Sunday, May 27, 2018

https://anhdao.org/a504/nua-doi-chinh-chien-tran-ngoc-toan
Trận Hắc Dịch
(9/2 đến 10-2-1965)
Cuối năm 1964 đầu năm 1965, sau khi phục kích và đánh gây thiệt hại hơn 3/4 Tiểu đoàn 4TQLC và một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân ở Bình Giả, Phước Tuy, cộng sản tập trung quân lại chung quanh căn cứ địa đó để biểu dương lực lượng. Bộ Tổng Tham Mưu VNCH lập tức phát động chiến dịch Nguyễn Văn Nho, cho hai Tiểu Đoàn Nhảy Dù, ba Tiểu Đoàn TQLC và một Chi Đoàn Thiết Giáp trở lại Bình Giả truy lùng các đơn vị cộng sản. Nhưng khi thấy lực lượng hùng hậu đó, các đơn vị cộng sản lẩn tránh giao tranh.

Nhưng cùng lúc, theo tin tức tình báo đến từ Thiếu tá Lê Đức Đạt, Tỉnh Trưởng Phước Tuy, cộng sản sẽ đem ba cố vấn Mỹ mà họ bắt được trong trận Bình Giả trước đó, diễu hành như một chiến thắng cho dân chúng địa phương coi (trong trận Bình Giả, Hoa Kỳ có 5 tử trận, 8 bị thương, và 3 mất tích). Tin tức này cũng được MACV xác nhận: MACV cho máy bay thám thính xử dụng hồng ngoại tuyến đã chấm được tọa độ đóng quân của cộng sản ở chung quanh xã Bình Giả và Hắc Dịch (Bình Giả, Bình Ba, Ngãi Giao và Hắc Dịch, là bốn xã tạo thành Tổng Cơ Trạch. Tổng: là một đơn vị hành chánh cho một vài vùng lúc đó).

Hắc Dịch là một khu rừng thấp nằm ở phía Bắc núi Ông Trịnh, giữa QL-15 và Liên Tỉnh Lộ 7 nối liền giữa khu Rừng Sác và chiến khu D của VC. Có nhiều sách địa lý cũng gọi là Hắc Dịch). Với tin tức cung cấp, QLVNCH quyết định trở lại truy lùng các đơn vị cộng sản còn lẩn quẩn chung quanh Bình Giả thêm một lần nữa trong một chiến dịch được đặt tên là Chiến Dịch Nguyễn Văn Nho (Nguyễn Văn Nho là tên của vị Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ4TQLC đã tử trận tại Bình Giả trước đó một tháng). Lần này lực lượng tấn công là ba Tiểu Đoàn Nhảy Dù.

Ngày 9 tháng 2-1965, Chiến Đoàn II Nhảy Dù do Trung tá Trương Quang Ân làm Chiến Đoàn Trưởng với Tiểu Đoàn 5 của Thiếu tá Ngô Quang Trưởng; Tiểu Đoàn 6 Thiếu tá Vũ Thế Quang; và Tiểu đoàn 7, Thiếu tá Ngô Xuân Nghị, nhảy vào càn quét mật khu Hắc Dịch của cộng sản. Tiểu đoàn 5 và 6 là lực lượng chánh tấn công, trong khi Tiểu Đoàn 7 đi sau làm thành phần trừ bị và ngăn chận không cho các đơn vị cộng sản thoát ra phía liên tỉnh lộ 15 để băng qua khu Rừng Sác.

Lực lượng địch: Quân chủ lực miền của VC có hai trung đoàn lấy phiên hiệu là Q761 và Q762 với thành phần chỉ huy là những bộ đội tập kết:

- Trung đoàn Q761 do Bùi Thanh Vân làm Trung đoàn trưởng
- Trung đoàn Q762 do Tạ Minh Khâm làm Trung đoàn trưởng.

Lực lượng Bạn:

* Chiến Đoàn I Nhảy Dù, Chiến Đoàn Trưởng là Trung tá Trương Quang Ân chỉ huy 3 Tiểu Đoàn Nhảy Dù:

- TĐ5ND Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu tá Ngô Quang Trưởng
- TĐ6ND Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu tá Vũ Thế Quang
- TĐ7ND Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu tá Ngô Xuân Nghị

- Trung Đội 5 Truyền Tin ND do Thiếu úy Tôn Thất Hiếu làm Trung Đội Trưởng
- Trung Đội Công Binh Nhảy Dù do Thiếu úy Trần Văn Thọ làm Trung Đội Trưởng.


Diễn Tiến:

Khoảng 6.00 giờ sáng Ngày 7/2/1965, Chiến Đoàn I Nhảy Dù do Trung tá Trương Quang Ân làm Chiến Đoàn Trưởng được lệnh khẩn cấp di chuyển bằng đường bộ đến vùng hành quân, mật khu Hắc Dịch của VC tại phía Bắc núi Ông Trịnh gần ranh giới hai Tỉnh Biên Hòa và Phước Tuy. Đặc biệt trong trận này có một Trung Đội Công Binh Nhảy Dù tăng phái do Thiếu úy Trần Văn Thọ làm Trung Đội Trưởng. Do rút kinh nghiệm từ trận Bình Giả một tháng trước đó, Trung Đội Công Binh Dù được lệnh mang theo rất nhiều chất nổ để phá hủy các công sự chiến đấu kiên cố của địch.

Đến trưa, TĐ5ND đến Bà Rịa và bố trí quân tại Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp. BCH Chiến Đoàn đóng tại Tỉnh Đường Phước Tuy.

Sáng sớm Ngày 9/2/1965 tất cả chiến binh Nhảy Dù được phân chia thành từng toán 10 người di chuyển dọc theo Quốc Lộ 15 đi về hướng Vũng Tàu. Tất cả xe cộ dân sự đều bị chận lại không được lưu thông trên đoạn đường này.

