502 xuất phát từ Veghel, với ba đ.đ. đi theo ba mủi, đã bắt đầu truy kích một đ.đ. nhưng cuối cùng đã giao chiến với cả tđ 816 csbv. Tuy nhiên, ko như ở A Shau, địch ko có ý định chiến đấu. Mãi 33 ngày sau khi rút lui từ Veghel, ngày 14 tháng tư TĐ 816 mới dừng tại một núi nhỏ có tên là Động A Tây và quyết định giao chiến. Từ lâu, phe Mỹ trông chờ một trận đánh lớn và quyết định, và giờ đây quân csbv đã sẵn sàng cho họ cơ hội đó. 

Khoảng 800 m trên mặt biển, Động A tây là một NÚI TRÒN và thấp (round squat hill) với một nhánh chạy về hướng bắc, còn gọi là NÚI BẮC. Ngay bên dưới chỏm (crest) của hai núi này, quân csbv đã xây dựng một hệ thống các hầm trú ẩn hay BUNKER sâu và rộng, nối với nhau bởi những đường hầm và giao thông hào và có xạ trường tốt (carefully cut fields-of-fire). Trong những bunker này, từ 300 đến 500 lính của TĐ 816 đang ẩn núp và chờ TĐ 1/502 của Mỹ. 

ĐT Davis đã nghi ngờ sự có mặt của quân địch tại núi này nhưng ko biết quân số. Ông ra lịnh cho đ.đ. Alpha tìm địch. Nghĩ rằng chỉ gặp vài tên bắn sẻ và có thể một hay hai tiểu đội địch quân, đ.đ. Alpha đã bắt đầu tiến lên núi bắc ngay khi hừng đông ngày 17/4. Thay vì gặp bọn bắn sẻ, họ đã bị tấn công bởi súng nhỏ và liên thanh. CHỈ TRONG VÀI PHÚT, trung đội đầu của Alpha đã chết 12 người và bị thương 12, và họ phải rút xuống núi. Họ gọi máy bay và pháo binh tấn công địch hơn một giờ, và cho một trung đội tấn công lên núi bắc. Trung đội đã tiến được nửa đường, nhưng bị đẩy lui.

Nghĩ rằng đã gặp lực lượng lớn, trung tá David ra lịnh cho đ.đ. Charlie lập một vị trí án ngử trên bờ phía nam của núi tròn và đ.đ. Bravo từ dưới tấn công lên mặt đối diện, ý nói mặt bắc, của núi bắc. Bất hạnh thay, đ.đ. Bravo cũng nghiệt ngã (grim) như Alpha, đã kể ở trên. Sau khi chỉ tiến vài mét, họ có 10 thương vong và nhanh chóng rút lui. 

Bom và đạn pháo đã rớt như mưa xuống núi bắc trong hai giờ, nhưng cuộc tấn công kế đó của Alpha và Bravo nhanh chóng bị đẩy lui. Ba đ.đ. đào hầm chung quanh núi, và từ đó đến suốt đêm, đại bác 105 và 155 ly từ bốn CCHL gần đó đã dội xuống các vị trí địch trên núi. Dù đạn đại bác ko phá tung bunker nào của địch, đạn đã làm rừng thưa ra và khiến địch lộ diện.

Vào buổi sáng, với súng không giựt 90 ly mang đến trong đêm, đ.đ. Alpha và Charlie tấn công lên phía đối diện của núi bắc. Bằng chiến đấu kịch liệt, hai đ.đ. đã tới đỉnh của đầu phía bắc của núi bắc, sau khi phá tung bốn hay năm bunker của địch. Trong khi hai đ.đ. củng cố vị trí của họ trên núi bắc và chuẩn bị để tấn công về núi tròn, bắc quân đã phản công mạnh mẻ khiến họ phải rút xuống núi. 

Hai đ.đ. đã gọi máy bay tản thương và đào hầm dưới núi này. Bắc quân đã tấn công và thăm dò nhiều đợt suốt đêm, nhưng rút trước khi trời sáng. 

Vào buổi sáng, hai đ.đ. đã thấy 20 xác csbv chung quanh chu vi, nhưng họ cũng có tổn thất. Chỉ trong ba ngày, hai đ.đ. có gần 1/2 thương vong, và địch quân vẫn cố thủ (firmly entrenched) trên Đông A Tây - và từ đây đc lính Mỹ gọi là Núi Máu (Bloody Ridge).

Vào buổi sáng, KQ Mỹ đã áp dụng kỹ thuật mới để tấn công vào hai mặt của núi bắc, bằng cách dùng bom 1000 cân Anh với ngòi nổ chậm. Họ nghĩ rằng có một đường hầm dài chạy ngầm dưới núi bắc và các bunker đều nối với đường hầm này. Các phi công đã thả gần 30 bom 1.000 cân Anh xuống đường đỉnh của núi bắc khiến nhiều chỗ trên đường đỉnh sụp xuống và ở 2 hay 3 chỗ có tiếng nổ phụ. 

Ngay khi bom nổ xong, lính Mỹ lại xung phong lên núi bắc. Lúc đầu họ nghĩ Bắc quân sẽ rút và chạy về A Shau, nhưng hơn 100 tên đã quyết định TỬ THỦ.

Những gì xảy ra sau đó là một trong những ngày chiến đấu khó khăn nhứt và đẫm máu nhứt trong lịch sử của sđ 101 Dù. Địch xuất hiện mọi nơi trên núi bắc -- dưới các cây ngả, bên cạnh các tảng đá, trong các hố chiến đấu, và trong các đường hầm và bunker đã sụp đổ vì bom - và họ đã chiến đấu TỚI CHẾT. Ba lần trong buổi sáng, hai đ.đ. đánh lên núi và bị đẩy lui. Cuối cùng, vào đầu chiều, sau khi núi này bị giã gần một giờ bởi bốn pháo đội (24 khẫu), hai đ.đ. đã chiếm núi bắc và bắt đầu tiến về núi tròn. Bị đánh bọc sườn, dù ko thể giữ được, tàn quân csbv vẫn ko chịu rút. Giống như các chiến binh Nhật tại đảo Iwo Jima trong đệ nhị thế chiến, họ đã ở lại vị trí cho tới khi bị giết.

Đến gần xế chiều, quân Mỹ mới làm chủ núi tròn và núi bắc và đếm được 86 xác bắc quân. Sau đó họ khám phá một bv ở phía nam của núi và một danh sách bịnh nhân. Theo danh sách, hơn 1/2 của TĐ gần 700 người này đã bị giết hay bị thương trong 33 ngày chiến đấu với TĐ 1/502. Trên nền đất của bịnh viện, họ gặp một danh sách, khiến họ bị sốc và làm một số lính Mỹ mất tinh thần (dismay) và một số khác nổi cơn thịnh nộ (fly into a rage). Đây là danh sách thuốc gửi cho bv này, với hàng chữ:" Tặng bởi các bạn của các anh tại Đại học Cali ở TP Berkeley."

Chiếm được Động A Tây, phe Mỹ đã chết 35 và hơn 100 bị thương, một con số gây sửng sốt (staggering) cho một chiến thắng ko có ý nghĩa. Vì số thương vong nhiều của bắc quân, chiến thuật của họ tại Đông A Tây đã tạo một cơn sốc khắp BCH của lữ đoàn 2 của sđ 101 dù. Các sq tình báo Mỹ đã tìm cách phân tích thật chi tiết ý nghĩa của lối đánh tự sát này của bắc quân. Trước mắt họ là câu hỏi: Liệu Động A Tây chỉ là một sự kiện riêng lẻ, hay là ĐIỀM BÁO TRƯỚC về một điều tệ hại hơn sắp xảy ra? Câu trả lời đã đến sau chưa tới một tháng.