Sau đó từng đoàn trực thăng HU-1B đã bay rợp trời đến bốc Tiểu Đoàn 5 Dù trên QL-15 và Tiểu Đoàn 6 Dù tại khu vực Trường Truyền Tin đưa vào vùng hành quân. Đây là lần đầu tiên lực lượng Nhảy Dù đã đổ bộ bằng trực thăng cùng một lúc hai Tiểu Đoàn.

Khi vào trận địa, Tiểu Đoàn 5ND do Thiếu tá Ngô Quang Trưởng chỉ huy được đổ xuống một trảng trống khoảng 150 x 100 thước có nhiều lau sậy rất dễ bắt lửa, nhất là vào mùa khô này. Các trực thăng vừa hạ cánh đổ toán quân đầu tiên phía trái bãi đáp, cách đó không xa phía bên phải, một đơn vị Cộng quân đang mai phục cạnh bìa rừng tre với nhiều hầm hố công sự phòng thủ, quân số đông đảo và hỏa lực rất mạnh bắt đầu khai hỏa. Thiếu tá Ngô Quang Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng cùng Thiếu úy Tôn Thất Hiếu, SQ Truyền Tin được trực thăng thả xuống ngay đợt đầu. Khi trực thăng vừa hạ cánh các Chiến Binh Nhảy Dù cấp tốc nhảy ra khỏi trực thăng vào vị trí tác chiến.

Thiếu úy Hiếu nhìn thấy một ổ đại liên của địch đang nhắm vào trực thăng. Ông nhanh tay đẩy Thiều Tá Trưởng và hai thầy trò lăn vào một góc cây lớn tránh đạn.
Năm chiếc trực thăng đổ đầu bị trúng đạn không thể cất cánh lên được, đồng thời địch quân phóng hỏa đốt cháy những đám cỏ tranh và rừng tre trước hướng tiến quân. Họ hy vọng khi lính Dù thấy lửa cháy thì sẽ quay sang hướng khác... và Cộng quân sẽ bất ngờ phục kích tấn công vào đoàn quân Mũ Đỏ. Nhưng Tiểu Đoàn Trưởng Ngô Quang Trưởng không cho lính quay lại: ông ra lệnh tất cả Lính Dù vừa được đổ xuống xung phong thẳng qua thế hỏa công của địch, đánh thẳng vào hệ thống phòng thủ của bộ chỉ huy cộng sản trước mặt, ngay sau đám lửa đốt ngụy trang đó.


Từ trên cao nhìn xuống thấy Nhảy Dù đã bám sát được phòng tuyến của địch quân, các phi công trực thăng đáp phi cơ đổ quân tiếp theo ngay sát tuyến đầu. Các chiến sĩ Nhảy Dù đã nhảy xuống ngay trên đầu quân địch đang ẩn núp tràn vào phòng tuyến VC và tiêu diệt những tên còn chống cự. Một số lớn hậu quân của địch đã hốt hoảng bỏ chạy. Ngay đến Tiểu Đội Công Binh Dù tăng phái cho TĐ5ND, vừa trên trực thăng nhảy xuống HSI Nguyễn Văn Tuế thấy một tên VC chĩa súng về phía anh chưa kịp bóp cò, Anh nổ súng hạ sát tên này tại chỗ, lục soát hầm ẩn núp của hắn tìm thấy một khẩu AK-47 và một súng cối 81ly chỉ còn một viên đạn. (HS I Tuế đã cùng với Đại úy Phạm Văn Phú ở TĐ5ND bị CS bắt làm tù binh khi Điện Biên Phủ thất thủ năm 1954, sau khi trao trả tù binh Anh được chuyển về Công Binh Nhảy Dù.) Cùng lúc đó HS Ngô Đình Liêm phát giác một hầm VC gần đó, Anh nhào tới chĩa súng vào hầm hô to: “đưa tay lên đầu hàng, nếu không tao bắn”. Lập tức hai bàn tay đưa lên và có tiếng la to “Tôi đầu hàng, tôi đầu hàng... đừng bắn”. Liêm bèn lôi tên VC ra trói lại, lục soát trong hầm lấy ngay một khẩu B-40 không còn viên đạn nào hết.

Sau một giờ giao tranh, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù đã làm chủ chiến trường, địch quân bỏ lại tại trận 60 xác chết, 4 tên bị bắt sống, tịch thu 1 súng cối 61ly, 4 trung liên nồi, 11 súng B-40 & B-41 và 44 AK-47. TĐ5ND có 4 chiến sĩ bị hy sinh, 7 bị thương. Về phía Mỹ có 6 chiếc trực thăng bị hư hại, và 7 pilot cùng xạ thủ đại liên bị thương.

Cùng lúc với TĐ5ND chạm địch mạnh, BCH Chiến đoàn và TĐ6ND do Thiếu tá Vũ Thế Quang làm Tiểu Đoàn Trưởng cũng được đổ xuống một trảng trống xa về phía Bắc của TĐ5ND chừng 1.5km. Sau khi đáp xuống đất, cánh quân này dàn đội hình tác chiến tiến về phía trận địa của TĐ5ND lục soát. Tuy không chạm địch nhưng các chiến sĩ Nhảy Dù đã khám phá ra một nông trại của Việt Cộng với hai căn nhà bỏ trống có dấu vết người vừa bỏ chạy, chung quanh nông trại nhiều khoai mì rau đậu xanh tốt với gà vịt nuôi trong chuồng.

Sau đó hai đơn vị được lệnh bung rộng ra lục soát chung quanh trận địa. Khoảng 3.00 giờ, trực thăng tản thương đến bốc các thương binh và tử sĩ, những chiếc Skycrane đến câu những chiếc trực thăng bị hư đi. Trên trời trực thăng võ trang Cobra vẫn bao vùng.

Khoảng 5.00 giờ chiều, 3 chiếc trực thăng UH-1B chở phái đoàn của Đại tướng Craigton Abram, Tư Lệnh Quân Đội Mỹ tại Việt Nam xuống thị sát mặt trận và thăm Chiến Đoàn I ND. Thiếu tá Ngô Quang Trưởng thuyết trình về diễn tiến trận chiến cùng mời phái đoàn quan sát từng đống vũ khí tịch thu của địch và những xác Cộng quân bỏ lại chiến trường. Trong lúc Đại tướng Abram đang ngỏ lời ngợi khen đến Trung tá Trương Quang Ân và Thiếu tá Ngô Quang Trưởng cùng các chiến binh Nhảy Dù trong trận chiến vừa rồi, và chíếc skycrane còn đang câu một chiếc trực thăng cuối cùng thì các toán tiền đồn của Tiểu Đoàn 5ND báo cáo dồn dập Cộng quân đã trở lại rất đông. Sau đó Cộng quân bắt đầu nã tới tấp đạn cối 82ly vào vị trí đóng quân, thế là phái đoàn của Đại tướng Craigton lên phi cơ cùng chiếc skycrane bay đi luôn bỏ lại chiếc trực thăng cuối cùng.

Sau loạt pháo, Cộng quân bắt đầu ào ạt tấn công vào lực lượng Nhảy Dù. Nhưng nhờ những công sự sẵn có của Cộng quân để lại, các chiến sĩ Nhảy Dù chỉ cần tu bổ qua loa là có ngay vị trí chiến đấu rất tốt chống trả, bất chấp các đợt xung phong của địch quân.

Từ lúc khởi đầu cuộc tấn công khoảng 6.00 giờ chiều đến 5.00 giờ sáng Ngày hôm sau, Cộng quân đã 11 lần xung phong. Mỗi lần tấn công, Cộng quân đã thổi kèn đồng thúc quân và là mỗi lần chúng nhận kết quả thảm khốc, thêm một số nhân mạng rơi rụng trước hỏa lực phản kích của chiến binh Nhảy Dù và hỏa lực yểm trợ nồng nhiệt của những chiếc gunship cobra luân phiên bao vùng suốt sáng. Thời gian này, mỗi Trung đội Nhảy Dù chỉ được trang bị 3 hay 4 khẩu AR15 còn lại đều sử dụng Garant M1, Carbine M2, tiểu liên Thompson... trong khi các đơn vị CS được trang bị AK-47 tốt hơn rất nhiều. Nhưng nhờ tinh thần kỷ luật, tác chiến dũng mãnh, cộng thêm một chút tự hào “Thiên Thần Sát Địch” các chiến binh Nhảy Dù đã kiên cường chiến đấu và đã chiến thắng oanh liệt.

Khoảng 8.00 giờ tối, sau hai đợt xung phong của địch quân, Trung tá Trương Quang Ân, Chiến Đoàn Trưởng điều động Tiểu Đoàn 6ND bảo vệ phía sau mặt trận để ngăn ngừa địch quân đánh bộc hậu, và sau đó Ông cho lệnh Trung Đội Công Binh Dù phá hủy chiếc trực thăng còn bỏ lại ngoài bãi bốc. Thiếu úy Thọ phái bốn HSQ là 4 Trung Sĩ Trần Đỗ Phương, Nguyễn Văn Thìn, Hoàng Hiến và Nguyễn Hữu Viên gom 200 bánh thuốc nổ TNT, dây chuyền nổ, ngòi nổ điện, chờ cho địch quân ngớt tấn công, chạy thật nhanh đến chiếc trực thăng, đặt chất nổ vào các vị trí quan trọng, cấm ngòi nổ rồi chuyền dây chuyền nổ đến vị trí ẩn núp an toàn. Mọi việc được tiến hành trong khoảnh khắc. Sau khi kích hỏa, một tiếng nổ kinh hồn, mặt đất rúng động như một cơn địa chấn, chiếc trực thăng hoàn toàn biến mất.

Khoảng 2.00 giờ sáng Ngày 10/2/1965, Cộng quân thay đổi chiến thuật, tập trung quân số dồn mọi hỏa lực tấn công vào một vị trí phòng thủ của một Trung Đội/TĐ5ND khiến cho Trung đội này bị nhiều thiệt hại. Sau đó BCH/Chiến Đoàn điều động một Đại Đội của TĐ6ND sang tăng cường cho TĐ5ND trám vào lỗ hổng này.

Đến 5.00 giờ sáng, kèn thúc quân của CS lại vang lên như điệu ru ma quái ai oán, những con thiêu thân yếu ớt gom tàn lực xung phong giờ chót vào bức tường đồng phòng thủ vững chắc của Chiến Đoàn Nhảy Dù. Đây là cố gắng lần thứ 11 cũng là cuối cùng của lực lượng Cộng quân. Sau 5.00 giờ sáng không còn nghe tiếng kèn đồng nữa và tiếng súng cũng im bặt như lũ âm binh sợ ánh nắng mặt trờì phải tháo chạy.

Khoảng 7.00 giờ sáng, TĐ5ND tung quân ra lục soát quanh tuyến phòng thủ. Một cảnh tượng không thể ngờ được, hằng trăm xác Cộng quân tràn ngập chung quanh tuyến phòng thủ, đầy dẫy hằng trăm vũ khí đủ loại từ AK-47, súng trường CKC, súng chống chiến xa B-40, B-41 đến trung liên nồi, đại liên 12.8ly, cối 61ly, đạn dược quân trang quân dụng nhiều vô kể. Các chiến sĩ Dù đã gom lại thành từng đống từng đống...

Khoảng 8.30 giờ, 3 chiếc trực thăng H34 của Không Quân VNCH chở phái đoàn của BTL/QĐ3, BTL/LĐND và phái đoàn Báo Chí tại Thủ Đô Sài Gòn đến thăm đơn vị Nhảy Dù vừa chiến thắng và nhìn tận mắt bãi chiến trường đã gây thiệt hại nặng nề cho hai Trung đoàn Q761 và Q762 cộng sản Bắc Việt.