Không phải mọi đv tham dự HQ Massachusetts đều chạm địch dữ dội như TĐ 1/502. TĐ 2/327 của lữ đoàn 1 đã nghĩ rằng cuộc HQ này giống như đi trên thảm đỏ của thi hoa hậu (catwalk). Sau khi TĐ 1/502 đụng mạnh ở CCHL Veghel, TĐ 2/327 đc đặt dưới quyền của lữ đoàn 2 và đc lịnh tấn công vào nam thung lũng. Hầu như ko gặp địch, ngày 22 tháng ba, họ nhanh chóng chiếm sân bay gần một trại LLĐB bỏ hoang. Khi các toán viễn thám (recon patrol) thấy vài đv lớn của địch ở phía tây, TĐ đã băng đồng thành ba mủi, nhưng địch đã rút qua Lào. 

Không thể vượt biên giới nên trung tá Dyke, TĐT, ra lịnh cho lính tráng phải di chuyển theo con đường mà bắc quân vừa dùng và họ phải lục soát kỹ. Đây là quyết định khôn ngoan. Khi lính của Dyke càn quét về phía đông, ngang qua thung lũng, họ bắt đầu khám phá những kho vũ khí và tiếp liệu ngày càng lớn. Phát hiện lớn nhứt là con đường lớn, đất được nện rất kỹ--để xe ko bị lún, mà lính công binh csbv đã xây từ nam thung lũng tới tỉnh Quảng Nam. Dấu bên cạnh đường là HAI MƯƠI XE TẢI CỦA NGA, HAI XE ỦI ĐẤT (bulldozer), và một xưởng bảo hành trang bị đầy đủ. 

Sau khi lục soát kỹ (mopping up) chung quanh Đông A Tây, nghỉ ngơi và nhận tiếp tế, TĐ 1/502 cũng khám phá một kho vũ khí khổng lồ ở nam thung lũng. Ngày 17/4, khi lục soát xuyên qua Xa Lộ 614, một con đường tiếp tế khác, nối nam A Shau với bắc tỉnh Quảng nam. Vì đây là con đường mà xe CSBV di chuyển nhiều, nên 614 đã đc lính Mỹ đặt biệt danh Đường Gạch Vàng (Yellow Brick Road) theo con đường thần thoại này của phim The Wizard of Oz. 

Ở cuối đường 614, TĐ 1/502 đã khám phá MỘT BỊNH VIỆN LỚN, 10 XE TẢI CỦA NGA, 600 SÚNG TRƯỜNG SKS, VÀ HÀNG NGÀN ĐẠN SÚNG KHÔNG GIỰT, CỐI, VÀ ĐẠI BÁC. Quân Mỹ đã xây CCHL Lash ở hai bên đường 614 và cắt nhiều đường tiếp tế của địch vào và ra từ vùng nam thung lũng.

Hy vọng chạm súng với đại đơn vị quân csbv của lữ đoàn 2 của sđ 101 dù đã ko xảy ra. Các đv của trung đoàn 9 csbv, có mặt tại vùng này, thay vì chiến đấu, đã bỏ những căn cứ, kho vũ khí, xe tải, và rút về hướng bắc.

Tướng Stilwell, TL quân đoàn XXIV, đã chuẩn bị để đổ mười tiểu đoàn vào một khu vực - mà không biết rằng những đv trên đây của bắc quân cũng sẽ tiến vào khu vực đó. Nỗ lực chính là ba TĐ của sđ 101 dù - TĐ 1/506, TĐ 3/187 của ĐT Honeycutt đã kể trong bài trước, và TĐ 2/501 -- và hai TĐ của sđ 1 VNCH. 

Dù họ không tham dự trong giai đoạn đầu của cuộc tấn công vào bắc A Shau, các đv khác như 3/5 Thiết Kỵ, lữ đoàn 9 TQLC, và hai TĐ khác của VNCH đã sẵn sàng để yểm trợ cho HQ này. Tướng Stilwell giao cho 3/5 Thiết Kỵ tảo thanh tỉnh lộ 547, chạy từ A Shau đến Huế, để con đường này có thể hoàn tất xuyên qua vùng núi phía đông và thẳng vào tâm của thung lũng, và lữ đoàn 9 TQLC lại vào thung lũng Da Krong và bẻ gẫy mọi mưu toan tăng viện cho phía bắc thung lũng.

Cuộc HQ sắp tới vào bắc A Shau có tên Apache Snow. Cuộc thách đố rất đơn giản: hoặc bắc quân sẽ bỏ các kho võ khí, đường xá, và doanh trại-- như họ đã làm ở nam thung lũng-- và chạy sang Lào, hay họ có thể bảo vệ chúng và đối diện hủy diệt. Quyết định của bắc quân ở lại và chiến đấu tại bắc thung lũng đã đc các nhà quân sự gọi là TRẬN ĐÁNH ÁC LIỆT NHỨT TRONG SUỐT CHIẾN TRANH VIỆT NAM.

Dịch từ trang 53 - 61 của Hamburger Hill.

Tài Trần

San Jose ngày 4 DEC 2020

                        


Wednesday, December 2, 2020

 CHƯƠNG 6TQLC Mỹ đã tịch thu 37 đại bác phòng không 37 ly, 16 đại bác 122 ly khi vượt biên giới Lào-Việt tháng 2/1969 

Lời nói đầu: vì tôn trọng sự trung lập của Lào và Kampuchia, ấn định bởi HĐ Geneva 1954, liên quân Việt-Mỹ chỉ phép vượt biên giới trong những tình hình nghiêm trọng nhứt. Lợi dụng lịnh này, CSBV đã lập nhiều căn cứ tiếp vận lớn lao nằm trên biên giới - như căn cứ 611 ở biên giới Lào-Việt, phía tây Huế và gần trại LLĐB A Shau. Từ căn cứ tiếp vận chiến lược này, hàng đoàn công voa, có tháng tới 1.000 chiếc ra vào, để chuyển hàng tiếp tế theo đường HCM vào nam hay xuôi theo xa lộ 922, chạy vào thung lũng A Shau hay theo tỉnh lộ 547 đến Huế. Do địa thế hiểm trở và VNCH ko đủ quân để kiểm soát thung lũng A Shau và vùng phụ cận hiểm trở này, nên sau khi trại lọt vào tay CS từ năm 1966, khu vực này hoàn toàn do CS kiểm soát. Đầu năm 1969, nhờ quân Mỹ có mặt dồi dào (khoảng 50 ngàn) ở QK 1, các TL Việt-Mỹ đã tìm cách giải quyết "khối u" này để tránh cho Huế bị tấn công lần thứ hai - mà nguồn vũ khí và người đều xuất phát từ thung lũng này.

Sau đây là phần chuyển ngữ từ quyển Hamburger Hill (Đồi Thịt Bầm) của Samuel Zaffiri. 



=======

...

Để cắt bỏ "khối u" A Shau phải làm một con đường. Đó là quyết định mà tướng Richard Stilwell đã có, chỉ trong thời gian ngắn sau khi làm TL Quân đoàn XXIV, được thành lập ngày 12 tháng 8 1968 để chỉ huy mọi đv chiến thuật của Mỹ tại QK 1 của Việt Nam. Stilwell lập luận rằng để cắt khả năng chuyển hàng tiếp liệu của địch vào và ra khỏi thung lũng A Shau một cách hiệu quả, sự có mặt thường trực của lực lượng đồng minh tại đó là điều cần thiết. Những cuộc tấn công, như HQ Delaware hay Somerset Plains, đơn giản ko thể làm được việc này. Dù họ có thể tạm thời làm gián đoạn tiếp liệu của địch, nhưng khả năng của họ chỉ tới như vậy. Do vậy, vấn đề ko phải chỉ xây dựng và điều hành những căn cứ lớn trong thung lũng hay phát động những HQ lùng-và-diệt-địch lớn lao, nhưng là tái tiếp tế cho hai hình thức này. Trong khi hỏa lực phòng không dày đặc của địch trong thung lũng là một vấn đề mà cuối cùng quân Mỹ phải giải quyết, khó khăn lớn nhứt mà đồng minh đã gặp ở A Shau là THỜI TIẾT. Để giữ thung lũng lâu dài, tướng Stilwell đã kết luận, sẽ đòi hỏi một nguồn tiếp tế lớn và đều đặn. Và để bảo đảm điều này, phải cần xây một con đường có thể hoạt động trong mọi thời tiết và đường bắt đầu từ căn cứ của sđ 101 Dù tại TRẠI EAGLE, ở 7 km đông nam Huế và 9 km tây sân bay Phú Bài, xuyên qua các bình nguyên ven biển, đi qua núi non và thẳng vào trung tâm của thung lũng. Làm một con đường như vậy là một nhiệm vụ (undertaking) đầy tham vọng, nhưng đó là chọn lựa duy nhứt để thung lũng này khỏi lọt vào tay Bắc quân.