Sau khi các phái đoàn thăm hỏi, ủy lạo và quan sát chiến trường cùng chụp nhiều hình ảnh sống thực để đưa lên trang báo, lên trực thăng ra về, Chiến Đoàn I Nhảy Dù cũng lui binh. Theo báo chí Hoa Kỳ tường trình lại, trong trận này, Thiếu tá Trưởng và Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù đã cứu được vị sĩ quan cố vấn Tiểu Đoàn, Đại úy Thomas B. Throckmorton là con trai của Trung tướng John L. Throckmorton, Tư lệnh Phó cho Đại tướng William Westmoreland, đương kim tư lệnh MACV. Khi lui binh, TĐ6ND đi đầu mở đường và TĐ5ND bọc hậu, trên đường tiến quân Cộng quân đã cài nhiều chốt chận đường phục kích, nhưng không chốt nào chịu đựng được quá 5 phút trước đà tiến dũng mãnh của chiến binh Dù. Tiểu Đoàn 6 ND đã tiêu diệt hàng chục chốt địch và tịch thu rất nhiều vũ khí. Đến 4.00 giờ chiều Ngày 11/2/1965 Chiến đoàn mới ra tới QL-15.

Sau chiến trận, một buổi lễ tuyên dương công trạng Chiến Đoàn I và Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù được tổ chức trọng thể tại tòa Hành Chánh Tỉnh Phước Tuy. Trong buổi lễ này Thiếu tá Ngô Quang Trưởng được thăng cấp Trung tá đặc cách tại mặt trận và Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, Thiếu úy Tôn Thất Hiếu, Sĩ Quan Truyền Tin, được thăng cấp từ Thiếu úy nhiệm chức lên Thiếu úy thực thụ và một anh dũng bội tinh với nhành dương liễu.

Thiếu tá Ngô Quang Trưởng và Đại úy Thomas B. Throckmorton

Hàng đoàn Trực Thăng UH-1Ds tham gia chiến dịch đổ quân


Tài liệu tham khảo:

- Phỏng vấn các chiến hữu Nhảy Dù.
- Email hồi báo của Trung tá Tôn Thất Hiếu, Trưởng Phòng TT/SĐND kiêm TĐT-TĐTT SĐND.

- “The Most Brilliant Commander”: Ngo Quang Truong, This article was written by James H. Willbanks and originally published in the December 2007 issue of Vietnam Magazine.
Nguồn : http://nhayduwdc.org/ls/qsnd/2016/ndwdc_ls_qsnd_2016_bcnd20nChiensu_B_11_15_2016JUL30.htm#B11

Ku Búa : Lật lại thời Pháp thuộc – Kỳ 2: “Cao su đi dễ khó về” hay sự dối trá của những kẻ lười lao động?



Khi tìm hiểu về “tội ác của thực dân Pháp”, chắc hẳn các bạn đều đã nghe qua câu:

“Cao su đi dễ khó về
Khi đi trai tráng, khi về bủng beo”

* Cũng như hầu hết các bạn, tôi từng tin vào những thứ kiểu như: “Bọn Pháp tàn ác bóc lột phu cao su, khi họ bệnh thì không chịu chữa chạy mà để họ chết rồi dùng xác bón cho cây cao su.”

Nếu điều đó là sự thật, thì tôi thắc mắc rằng người Pháp cất công xây dựng cả một bệnh viện trong đồn điền để làm gì nhỉ? Phải chăng là để phục vụ riêng cho người Pháp và cai đồn điền sao? Thôi thì hãy xem báo chí nhà nước viết gì nhé:

“Bệnh viện Lộc Tấn (tên gọi cũ của Bệnh viện Lộc Ninh) được người Pháp xây dựng năm 1936, là nơi khám chữa bệnh cho chủ đồn điền, phu cao su và một phần nhân dân do các đồn điền quản lý.” (Nguồn: VNExpress)

Bệnh viện Lộc Tấn ngày nay đã bị bỏ hoang
Vẫn không tin ư?
Bên trong phòng cứu thương của bệnh viện đồn điền Michelin, nơi một công nhân đang được băng bó vết thương ở chân. Theo thống kê vào năm 1926, mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận 100 – 120 bệnh nhân, thường do các chấn thương ở chân trong quá trình làm việc. (Nguồn: Báo Kiến Thức)
Bên trong một phòng thí nghiệm ở bệnh viện của đồn điền Michelin. (Nguồn: Báo Kiến Thức)
Nếu chỉ phục vụ riêng cho giới chủ, thì họ đâu cần phải xây riêng một bệnh viện như vậy? Họ có thể yêu cầu bác sĩ riêng phục vụ tại nhà cơ mà?
Và trong thời phong kiến, trước khi bị “đô hộ”, liệu người dân có được tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế phương Tây hiện đại như vậy không?
* Nhiều người cho rằng điều kiện làm việc trong đồn điền hết sức khắc nghiệt. Tôi khẳng định là đúng, đấy là nếu bạn so sánh với công việc văn phòng thời nay. Trên thực tế, những người công nhân cao su được cấp nhà ở, có thể đưa gia đình tới ở cùng; trong khuôn viên đồn điền có nhà thờ, chùa chiền phục vụ nhu cầu tâm linh, con cái của họ được đi học. Phải nói là quá tuyệt vời so với điều kiện sinh hoạt của những người nông dân thời phong kiến.
“Làng Công Tra tương tự như mô hình đô thị hiện đại khép kín bao gồm: Nhà ở của phu cao su; nhà kho; cửa hàng tạp hóa. Nhà phu là nơi phu cao su đến để nhận và trả công cụ lao động. Nhà này cũng là nơi trước khi đi làm, phu cao su phải tập trung để điểm danh. Riêng làng Công Tra Lộc Thiện, chủ đồn điền còn xây thêm nhà thờ, chùa, nhà giữ trẻ và ít phòng học cho học sinh tiểu học lớp 4, lớp 5 tương đương với lớp 1, lớp 2 thời nay. (Nguồn: Báo ĐSPL)
Một ngôi nhà của phu cao su thời Pháp còn tồn tại nguyên trạng đến ngày nay.
* Quay lại với hai câu thơ tôi trích ở đầu bài viết. Tôi sẽ phân tích:

– Có một số công nhân tử vong do tai nạn lao động trong đồn điền. Nhưng đây là điều tất yếu, dù bạn làm bất cứ ngành nghề lao động tay chân nào, vào bất cứ thời kỳ nào kể cả ngày nay, thì bạn cũng sẽ phải đối mặt nguy cơ đó.