Thật là lạ lùng, con đường này - mà những lính công binh Mỹ đã làm xuyên qua rừng ba từng (triple-canopy) và thường chạy dọc theo rìa của núi cao hay những vách đá dốc đứng - lại là phần dễ nhứt của công việc mở lại A Shau. Người Mỹ chỉ giỏi có một thứ, đó là làm đường. Trong chưa tới BA THÁNG, bằng cách dùng những xe ủi đất (bulldozer) khổng lồ nặng 15 tấn và hàng đoàn máy san đất (grader) và dumper (xe có thùng có thể lật nghiêng để đổ những thứ trong đó), các lính công binh của sđ 101 đã làm xong con đường hai làn chạy gần 20 dặm, khoảng 32 km, từ trại Eagle tới phía đông của thung lũng A Shau. Đó là một công trình ko thể tưởng tượng trong một thời gian ngắn và băng qua địa thế hiểm trở như vậy, nhưng vẫn còn thiếu bảy dặm mới hoàn tất - nhưng là 7 dặm hay hơn 11 km chạy ngang lòng địch. Do đó để hoàn tất con đường, thung lũng phải được tấn công và giữ an ninh.

Như ĐT TQLC Sullivan đã viết năm 1966 sau khi trại LLĐB A Shau thất thủ, để vô hiệu hóa các hoạt động địch trong thung lũng, phải cần nhiều cuộc HQ hay đột kích (foray) với tham dự của 2 TĐ hay hai lữ đoàn. Các thất bại của các HQ trong quá khứ ko phải vì lập kế hoạch dở nhưng vì thiếu quân, tiếp vận, và hỏa lực. Muốn phá vở "khối u" trên đây, phải có HQ toàn diện - kiểu đã áp dụng trong đệ nhị thế chiến. Đầu tháng giêng 1969, ban tham mưu của QĐ XXIV đã có kế hoạch như vậy. Họ định tổ chức 4 cuộc HQ riêng lẻ, một tấn công Căn Cứ 611, và ba nhắm vào thung lũng. 

TQLC Mỹ đã dự định phát động HQ Dewey Canyon, một HQ cấp trung đoàn từ căn cứ Vandergrift tiến về nam, xuyên qua thung lũng Da Krong và vào trung tâm của căn cứ khổng lồ 611 của csbv. Nằm trải dài hai bên của biên giới Lào-Việt, 611 từ lâu là CÁI GAI vào hông của đồng minh. Hàng tiếp tế từ đường mòn HCM sẽ chứa ở đây, rồi chuyển tiếp theo đường này, hay thông thường, theo xa lộ 922 trong A Shau. Dù luôn luôn là điểm nóng (hotbed) của hoạt động tiếp vận, chỉ trong tháng qua, số lượng xe tải chung quanh 611 đã gấp hai lần khoảng 1.000 xe ngày. Đây là con số đáng kinh ngạc (stagger) và hơn nữa gần đây có bốn trung đoàn csbv đã được nhận thấy trong khu này đã khiến các nhà tình báo suy nghĩ: csbv đang chuẩn bị người và vũ khí để đánh Huế lần nữa. Dù ko có cách nào để kiểm chứng điều này, nhưng phe đồng minh vẫn phải sớm thực hiện HQ Dewey Canyon, dù chỉ mới thai nghén trên giấy tờ vài tuần. 

Cuộc tấn công vào 611 với ba TĐ: 1, 2, và 3 của tr.đoàn 3 TQLC. Tiến quân thành ba mủi từ sáng sớm ngày 20 tháng 1, với pháo binh dọn đường, họ bắt đầu tiến vào giữa của thung lũng Da Krong. Như TQLC trông đợi, địch đã ko có ý bỏ rơi kho tiếp liệu và kho súng khổng lồ tại thung lũng mà ko chiến đấu, cả ba TĐ chẳng bao lâu đã chạm súng đẫm máu với những đv cấp trung đội địch.

Tuy nhiên, theo thông lệ, TQLC đã lập các căn cứ hỏa lực (CCHL) trong khi tiến quân để làm sao bất cứ lúc nào họ cũng đc yểm trợ bởi pháo binh. Mỗi khi gặp 1 vị trí địch, họ kêu pháo binh, và sau đó cho bộ binh lục soát. Những trận đánh tuy nhỏ, nhưng đến cuối tuần đầu ở Da Krong, họ đã giết hơn 400 ĐỊCH QUÂN và khiến hàng trăm tên phải chạy về căn cứ 611 hay A Shau. 

Khi lính Mỹ tới gần biên giới, Bắc quân đã đánh trả với đại bác dã chiến 122 ly - đây là một võ khí tốt nhứt của Nga trong đệ nhị thế chiến, có tầm bắn xa hơn và tác hại hơn là 105 ly của Mỹ. Họ đã đặt súng ở hang sâu bên phía Lào, và xạ thủ rất giỏi. Thay vì bắn vào các đv bộ binh di chuyển liên tục, họ bắn vào các CCHL của Mỹ, và bắn liên tục ngày đêm. Tại một CCHL, một quả trúng hầm chỉ huy giết 5 lính Mỹ, và tại một CCHL khác, toàn bộ một khẩu đội 105 đã chết hay bị thương. Dù xạ thủ TQLC đã cố gắng nhiều, nhưng họ ko thể câm họng chúng vì chúng đặt trong hang sâu. 

Tuy vậy, ba cánh quân của TQLC vẫn tiến tới biên giới. Cuộc chiến đã dữ dội hơn và 2 ngày sau, cả 3 tđ đã sát gần biên giới và đã vào một phần của căn cứ 611 nằm trên biên giới của Nam VN. Họ đã ngừng ở đây, dù nhiều lính Mỹ, giận dữ vì bị pháo 122 ly, đã muốn vượt biên giới để phá tan chúng. Một yêu cầu được tấn công đã đi theo hệ thống quân giai của TQLC Mỹ và tới tay tướng Abrams TL quân Mỹ tại VN. Tướng quân lúc đó giống như cầm củ khoai tây nóng. Dù thông cảm với TQLC Mỹ, nhưng chính sách đã nói rõ rằng các đại đội ko đc vượt biên trừ những tình huống nghiêm trọng nhứt. Tướng Abrams nói với TQLC ông sẽ nghiên cứu đề nghị và trả lời sau. 

TQLC ko thể chờ: ngày 2 tháng 2, một đ.đ. của tđ 2 đóng trên đỉnh một núi khống chế xa lộ 922, đã thấy một đoàn công voa lớn chạy chậm dọc theo phía biên giới thuộc Lào. Pháo binh được gọi, và hỏa lực này đã tan biến (dissipate) trong rừng núi dầy đặc, và đoàn công voa biến dạng. Đối với lính TĐ 2 TQLC, đây là giọt nước tràn ly: họ đã tức giận vì phải ngồi yên để thấy địch quân di chuyển hàng tiếp liệu cách họ vài trăm mét, nên đã xin cấp trên cho tấn công. Dù biết phạm luật, ĐT Barrow TĐT vẫn cho phép. Tối đó, đạị đội H của TĐ vượt biên, lập một vị trí phục kích trên xa lộ 922, và chiều hôm sau đã đụng độ với một đoàn công voa lớn. Vì sợ ở lâu trên đất Lào sẽ vi phạm luật, đ.đ. này đã trở lại VN. Sau đó, họ biết rằng ĐT Abrams, sau khi tranh luận với bộ tham mưu, đã cho phép TQLC có thể HQ cấp TĐ xuyên biên giới để đập tan các khẫu 122 ly. 

Không trể một giây, đại đội đã cùng phần còn lại của tđ lại vượt biên giới. Dù họ ko phá đc khẫu 122 nào, nhưng qua các cuộc chạm súng dữ dội, họ đã giết vài chục bắc quân và khiến những đv canh gác căn cứ vĩ đại này phải rút chạy. Nhờ vậy, TQLC đã tiến quân vô sự và đã bắt đầu khám phá vài kho vũ khí trong số những kho vũ khí lớn nhứt chiến tranh.

Khi HQ Dewey Canyon chấm dứt cuối tháng 2, họ đã tịch thu 37 SÚNG PHÒNG KHÔNG, 16 ĐẠI BÁC DÃ CHIẾN 122 LY, gần 1.000 AK-47, hàng trăm lựu đạn và rocket, hơn 1.000.000 đạn súng nhỏ và liên thanh, và 250.000 cân Anh hay khoảng 113 tấn gạo. Tuy nhiên, thiệt hại nghiêm trọng nhứt của đối phương, vẫn là con người: gần 1.700 quân thiện chiến của csbv chết, và số bị thương gấp ba lần. Đây là những tổn thất mà họ không bao giờ có thể hoàn toàn thay thế. Phe TQLC có 130 chết và hơn 900 bị thương.

Có những bàn tán (understatement) rằng phe đồng minh đã vui sau HQ Dewey Canyon, nhưng là niềm vui ko trọn vẹn (hesitant). Các TL từ tướng Abrams trở xuống đã biết rõ rằng địch quân, như con chim Phượng Hoàng (Phoenix) huyền thoại, đã có một khả năng kỳ lạ (uncanny) là hết lần này đến lần khác sống lại từ đống tro tàn của thất bại và tự nó phục hồi. Như họ đã làm trong quá khứ, các TL phải tiếp tục mở các cuộc HQ để đẩy lui địch ra khỏi căn cứ của họ. 

Dịch từ trang 47-51 của Hamburger Hill. 

Ngày 2 Dec 2020.    

=====

   ĐỌC THÊM:

VÀI HÀNG VỀ SĐ 1 KHÔNG KỴ

Biệt danh: First Team

- Đơn vị đầu tiên đc triển khai cả sđ tới VN và đv cấp sđ hoạt động lâu nhứt tại VN. 

Quân số: 16.000 ng.

Thương vong: nhiều nhứt trong các sđ của Lục quân Mỹ với 5.464 chết (14/100 của số chết của Lục quân); bị thương: 26.592. 

1/ Hệ thống vũ khí:

- Pháo binh cơ hữu: 105 ly, pháo binh 155 ly của đv tăng phái.

- Trực thăng tấn công: UH-1 gunship (có đại liên M-60 và hỏa tiển); trực thăng AH-1 Cobra với đại liên, rocket và phóng lựu 40 mm.

2/ Tổ chức:

- Các lữ đoàn không kỵ: 3 LĐ.

- Pháo binh của sđ: TĐ trực thăng quan sát OH-6 Loach, TĐ trực thăng Cobra, và ba TĐ pháo 105 ly.

- Về không lực: hai TĐ trực thăng tấn công, còn gọi là gunship UH-1 Iroquois, một TĐ trực thăng Chinook CH-47. 

- Thành phần yểm trợ: truyền tin, quân cụ, quân y, hành chánh, v.v... trong năm TĐ hay hai đ.đ.

- Hai TĐ, hai đ.đ. và một phân đội về công binh, quân cảnh, quân báo, v.v...

https://www.historynet.com/a-valley-soaked-in-rain-blood.htm        







                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   


Tuesday, December 1, 2020

 CHƯƠNG 5 - Sư đoàn 1 Không Kỵ và sư đoàn 101 Dù hành quân ở thung lũng A Shau năm 1968


Lời nói đầu: Những đv Mỹ hành quân (HQ) vào thung lũng A Shau thuộc tỉnh Thừa Thiên, năm 1968 và 1969 phần lớn thuộc sđ 101 Dù (trong đó có TĐ 3/187 của ĐT Honeycut mà tôi đã viết) và sđ 1 Không Kỵ. 

SĐ 1 Không Kỵ (First Air Calvary hay Air Cav) nguyên là một sđ THIẾT GIÁP, thành lập từ 1921, từng tham dự chiến trường Thái Bình Dương trong đệ nhị thế chiến và chiến tranh Cao Ly nhưng đến năm 1965, đã trở thành một sđ Không Kỵ, nghĩa là ko dùng xe thiết giáp mà lại dùng các loại trực thăng như Loach OH-6 để thám thính; như gunship UH-1 (mà không quân VNCH đã xài) và sau này là Cobra AH-1 để tấn công; như Huey UH-1 hay Chinook CH-47 (chỡ cả trung đội) để tải quân, tiếp tế và tải thương; và như Skycrane CH-54 để câu đại bác hay xe ủi đất nặng hàng tấn. Vì các chiến lược gia Mỹ đã muốn thử nghiệm một phương tiện chiến tranh mới khiến sđ gốc từ Thiết giáp này sẽ ko còn lệ thuộc vào đường xá hay địa hình mà nay có thể nhanh chóng trực thăng vận đến mọi mục tiêu xa xôi với hỏa lực ko thua kém gì một đv thiết giáp cổ điển - ví dụ một chiếc Cobra có trước mủi của nó hai khẫu Minigun, mỗi khẫu có thể bắn từ 2-6 ngàn đạn 7.62 ly trong một phút. Cũng có Cobra trang bị 2 phóng lựu, mỗi khẫu bắn 400 viên đạn 40 ly trong một phút. Cũng có chiếc vừa trang bị một Minigun và một phóng lựu. Ngoài ra, mỗi Cobra mang được từ 7 đến 19 rocket loại 70 ly và một đại bác 20 ly XM195 tốc độ 6 ngàn viên phút.

Sau đây là phần chuyển ngữ.


=====

...

Tướng Westmoreland đã giận dữ về cách mà báo chí loan tin về Tổng Công Kích Tết,nhưng ông ta đã có ít thời gian để quan tâm với vấn đề này. Phần lớn miền Nam Việt Nam trong cảnh đổ nát (lay in ruins); khắp nước, cuộc chiến này đã hủy diệt hơn 170.000 căn nhà lớn nhỏ, và các trại tị nạn, vốn đã quá tải, nay phải chứa thêm 600.000 người ko nhà.

Việt Cộng ko còn là một lực lượng chiến đấu, nhưng phần lớn các đv Bắc Việt Nam, an toàn trong những căn cứ trong rừng rú của họ dọc biên giới Cambodia và Lào, vẫn còn nguyên vẹn. Từ những căn cứ như vầy mà VC đã tập kết (draw) vũ khí và đạn dược để dùng cho những cuộc tấn công trong dịp Tết, và Westmoreland và bộ tư lịnh quân viện Mỹ tại Việt Nam (MAC-V) đã bắt đầu chọn các căn cứ này làm mục tiêu để triệt hạ.