Nhưng đó chỉ là phần rất nhỏ. Phần lớn những người công nhân cao su không trở về quê nhà vì:

+ Những người công nhân này chủ yếu xuất thân từ Bắc Kỳ, ở đó họ phải chịu mức sưu cao do triều đình áp đặt (chứ không phải chính quyền người Pháp), cũng như sống dưới bầu không khí ngột ngạt của lễ giáo phong kiến. Vậy nên khi hết hợp đồng lao động và dành dụm được một khoản tiền, họ sẽ ở lại Nam Kỳ lập nghiệp – nơi có cuộc sống dễ chịu hơn nhiều dưới sự quản lý của người Pháp.

+ Cũng có thể, họ tiếp tục gia hạn hợp đồng và làm việc do mức thu nhập và điều kiện làm việc tốt (đối với họ). Và trong lúc hợp đồng vẫn còn hạn thì “cách mạng” nổ ra.

Dù trường hợp nào đi chăng nữa thì sự “mất tích” của họ cũng hoàn toàn dễ hiểu khi mà hệ thống thông tin liên lạc đương thời còn nhiều hạn chế, rất khó để họ thường xuyên liên hệ với người thân.

– Nhiều người nói: “Thực dân Pháp cưỡng ép dân nghèo đi làm ở đồn điền”. Tôi thì không nghĩ họ có thể ép buộc được từng này người cùng một lúc (và đây tất nhiên không phải là chuyến tàu duy nhất):

Những di dân từ Bắc Bộ cập bến Nam Kỳ để tìm việc. (Nguồn: Báo Kiến Thức)
Như đã nói ở trên, những công nhân cao su này chủ động ký hợp đồng lao động với những điều khoản rõ ràng – điều chưa từng có tiền lệ trong thời phong kiến. Chính trong tác phẩm ‘Lão Hạc’ – một câu chuyện hư cấu có tính phóng đại giống như nhiều câu truyện khác của nhà văn “cách mạng” này, chúng ta thấy rằng người thanh niên đã chủ động tìm đến trạm mộ phu và ký ‘công-tơ-ra’ (contrat – hợp đồng). Không hề có sự ép buộc nào ở đây!

– Và khi chủ động đi bán sức lao động để lấy tiền, thì họ đã chấp nhận rằng mình sẽ không thể nào dẻo dai, khoẻ mạnh như ban đầu được nữa. Thời kỳ nào cũng vậy. Ngày nay, những người dân nghèo vẫn phải tha phương, thậm chí phải bỏ đất nước để bán giọt mồ hôi của mình nhằm mưu sinh đấy thôi?

Ít nhất thì phu đồn điền cao su không phải làm việc dưới môi trường độc hại như công nhân ngày nay trong xí nghiệp điện tử, nơi họ phải tiếp xúc với phóng xạ hàng ngày và đã có nhiều trường hợp mắc bệnh nan y như ung thư, vô sinh,…

* Về vấn đề “làm quá giờ”: Nhiều người nói phu cao su phải làm việc hàng chục tiếng đồng hồ (thay vì 8 tiếng như quy định ngày nay). Thế nhưng, họ nên biết rằng, thời đó, những người công nhân da trắng ở châu Âu hay ở Mỹ cũng phải làm việc trong khoảng thời gian dài tương tự. Mãi về sau, quy định làm việc 8 tiếng mới được áp dụng. Các phúc lợi hấp dẫn cho công nhân phương Tây cũng chỉ mới xuất hiện vài chục năm gần đây.

Còn ngày nay, cả công nhân lẫn lao động trí thức ở Việt Nam đang thường xuyên phải làm việc quá giờ với mức lương rẻ mạt.

* Trước khi buộc tội những kẻ lười lao động, tôi sẽ cho các bạn xem 2 hình ảnh này:

Bữa ăn của trẻ mồ côi trong một trại trẻ của đồn điền Michelin (Nguồn: Báo Kiến Thức)
Trẻ em chụp ảnh kỷ niệm tại trại trẻ mồ côi của đồn điền cao su Phú Riềng (Bình Phước), một đồn điền khác của Công ty Michelin bên cạnh Dầu Tiếng. (Nguồn: Báo Kiến Thức)
Có thể là những đứa trẻ này lớn lên sẽ trở thành phu cao su, và “bị bóc lột” (như những gì vẫn được tuyên truyền). Nhưng nếu họ không nuôi nấng chúng cho đến khi chúng đủ tuổi để “bóc lột” thì liệu chúng có sống nổi tới ngày đó không? Đúng là không có bữa ăn nào miễn phí, thế nhưng, khi mà một hàng dài thanh niên thời đó vẫn chờ đợi để đăng ký đi làm phu cao su, người Pháp cần gì phải bỏ một khoản tiền lớn ra để nuôi nấng tử tế những đứa trẻ mồ côi trong cả chục năm trời chỉ vì mục đích lấy nguồn lao động?