Một khu căn cứ mà tướng quân đặc biệt đã muốn tấn công là A Shau. Kinh ngạc bởi tàn phá sâu rộng mà Huế đã chịu đựng và một lượng lớn thường dân thương vong, và có nhiều báo cáo tình báo chỉ rõ rằng A Shau là một khu vực tập trung chánh để tấn công Huế, Westmoreland đã nhận định rằng thung lũng này phải được tấn công - và phải tấn công mạnh. Bởi đơn giản rằng ông ko muốn một trận đánh như Huế tái diển. 

Đây là một quyết định mà ông đã ko thể xem xét vài tháng trước đây, nhưng với đe dọa của Tổng Công Kích Tết đã ko còn (finished) và với 50 ngàn lính Mỹ tại Vùng I, nay ông cảm thấy rằng cuối cùng ông có thể bắt đầu những cuộc hành quân (HQ) lưu động dọc theo biên giới là điều mà ông đã muốn thực hiện từ 1965. 

Các tư lịnh của TQLC và không quân Mỹ lần này đã kịch liệt (vehemently) chống đối những cuộc HQ tìm-và-diệt địch lớn và lưu động như vậy, thay vào đó, họ muốn một phiên bản cải tiến của CHIẾN LƯỢC ĐẤT NỘI PHẬN (enclave strategy) - đầu tiên do tướng Mỹ James Gavin đề ra, theo đó lực lượng đồng minh sẽ có thể ít nhiều nhường (concede) núi rừng cho địch và tập trung bảo vệ các vùng bình nguyên và ven biển. (NÓI THÊM: các chiến lược gia Mỹ-Việt từ lâu đã đề nghị chiến lược này với TT Thiệu nhưng ông Thiệu ko chịu áp dụng vì tác động chính trị của chiến lược này khi nó khuyến cáo CP VNCH chỉ tập trung bảo vệ những vùng bình nguyên và ven biển vừa đông dân và nhiều tài nguyên, và chiến lược này cũng trái ngược với chính sách cố hữu 4 không của ông - người dịch). Tuy nhiên, Westmoreland đã từ chối chiến lược của Gavin. Ông đã mê say tin tưởng rằng phải buộc đối phương giao chiến, thay vì chờ họ tấn công, và tốt nhứt là đánh nhau với chúng nơi núi rừng hơn là tại các TP đông dân của các bình nguyên ven biển. Tướng Earle Wheeler, tham mưu trưởng Lục quân Mỹ và chủ tịch Ủy ban Tham mưu Hỗn hợp, cũng hỗ trợ ý tưởng này và kết quả là những cuộc HQ tìm-và-diệt đã trở thành một phần ko thể thiếu trong các chiến thuật của đồng minh cho phần còn lại của cuộc chiến. 

Như năm 1966, sau khi mất trại LLĐB A Shau, TQLC Mỹ là lực lượng đầu tiên được các TL Mỹ xem xét để làm nỗ lực chính trong giai đoạn đầu của cuộc tấn công lần nữa vào A Shau (ám chỉ kiểm soát lại vùng này sau khi trại này bị CS năm 1966 - người dịch). Đây có vẻ một lựa chọn hợp lý, đặc biệt TQLC có lịch sử là một đạo quân thiện chiến (shock troop), toàn lính tình nguyện và khả năng thực hiện các đầu cầu (beachhead). (Theo tôi biết, thời điểm chiến tranh VN, lực lượng bộ chiến của Mỹ, ngoại trừ lính TQLC, BĐQ, sđ 82 nhảy dù và LLĐB Mỹ là TÌNH NGUYỆN, còn các sđ khác, kể cả sđ 101 Nhảy Dù hay sđ 1 Không kỵ trong bài viết này, hàng ngũ BS đa số là lính quân dịch- người dịch). Bất hạnh thay, A Shau ko phải một hòn đảo, nhưng là một thung lũng đầy hầm hố, và TQLC, ko muốn tấn công vào một mục tiêu như vậy. 

Một phần nhỏ của ngần ngại (recluctance) của TQLC khi phải đánh vào thung lũng này đã dựa trên một nỗi sợ hợp lý rằng họ có thể sa lầy (mired) trong một thảm họa lớn lao nào đó, nhưng phần khác lớn hơn đã dựa trên một thực tế (fact) đơn giản rằng họ đã không có những khả năng về tiếp vận để mở một cuộc tấn công như vậy. Vì tướng Chaisson đã cảnh báo ở một cuộc họp về HQ tại BTL của MAC-V ngay sau Tết 1968, rằng để cho TQLC Mỹ hành quân ở A Shau sẽ cần ko những mọi trực thăng mà binh chũng này có ở VN, mà phải đình chỉ toàn bộ tất cả các cuộc HQ khác của họ, bao gồm rút bỏ những lực lượng quan trọng đang án ngữ ở vùng phi quân sự (DMZ), một điều ko ai muốn. (Họ trấn đóng ở nam vĩ tuyến 17 này để đề phòng một cuộc tấn công của CSBV đánh qua vĩ tuyến, như CS đã làm sau đó vào năm 1972 -- người dịch). 

Đó đã là một lựa chọn khôn ngoan. Được đánh giá bởi những chuyên gia quân sự như sđ giỏi nhứt tại VN, sđ 1 Không Kỵ (First Cavalry Division, viết tắt là "Cav"), cũng là đv trang bị tốt nhứt. Với gần 500 TRỰC THĂNG, họ đã có số trực thăng gấp NĂM lần các sđ Mỹ khác tại VN. Và họ đã biết cách dùng chúng. Tại Fort Benning trước khi tham chiến ở VN, họ là sđ đầu tiên đã phát triển những chiến thuật không kỵ mới, và một khi ở VN họ đã hoàn thiện (refine and perfect) những chiến thuật này. TQLC Mỹ đã nói đùa rằng mỗi lính của sđ Không Kỵ có một trực thăng riêng, và dù đây chỉ là một phóng đại (exaggeration), sự thực sđ này đã coi thường những cuộc HQ chậm chạp - do người lính phải đi bộ, vì sđ này có thể đến mọi nơi bằng đường không. Với trực thăng riêng của sđ, khả năng lưu động tính của họ bằng 100 LẦN các sđ khác trong lịch sử. Như họ đã chứng tỏ một cách thuyết phục ở TRẬN IA DRANG NĂM 1965 - lúc đó họ đã đánh bại dự định chiếm Pleiku và cắt Nam VN làm hai của Tướng Giáp - do sđ này là bậc thày về lối tấn công chớp nhoáng và lối điều quân bất ngờ và quyết định. 

Trong gần 4 năm ở VN, sđ này chỉ HQ ở QK 2 (BTL đặt tại An Khê trên QL-19 -- người dịch). Trong THÁNG GIÊNG 1968, Tướng Westmoreland, cảm thấy rằng đối phương sắp mở một tấn công ồ ạt vào những tỉnh phía bắc, đã chuyển sđ này từ khu vực trách nhiệm hay AO của họ ở Quảng Ngải và Bình Định về tỉnh Thừa Thiên. Đây là một cuộc cuộc chuyển quân mà sau này tướng quân đã nhận xét đó là một trong những quyết định tốt nhứt (soundest) về chiến thuật. 

Kể từ khi đến QK 1, sđ này đã hoạt động liên tục (on a roll). Trong Tổng Công Kích Tết 1968, họ đã ngăn chặn thành công và khiến ba trung đoàn địch quân phải rút chạy (put on the run) khi địch cố gắng tăng viện và tái tiếp tế các đồng chí của họ ở Huế. Rồi gần như ko nghỉ ngơi, họ đã vội vả tiến về phía bắc và tập hợp tại tp Quảng Trị. Từ đây - trong điều mà các chiến lược gia sau này đã gọi là một ví dụ cổ điển về hỏa lực và điều quân - họ đã tung ra một tấn công chớp nhoáng về hướng tây, khi mở lại QL-9 và đập tan những lực lượng địch đang phong tỏa căn cứ của TQLC tại Khe Sanh. 