* Những kẻ lười lao động:

Nhiều tài liệu lịch sử có ghi nhận những cuộc nổi dậy của công nhân đồn điền cao su. Song, chúng chỉ ở quy mô nhỏ và được xử lý nhanh chóng. Tôi thắc mắc, rằng với điều kiện lao động gần đạt đến mặt bằng chung phương Tây thời bấy giờ, cũng như là vượt trội so với thời phong kiến, thì những người không có học thức như họ còn muốn gì nữa? Tại sao họ không chịu khó như những người công nhân khác, để dần dần tích cóp tiền và về sau này có thể lập nghiệp?

Hãy đi vào một trường hợp cụ thể:

“Làm cu ly được 2 tháng, tôi thấy mình phải cố gắng học lấy một nghề, bởi có nghề ổn định mới kiếm được tiền sinh sống và tiếp tục hoạt động cách mạng. Tìm hiểu xung quanh, tôi xác định được hai nghề là đánh máy chữ và chế biến thực phẩm. Vì tôi thấy ở gần đó, có hai vợ chồng người Tây tên Bêgăng, là lính đã giải ngũ, quản lý 10 ngôi biệt thự.
…Ngoài công việc quản lý, Bêgăng còn làm các món ba tê, xúc xích, dăm bông để bán. Lúc đầu tôi xin vào làm thêm ngoài giờ là đứng xay thịt, Bêgăng đồng ý và trả tôi thêm 3 đồng một tháng. Thấy tôi làm nhanh, ông bắt đầu hướng dẫn tôi làm ba tê, xúc xích. Vợ Bêgăng làm kế toán, kiêm luôn đánh máy chữ. Tôi cũng đi thuê một cái máy chữ về tập đánh. Khi đã thông thạo, tôi bảo vợ Bêgăng cho tôi đánh các văn bản và bà ta đồng ý.
…Một người Tây là chủ công ty cao su nhiệt đới ở khu biệt thự bên cạnh, rất thích ăn ba tê, xúc xích, dăm bông do tôi làm nên thường sai đầu bếp hoặc vợ sang mua.
Về sau người Tây này hỏi tôi:
– Mày làm như vậy lương được bao nhiêu?
– Cả lương cu ly quét dọn và làm thực phẩm được trả 18 đồng một tháng – Tôi trả lời.
Nghe vậy, người Tây này bảo: Đi làm cho tao, tao sẽ trả hơn. Tôi đồng ý ngay. Nhưng ông ta không thuê tôi làm trực tiếp mà lại giới thiệu tôi với một người Tây khác ở đồn điền cao su Lộc Ninh. Người này có xe ô tô đưa tôi về Sài Gòn, sau đó đưa tôi về đồn điền cao su Lộc Ninh làm xúc xích và dăm bông, họ trả cho tôi mỗi tháng 30 đồng.
…Phu cao su ở đây được quy định lao động một ngày 8 giờ. Chủ Tây đi kiểm tra cả về số lượng và chất lượng rất chặt chẽ. Việc phòng bệnh, chữa bệnh cũng được thực hiện để công nhân có sức khỏe làm việc.
De Lalane trả lương cho tôi một tháng là 30 đồng. Thấy pa-tê, xúc xích tôi làm ăn ngon nên ông ta yêu cầu làm thêm để bán cho các đồn điền kế cận và mang về Sài Gòn. De Lalane trả thêm cho tôi 15 đồng mỗi tháng để đi phân phát lương thực. Như vậy, mỗi tháng tôi có thu nhập đều đặn 45 đồng.
Có tiền dư dật, công việc lại không bị quản chặt như phu cạo mủ cao su nên tôi có điều kiện đến các làng tiếp xúc với phu cao su vận động, xây dựng phong trào của phu cao su và tôi cũng bắt đầu nghĩ đến việc tìm kiếm và bắt liên lạc với tổ chức cách mạng.” (Nguồn: Vietnamnet)
Đây là hồi ký của một nhân vật nổi tiếng trong “cách mạng”, đã từng giữ đến chức Chủ tịch nước (theo ba tôi kể lại, Lê Đức Anh , từng làm giám thị ở đồn điền Đất Đỏ-- Tài). Chắc chắn không phải tài liệu của ‘bọn phản động’ rồi! Nghĩa là ta có thể xác nhận được 3 điểm sau:
– Công nhân cao su làm việc đúng 8 giờ. Ủa, vậy những lời tuyên truyền về việc làm việc cả chục tiếng một ngày mà thậm chí tôi đã giải thích ở trên là sao nhỉ?
– Công nhân được phòng bệnh và khám chữa bệnh. Vậy xác người đâu để bón cho cao su nhỉ?
– Chủ người Pháp quan tâm đến từng công nhân, tạo điều kiện để họ phát huy sở trường của mình. Họ sẵn sàng bỏ ngang hợp đồng để người công nhân có thể đi làm công việc khác với mức lương cao hơn nhiều lần.
Được đối xử tốt như vậy, tại sao người công nhân này lại kích động những người công nhân khác để lật đổ người chủ của mình? Tại sao hắn – một kẻ không có học thức, lại không chịu khó lao động chân tay để về sau có đứng lên làm chủ một cách đàng hoàng thay vì phá hoại, kích động bạo lực? Chắc hẳn là vì hắn muốn được làm chủ ngay lập tức để được ngồi mát ăn bát vàng mà không cần phải động chân động tay làm việc. Đó chính là biểu hiện của những kẻ lười biếng, vô học!
Chính các “nhà cách mạng” này sau đó đã tuyên truyền những điều dối trá vào đầu óc người Việt, bôi nhọ những ông chủ đã cưu mang, dạy bảo họ. Phải nói thẳng, chúng là những kẻ “ăn cháo đá bát” trâng tráo, xấc xược.
Tóm lại, việc người Pháp xây dựng các đồn điền cao su, không những đã tạo việc làm cho nhiều người Việt trong hoàn cảnh khó khăn thời bấy giờ, mà còn đem đến cho họ những quyền lợi mà họ chẳng bao giờ có được trong thời phong kiến. Không thể phủ nhận rằng vẫn có nhiều điểm bất cập, thế nhưng, giống như ở chính các nước phương Tây, họ cần thêm thời gian để khắc phục. Tiếc rằng, những kẻ lười lao động đã cướp đi cơ hội của họ, đẩy những người lao động ngày nay vào cảnh khốn đốn gấp vạn lần.
(Hãy đón đọc các kỳ tiếp theo!)
https://www.facebook.com/trananhtu19?hc_ref=ARQNamP82k5RLkrL9xRTfZYHuH7lAU93R8ShZT00ZX7dqlW6Tv75yiVRefa1VO5O1SE