Sau Huế và Khe Sanh, họ đã phá tan mọi nghi ngờ về khả năng của sđ này. Khi Westmoreland chọn sđ Không Kỵ lãnh đạo cuộc HQ DELAWARE (nghĩa là làm nỗ lực chính trong cuộc HQ này vì có thể có những đv khác tăng phái -- người dịch), là cuộc tấn công ĐẦU TIÊN vào A Shau TRONG HƠN BỐN NĂM, ông có thể khẳng định rằng chỉ có Không Kỵ mới có thể đập tan thành lũy (strangehold) của địch trong thung lũng này. 

Tướng Jack Tolson, TL sđ này, cũng nghĩ như vậy. Là một cấp chỉ huy dứt khoát và thực tế (hard-nosed, no non-sensense), Tolson đã rất ấn tượng về sự toàn hảo và sự chuyên nghiệp mà sđ của ông đã bộc lộ khi HQ ở Khe Sanh và Huế và ông đang nhìn về phía trước với một thách thức lớn hơn mà A Shau đang chờ ông.

Tuy nhiên, Tolson đã nhanh chóng tìm thấy rằng có một khác biệt đáng kể giữa đánh nhau với địch ở vùng bình nguyên quanh Huế với HQ trực thăng vận vào trung tâm của một thung lũng mà địch quân đã có bốn năm để chuẩn bị chiến đấu. 

Những toán trinh sát được trực thăng chỡ vào thung lũng NGÀY 14 THÁNG 4, bốn ngày trước khi HQ khai diển, với nhiệm vụ đánh dấu những vị trí phòng không của đối phương để cho B-52, oanh tạc cơ hay trực thăng tấn công. Vào lúc mà họ vào thung lũng, họ đã thấy rằng chính họ đã được CS đánh dấu để hủy diệt. 

Các ước tính tình báo đã tiên đoán một tập trung cao độ về hỏa lực phòng không khắp thung lũng, nhưng không nặng nề như các toán trinh sát  đã gặp. Hầu như mọi ngọn núi ở hai bên của thung lũng đều được bảo vệ bởi súng phòng không. Phần lớn là đại liên 12.7 ly, nhưng cũng có đại bác phòng không 37 ly. Đặt trên bánh xe và điều khiển bởi 7 người, súng 37 ly này có thể làm nổ tung một trực thăng hay phản lực ở độ cao 7.620 m. Khi đoàn trực thăng tiến vào thung lũng, họ đã gặp một rừng súng cao xạ và liên thanh. Họ ko cần tìm kiếm mục tiêu vì mục tiêu có khắp nơi. Tấn công chúng rất khó khăn. TRONG SÁU NGÀY, nhiều đợt B-52, oanh tạc cơ, và trực thăng võ trang  tấn công vào các vị trí địch, và thung lũng đã rung rinh (shudder) dưới cơn bão của bom miểng, napalm, và hỏa tiển. Tổng cộng B-52 đã bay gần 200 phi xuất và máy bay của TQLC và KQ Mỹ 300 phi xuất. Và kết quả gần như số không. Phần lớn các vị trí của địch đào sâu vào lòng đất đến nỗi bom và hỏa tiển chỉ có tác động rất nhỏ, và địch quân đã nhanh chóng thay thế một số ít vị trí bị đánh sập. 

Lúc đầu Tolson dự định khởi động HQ Delaware NGÀY 19 THÁNG 4 với việc trực thăng vận TĐ 1 của lữ đoàn 3 vào một bãi đáp hay LZ gần trại LLĐB bỏ hoang của nam VN tại A Lưới. Tuy nhiên, vào phút cuối, ông buộc hủy bỏ vì hỏa lực phòng không dữ dội ở khắp thung lũng. Ông đã chọn một bãi đáp khác nằm kế một con đường lớn của bắc quân nối phía bắc của thung lũng với Lào. Dù những trực thăng đầu tiên đáp an toàn xuống kế đường này, những chiếc tiếp theo bị trúng đạn phòng không. Chỉ trong VÀI GIỜ, 23 chiếc bị hư hại nặng và MƯỜI CHIẾC bị bắn rơi. 

Phần lớn lính của TĐ này đã xuống đất an toàn, nhưng họ đã gặp những vấn đề vượt quá khả năng (overwhelm) để hoàn thành nhiệm vụ. Đó là họ phải lập tức bắt đầu xây dựng một căn cứ hỏa lực (CCHL) để hỗ trợ một cuộc tấn công băng đồng (cross-country) hướng về A Lưới. Thay vào đó, họ thấy rằng họ đã bị ghìm chặc (pinned down) bởi hỏa lực của địch từ những vị trí trên những núi non chung quanh, cộng với số lượng lớn lính chết và bị thương, và bao quanh họ là những trực thăng bị rơi với cánh quạt cong quẹo, cửa kiếng phòng lái bể nát, và bên trong đầy máu. Trong khi TĐ 1/7 không kỵ này phải chiến đấu chống lại địch quân trong hầm hố ở phía trên núi cao, thì gần đó ở Núi Cọp (Tiger Mountain), TĐ 5/7 Không kỵ, cũng bắt đầu tiến vào mục tiêu. Cũng như TĐ 1/7, họ cũng đổ quân dưới hỏa lực địch, và một khi tiếp đất họ nhanh chóng đào hố để tránh cơn mưa của đạn cối bắn từ bên kia biên giới Lào-Việt. 

Sau vài giờ, TĐ 1/7 đã củng cố các vị trí đủ để họ có thể lần nữa bắt đầu cố gắng xây dựng một CCHL trên thung lũng này. Các lính Công binh với cưa máy đã điên cuồng cưa cây, và lính bộ binh thì dùng dao rựa (machete) để chặt tre và cỏ voi, để mở rộng xạ trường. Khoảng 1 giờ sau, một đám (bevy) trực thăng khổng lồ Chinook tới, mỗi chiếc mang một khẫu 105 ly trong dây treo dưới bụng. Kế đó là những pa-lét khổng lồ đạn và lính pháo thủ. Vài phút sau, súng 105 ly đã bắt đầu nhả đạn vào các vị trí trên núi. Tất nhiên, Bắc quân đáp trả bằng mưa pháo cối. 

Vào buổi sáng, TĐ 1 tiến theo hướng đông nam về A Lưới và TĐ 5 đi theo con đường kể trên hướng về Lào. TĐ 1 gặp chống cự mãnh liệt. Mỗi bước đi xuyên ngang thung lũng, họ phải đối phó với những nhóm lính địch có nhiệm vụ đoạn hậu, đây là những người lính đã tấn công (slash) vào đội hình lính Mỹ bằng súng nhỏ và liên thanh và sau đó tan biến vào rừng núi. Và, luôn luôn, vẫn là những tên bắn sẻ. Ngồi trên ngọn các cây cao 3-4 chục mét hay trốn trong các hang động hay bên dưới các tảng đá khổng lồ, họ đã nhắm vào lính Mỹ, lần lượt bắn gục họ, rồi cũng tan biến vào rừng hay hang sâu. Để giải quyết thương vong, trực thăng cứu thương ra vào thung lũng liên tục. Nhiều trực thăng này, sau khi bay ra, đã bị bắn và nổ tung trên trời hay bị bắn nhiều đạn đến nỗi phải đáp khẩn cấp (crashland). 

Tình hình này phức tạp hơn khi thời tiết cũng đã bắt đầu gây khó khăn cho lực lượng của Tolson. Vào sáng NGÀY 21 THÁNG 4, họ đã thức dậy với sương mù và trần mây thấp đến nỗi họ ko thể thấy các đỉnh của núi trên đầu của họ. Và kế đó, khoảng ngày thứ ba của cuộc HQ, trời đã bắt đầu mưa. Đó ko là mưa phùn (drizzle) nhẹ vào buổi chiều mà họ đã trông đợi vào thời gian này của năm, nhưng là dông bão (thunderstorm) dữ dội với sấm sét nổ vang rền và mưa to (in sheets) đã rơi. Sau nhiều ngày mưa, thung lũng đã trở thành vũng lầy (quagmire), và cuộc HQ đã chậm hẳn đi (to a crawl). 