Saturday, May 26, 2018

Đại Tá Võ Quế
- Sinh tháng 3 năm 1932 tại Địa Phương
- Nhập ngũ ngày 1-1-1951
- Xuất thân trường sĩ quan Võ Bị Địa Phương
- Không đoàn trưởng Yểm cứ thuộc Sư đoàn 6 Không quân tại Pleiku

BỐN ĐẠI TÁ TRỐN TRẠI
Những năm dài  tháng  tận  rồi cũng trôi qua trong nhọc nhằn  khổ sở cả thể xác lẫn tinh thần . Thắm thoát đã hai năm qua ở mảnh đất tận cùng biên giới phía Bắc  Việt Nam này . Hàng ngày chúng tôi phải dậy thật sớm  trước khi tiếng kẻng  rùng rợn  vang lên  giữa đêm giá rét  O độ của miền Bắc rẻo cao này , để xếp  hàng làm vệ sinh  cá nhân ,  vì hể  một khi tiếng kèn  đã nổi lên rồi thì  mình sẽ  không còn là mình nữa ,mà là  một   con trục  quay cuồng trong guồng máy  luyện thép khổng lồ .
Thời gian đó  các cai tù  phân công  chúng tôi   ra từng cặp một trẻ một già , một khoẻ một  yếu để vác một cây bồ đề dài  khoảng 6 thước , chu vi chừng  vài tấc  trở lên  qua đoạn đường rừng  gần 10 cây số , mỗi ngày  cặp tù nhân đó phải  vác  đủ ba  chuyến  như thế  cho đủ chỉ tiêu . Lúc dó khoảng 4 giờ chiều , tôi và một anh bạn trẻ  đang khiêng một cây Bồ Đề to lớn , đã cố sức  vưọt  qua bao nhiêu ngọn đèo ,chỉ còn một đèo chót  là đến nơi đang xây dựng bệnh xá  được xây thêm cho càng ngày càng có thêm bệnh nhân tù .
Trời mưa tầm tã , dưới chân chúng tôi  nước chảy thành dòng như muốn  cuốn trôi mọi thứ , chúng tôi phải hết sức kềm chân cho chặt vừa phải oằn vai chịu sức nặng  đẫm nước của cây tươi vừa đốn hạ. Bỗng nhiên anh bạn  gánh vai sau  trợt chân  té ngửa , buông rơi cả thân cây to , khiến  đầu cây còn lại đập mạnh vào hông phải tôi . Đau đón tôi ngất lịm , chân bị trật cả gân lẫn xương .  Tôi vào bệnh xá dể được một  ông  y sĩ  Trường Sơn , mỗi lần chữa bệnh , vừa xem cuốn sách châm cứu do Miền Nam ấn hành , vừa châm  vào tôi  cây kim dài đã hơ qua ngọn lửa  vừa nói :
- Tổ chức châm cứu săn sóc anh đây . Chừng nào anh cảm thấy đau buốt thì cứ la lên , tôi sẽ tìm huyệt khác đúng hơn !
Nhờ mỗi ngày chịu trận cho ông y sĩ dỏm này thực tập  vài ba tiếng , tôi mới được  ông ký giấy cho ''Miễn lao động '' trong ngày ấy.
Ngày hôm trước  ngày tôi  bị cây to đè ngang hông , khi tôi khiêng cây  dến đoạn đường Nghĩa Lộ, vừa đói vừa khát , kiệt sức tôi ngã vật  xuống bên lề đường . Hai cán bộ bảo vệ  trẻ thương hại  mới đỡ tôi dậy , nhưng  ngay lúc đó cán bộ  phó trại , ngưòi mập lùn đi ngang qua , không cho đỡ tôi  lại còn đay ghiến :
''Các đồng chí không  việc gì   mà phải đỡ hộ họ !'' Rồi anh cán bộ phó trại quay sang chúng tôi  sang sảng  : '' Tôi biết rõ ở trong Nam, mỗi tuần các anh hầm thuốc Bắc  một đứa trẻ từ một tuổi  để bồi dưỡng , đúng là quân man di mọi rợ không có tính người ! Vì thế anh nào cũng  béo tốt như ri , lao động một  chút không bằng ai mà cũng giả vờ té xỉu ..nhất là mấy anh tỉnh trưởng ! !!"
Nhìn vẻ mặt anh ta đỏ gay , gân cổ  lên mà nói to ra vẻ   rất hiểu biết , để gây thêm căm thù , chúng tôi bổng thấy thương hại sự ấu trĩ của họ hơn là oán ghét . Còn lạ gì một anh chăn trâu suốt đời không được học hành  giáo dục , chỉ biết lặp lại nhai lại  y khuôn những gì Đảng  nói  và nhồi sọ cho họ , gây căm thù giai cấp càng nhiều càng tốt . Họ có  biết đâu lúc đó tại  các thành phố lớn Hà Nội,, Sài Gòn , hàng ngày  các bác sĩ cán bộ được lệnh "Kế Hoạch Hóa  Gia Đình'', để  hợp pháp  giết non  hàng ngàn  thai nhi vô tội .
Chúng tôi vẫn tiếp tục lê gót sống những ngày tù  khoắc khoải, thì một hôm  nọ , trời vừa hửng sáng  là  trại  bị bọn cán bộ , lính bảo vệ  trang bị súng ống  chĩa  vào  các lán trạì tù .  Ngày hôm đó họ kiểm soát rất gắt gao,    nhân dịp tịch thu tất cả những gì chúng tôi  có thể để dành ăn  chống đói như  đường ,sữa , bánh ngọt khô .