Để giúp binh sĩ nhận tiếp tế, các phi công trực thăng đã phải bay các phi vụ mà Tolson đã mô tả là "nguy hiểm chết người" (sheer terror). Vì thung lũng hoàn toàn bị che phủ bởi sương mù, họ phải đáp và cất cánh dựa vào PHI CỤ. Thông thường một chuyến bay từ trại Evans (căn cứ của lữ đoàn 3 

nằm cạnh QL-1 và phía bắc Huế -- người dịch) tới thung lũng khoảng 20 phút, nhưng với sương mù và mưa, phần lớn phi công phải tốn thời gian gần bốn lần. Ngay cả bay với phi cụ, nhiều phi công đã thả đồ tiếp tế sai chỗ hay, tệ hơn, họ phải bay lòng vòng trên thung lũng, ko biết họ đang ở đâu. 

Tuy nhiên Không Kỵ đã có vài tiến bộ. Ở bãi đáp đầu tiên tại phía bắc thung lũng, lữ đoàn 3 của sđ đã tiếp tục mang đồ tiếp tế và các pháo thủ tiếp tục bắn đại bác (keep gun hot lobbing shells) vào các vị trí của địch quân trên núi. Cùng lúc đó, TĐ 1 đã tiếp tục tiến quân trong bùn tới mắt cá chân hướng về A Lưới, một trại LLĐB bỏ hoang. 

Để mở rộng cuộc HQ, Tolson đã biết rằng ông sắp phải mang ngày càng nhiều đạn dược và trang bị, và để làm điều này ông phải mở lại sân bay A Lưới. Vì trực thăng ko thể tiếp tế lữ đoàn 3 đủ phương tiện để giữ thung lũng. Để làm điều đó, ông phải cần các máy bay C-130 khổng lồ của KQ Mỹ.

Khoảng 21 THÁNG TƯ, trời ngừng mưa, mặt trời ló dạng và nhanh chóng làm khô thung lũng. Khi TĐ 1/7 đã tới A Lưới, Tolson ra lịnh cho họ bảo vệ một bãi đáp, rồi trực thăng vận TĐ 2 của lữ đoàn 3 vào vùng. Hai TĐ này đã đánh đuổi (rout) một lực lương nhỏ địch quân quanh A Lưới và an ninh bãi đáp. Đội công binh đã tới trong vài giờ và, làm việc ngày đêm, đã cho phép phi trường cũ của Pháp này có thể nhận các máy bay chỡ hàng. 

Họ đã hoàn tất công việc vào sáng ngày 26 THÁNG TƯ, và vào đầu buổi chiều cuối cùng những chiếc C-130 đã bắt đầu hạ cánh với hàng trăm tấn hàng hóa. Được tái tiếp tế, các phần tử của lữ đoàn 1 đã bắt đầu lục soát phía tây và nam của A Lưới. Địch quân đã rút lui trước khi họ tới, và lính Không Kỵ đã bắt đầu khám phá các kho lớn chứa vũ khí và lương thực. Trong một kho, họ đã khám phá MƯỜI SÚNG PHÒNG KHÔNG 37 LY và hàng trăm ngàn đạn, trong một kho khác NHIỀU XE TẢI. 

Những đv Không Kỵ khác cũng lục soát thung lũng, nhưng các đv địch đã tránh đụng độ với họ, một số trốn lên núi và những kẻ khác hướng về phía nam đến Tà Bạt. Các chiến binh Không Kỵ đang mong đợi đánh lớn để họ có thể dùng hỏa lực hùng hậu của họ, nhưng hình như địch ko muốn đụng độ với họ.

Hai hay ba ngày sau đó, trời đã bắt đầu mưa lại, một thứ mưa phùn đã lần nữa làm chậm việc thám sát thung lũng. Cùng với mưa là một trần mây có độ cao khoảng trên 90 m và sương mù dầy đặc (soupy). Hạ cánh xuyên qua mây và sương mù đã là khó khăn với trực thăng, nhưng lại đầy nguy hiểm (treacherous) với những chiếc C-130 chậm chạp (lumbering). Không như trực thăng, chúng ko thể hạ cao độ đột ngột trong mây hay sương mù, nhưng phải bay dưới mây nhiều dặm Anh trước khi đáp. Trong khi chúng chuẩn bị đáp xuống, chúng dễ dàng bị bắn bởi địch. Trong NGÀY THỨ HAI từ khi sân bay hoạt động, một số C-130 chẳng những bị thiệt hại nặng mà còn buộc phải đáp khẩn cấp trên phi đạo khiến phải ngừng tạm thời việc không vận tại A Lưới. Rồi trời lại mưa, nước chảy như thác lũ, khiến sân bay phải đóng cửa toàn diện.

Hy vọng trời sẽ hết mưa, tướng Tolson đã ra lịnh ngừng HQ  trong thung lũng, và binh sĩ của ông đã phải nằm rất thấp (hunker down) để tránh pháo kích trong các hầm hố. Nhưng mưa ngày càng nặng hột, và nền của phi đạo A Lưới đã từ từ trôi đi vì mưa bão. 

NGÀY 11 THÁNG NĂM, sau một ngày mưa khác, Tolson đã quyết định ngừng HQ trong thung lũng và ra lịnh rút quân. Mặc dù sau đó tướng quân đã gọi cuộc HQ Delaware là một thành công, kết quả thực tế thấp hơn yêu cầu. Trong khi lữ đoàn 1 và 3 đã khám phá một số lượng lớn vũ khí và tiếp liệu của địch, nhưng thứ này chỉ là một phần nhỏ của khả năng về tiếp vận của CSBV trong thung lũng. Trong khi đó, ngoài một chiếc C-130, sđ còn mất một số lớn trực thăng. 

Tướng Westmoreland đã gọi HQ Delaware là một thành công tuyệt đối (unmitigated), mặc dù hình như rõ ràng rằng ông đã ko thỏa mãn với những kết quả khiêm nhượng (meager) của HQ này. Và cũng hiển nhiên rằng, với cảm xúc mạnh mẻ về thung lũng này, ông sớm có thể mở ra một tấn công khác vào thung lũng này. Tuy nhiên, NGÀY 11 THÁNG SÁU, ông đã bị thay thế bởi tướng Creighton Abrams, TL mới của BTL Quân viện Mỹ tại VN, còn gọi là MAC-V (Military Assistance Command - Vietnam) và nhận chức mới là Tham Mưu Trưởng Lục Quân Mỹ. 

Dù Abrams đã ko bị ám ảnh (obsessed) bởi A Shau như Westmoreland, ông vẫn xem xét việc vô hiệu hóa nó như là một trong những ưu tiên chánh. TRONG THÁNG BẢY 1969, chưa tới 2 tháng sau khi làm TL của MAC-V, ông đã ra lịnh một cuộc HQ khác vào thung lũng này, lần ngày do sđ 101 Nhảy Dù - của tướng Zais, đã nói trong các bài trước đây. (Trong sđ 101 Dù, TĐ 3/187 của ĐT Honeycutt là năng nổ nhứt vì ông rất gan dạ và liều mạng, đã chứng tỏ trong trận đánh sau đó vào Động Ấp Bia - thiệt hại của hai bên rất nặng, đến độ có tên là Đồi Thịt Bầm, được viết thành sách và quay thành film. Cũng vì vậy, ông đã bị búa rìu dư luận, đến độ có binh sĩ của TĐ đã nói "ông muốn hy sinh đến người cuối cùng của TĐ!" -- người dịch). Dù gần đây bị loại khỏi tiêu chuẩn về nhảy dù (tuy mang tiếng là sđ 101 Nhảy Dù nhưng từ khi tham chiến ở VN, sđ này chưa tổ chức một cuộc HQ nhảy dù, mà chỉ chuyển quân bằng trực thăng - ko khác một sđ bộ binh -- người dịch). Tuy vậy 101 Dù, cũng như 1 Không Kỵ, vẫn là đv ưu tú (elite). Việc sđ đã bảo vệ ngoan cường (tenacious) TP Bastogne của nước Bỉ trong đệ nhị thế chiến-- đã đặc biệt nổi tiếng với câu trả lời "Đồ Ngu" (Nuts) của TL sđ là tướng Anthonny C. McAuliffe sau khi nhận tối hậu thư của QĐ Đức -- đã khiến sđ nỗi tiếng lập tức và kéo dài tới sau này. Sau 4 năm triển khai tại VN từ Fort Campbell Kentucky, danh tiếng này vẫn tiếp tục qua các cuộc HQ và trận đánh lớn. Nếu 1 Không Kỵ là sđ giỏi nhứt VN thì 101 đứng hạng nhì. 

Bất hạnh thay, 101, cũng như Không Kỵ trước đó, đã sớm khám phá rằng tiếng tăm của họ chỉ có ảnh hưởng rất nhỏ khi HQ ở thung lũng A Shau. Được đặt tên là SOMERSET PLAINS, cuộc tấn công của 101 vào thung lũng này cũng gặp trở ngại như Không Kỵ. Dự định vào NGÀY 1 THÁNG TÁM, HQ này đã hoãn khi thung lũng bị ướt đẫm (soak) do sương mù dầy đặc và mưa từng cơn (drifting fog and intermitent rain). Khi hết mưa và ko còn sương mù vào ngày 4 THÁNG 8, TĐ 2/327 được trực thăng vận vào một bãi đáp hay LZ gần sân bay Tà Bạt và TĐ 2/502 gần A Lưới, hai đv này đã khởi động cuộc HQ đầu tiên của 101 vào vùng này. Dù khi đổ quân ko một chiếc UH-1 Huey nào bị rớt nhưng địch quân đã nhanh chóng bắn hạ SÁU COBRA, MỘT TRỰC THĂNG THÁM THÍNH OH-6, và MỘT MÁY BAY PHANTOM. 

Trên mặt đất thì "bổn cũ soạn lại". Khi hai TĐ xuất phát từ bãi đáp để tiến về phía nam của thung lũng, những đv nhỏ của địch đã quấy rối trên từng mét của trục tiến quân. Trong một số cuộc chạm súng chớp nhoáng và đẫm máu, 93 lính csbv bị hạ nhưng 101 cũng có 19 chết và hơn 100 bị thương, và hai mất tích. Tuy nhiên, những đv lớn hơn của địch, đã né tránh đụng độ. Cũng như trước đây, quân csbv, một là rút lui về phía nam thung lũng hay di chuyển vào núi. SĐ 101 đã có ý định mở lại sân bay ở Tà Bạt, nhưng mưa lớn trước khi đội công binh được trực thăng chỡ đến. Do đó, họ đã hoàn toàn dựa vào trực thăng để tái tiếp tế. Sau đó, hai TĐ của VNCH cũng tham dự cuộc HQ này, nhưng cũng ko may mắn hơn. Trong vài trận đụng độ, họ giết 88 quân csbv, nhưng cũng chết gần 80.

NGÀY 18 và 19 THÁNG TÁM, 4 TĐ này đã rút khỏi A Shau. Họ rời thung lũng mà ko có an ủi nào vì ko phát hiện một kho vũ khí lớn của đối phương. Thực vậy, trong 15 ngày đầy thất vọng trong thung lũng họ chỉ thu được VÀI KHẪU AK-47 và ba quả mìn đã cũ 15 năm của Pháp. Như chúng ta có thể trông đợi, các báo cáo Hậu HQ của các sử gia của sđ đã mô tả HQ Somerset Plains là thắng lợi lớn. Thực tế, nó còn tệ hại hơn HQ Delaware của sđ 1 Không Kỵ. Nó đã khiến nhiều sĩ quan tham mưu, từ BTL Mỹ tại VN trở xuống, phải lắc đầu với sự mất tinh thần (consternation), khi đặt câu hỏi phải làm gì để giải quyết "khối u" A Shau. Đây đã là một câu hỏi mà ko ai có thể trả lời./.

Dịch từ trang 37- 45 của Hamburger Hill của tác giả Samuel Zaffiri 

San Jose ngày 30 Nov 2020.

PHẦN ĐỌC THÊM:

Trong chiến tranh VN, lực lượng trực thăng Mỹ chia làm trực thăng TẤN CÔNG, viết tắt là AH (assault helicopter) và trực thăng KHÔNG KỴ viết tắt là ACH (air calvary helicopter). Những đv này thi hành nhiệm vụ HƠI khác nhau. Các đại đội trực thăng tấn công hay AHC (attack helicopter company) này, trong thời gian nghành trực thăng của VNCH còn phôi thai, đã có trách nhiệm chánh là tấn công mục tiêu mặt đất của địch, nhưng họ cũng thực hiện việc tiếp tế, tải thương (medvac), và hỗ trợ hỏa lực cho các đv VNCH khi đụng địch trong các trận như Ấp Bắc 1963, Bình Giả 1964, Đồng Xoài 1965 (đại đội 118 AHC), v.v...

Các nhiệm vụ không kỵ thường có nhiệm vụ KHÔNG THÁM các vị trí địch với vài trực thăng thám thính OH-6 và trực thăng võ trang (gunship), rồi KHÔNG VẬN một trung đội bộ binh thuộc đv không kỵ này vào chiến trường. Khi trung đội bộ binh này chạm địch, các trực thăng trên đây sẽ yểm trợ hỏa lực cho trung đội này - giống như các đại đội trực thăng tấn công yểm trợ cho bộ binh khi giao chiến. Không kỵ cũng có thể chỡ những đv lớn tới chiến trường nếu cần. Ngoài những nhiệm vụ như trên, các toán không kỵ tiến hành những nhiệm vụ KHÔNG THÁM TỔNG QUÁT và đánh giá kết quả của các cuộc ném bom (bomb assessment), đặc biệt do B-52 gây ra cho đối phương.

Một PHI ĐOÀN (squadron) không kỵ điển hình gồm ba TOÁN không kỵ hay ACT (air calvary troup) và một toán chỉ huy. Một toán ACT gồm một TRUNG ĐỘI (platoon) có từ 6 tới 8 trực thăng chỡ quân Huey (UH-1 Iroquois do hãng Bell sản xuất) và một trung đội từ 8 hay 9 chiếc trực thăng Cobra (AH-1 do Bell sản xuất). Mỗi toán ACT cũng có một trung đội thám thính từ 8 hay 9 trực thăng quan sát nhẹ, còn gọi là Loach (OH-6 Cayuse do Hughes sản xuất). 

Đơn vị không kỵ đầu tiên có mặt tại VN từ năm 1965 là SĐ 1 KHÔNG KỴ. Đơn vị này có tổng cộng NĂM phi đoàn không kỵ, bao gồm phi đoàn 1/9 Không kỵ nổi tiếng. Ngoài ra, khoảng 20 phi đoàn không kỵ khác phục vụ trong các đv bộ binh, thiết giáp và cơ giới (mechanized). Phi đoàn không kỵ cuối cùng rời VN đầu năm 1973.

http://www.hueyvets.com/air-cavalry-helicopters/

Với tổ chức như vừa kể, ngoài các trực thăng vận tải như CH-47, CH-54, sđ 1 Không Kỵ có tổng cộng 90 - 105 chiếc Huey UH-1, 120 - 135 chiếc Cobra, 120 - 135 chiếc Loach OH-6; tổng cộng là 475 chiếc. Ngoài ra còn một số máy bay UH-1 để chỡ các VIP của sđ hay dùng để liên lạc (liason).