- Dzõ dzàng nà các anh  ngoan cố phản động  không chịu học tập cải tạo tốt để sớm  lên ngườì  công dân xã hội chủ nghĩa tốt, nhất là mấy bọn đại tá các anh đã phụ  nòng tin tưởng khoan hồng của Bác , Đảng và Chính phủ , các anh có biết chuyện gì xảy ra sáng nay không ?
Ai  nấy đều rõ nhưng vẫn  im lặng như không . Các lán trại đã tung tin rất nhanh  về việc  4 ông đại tá  đã trốn trại làm nức lòng  nhũng trại viên còn lại . Họ vừa mừng vừa lo  và van vái  thầm cầu xin cho các  vị đó được mau thoát đến đất Lào  và biết đâu đến bờ Tự Do đất Thái .
- Đại Tá  Thành ,trung đoàn trưởng , trưởng toán trốn trại , mở đường .
- Kế đó là Đại tá Nguyễn văn Thi , binh chủng Pháo Binh ,  người giữ địa bàn định hướng .
- Người đi  giữa mang thực phẩm cho toán  là Đại tá Đỗ Trọng Huề, cựu giám đốc QuốcGia Nghĩa Tử , cố vấn văn hóa  cho tổng thống Thiệu .
- Và người giữ mặt hậu  là Đại tá Quế , chỉ huy trưởng căn cứ không quân Pleiku.
Mỗi ngày trôi qua là thêm một ngày củng cố lòng tin cho mọi người Các cán bộ điên cuồng  như ác thú  lùng sục tất cả  núi  đồi . các đội tù đi lấy  cát , đá , vôi  ở Bến Phà Ô Lâu  cũng  như các đội lao động nặng  lên rừng đốn gỗ  đều được lệnh tạm đình chỉ . Chỉ riêng 4 đội  tăng gia  và hái chè  là còn hoạt động cầm chừng  dưới sự giám sát gấp đôi  của những chú bộ đội phúng phính trong bộ đồ '' Cứt Ngựa " . Các giờ  giài lao  10 phút thưòng lệ đều bị cắt bỏ , chỉ tiêu tăng gấp đôi để  mọi người mệt nhoài  không còn  thời giờ nghỉ ngơi  dù là một phút giây nào . Vài anh tù '' nông cạn'' vội chưởi rủa  bốn anh trốn trại , vì họ mà cả bọn chịu  cực khổ thêm . Còn lại đa số đều ''  phấn khởi  hồ hởi '' vì  họ thêm một ngày  hi vọng  cho những ai chuẩn bị trốn trại sau đó .
Trại cho thay đổi ngay những người '' anh nuôi ''. Những người nầy bị an ninh điều tra thô bạo . Anh  đại tá  Võ An  bị gọi lên  xuống mấy chục bận mỗi ngày để điều tra  manh mối xem  ai là người  xếp đặt hậu cần  cho các anh trốn một cách bí mật chu đáo  mà không ai hay biết .
Bốn anh Đại tá  trong đội " Cơ Động " hàng ngày đưọc phân công dùng xe cải tiến đến Bến Phà Ô Lâu  chở vật liệu nặng  về xây cất  cho trại . Các anh lợi dụng những chuyến đưọc  xuất trại xa như thế  đã ngấm ngầm cấu kết  với nhau  âm mưu trốn trại qua  Lào , với sự giúp đỡ  của  anh  Võ Ân , phụ trách nhà bếp trại .
Sau cả tháng mỗi ngày giấu một ít  thực phẩm khô , ngày  N ,giờ G , thừa lúc mấy anh bảo vệ lơ là , các anh ĐT nhà ta lần lượt biến  mất sau mỗi quả đồi , hẹn nhau tại một điểm tập trung và ... chạy  trốn !
Các anh đã đi suông sẻ suốt ngày đầu tiên mà không ai  hay biết cho đến chiều tối lúc điểm danh . Đội cơ động  bị phát hiện  thiếu  mất bốn người khiến cán bộ  quản giáo , bộ đội canh gác  bấn lọan , bắn súng loạn xạ . Lúc đó cả trại mới hay có bốn  ông '' Bò Lục '' trốn thoát ,  ít  nữa là ngày đầu tiên , ai nấy vừa lo  vừa mừng  cho các anh .
Chúng tôi lo lắng vì noi miền rẻo cao này , mỗi người  dân  đều là Cộng  Sản , là cán bộ tình báo  của chúng  để quan sát theo dõi chúng tôi sít sao , vi 2thế mà họ  không ngại '' thả '' chúng tôi ra  ngoài để lao động  khổ sai  vì vùng này  họ cho là an toàn nhất ,một con ruồi còn khó qua mắt họ .
Nhóm anh Huề , anh Thành , AnhThi  và anh Quế  vớí sự trợ giúp hậu cầncủa anh Võ Ân , tưởng  đã trốn trại  được đến gần biên giới  Lào vẫn bị chúng nó phát hiện  sau năm ngày sát biên giới, mà theo  lời kể của các anh là '' chỉ cần qua bên kia  con sông đang chảy xiết  là đến  đất Lào rồi '', kể thì các anh quá giỏi đã  vạch kế hoạch  , đi đúng hướng  chính  xác  mục tiêu , thất bại chẳng qua là .. số  mệnh  dun rủi  mà thôi !
Chúng họ theo đuổi lùng sục các anh tận  biên giới , nơi chắc chắn các anh sẽ đến ,  quả thật  bọn  chúng đánh giá  không  thấp trình độ của các sĩ quan ta . Khi giải các anh về bọn chúng như bầy quỷ dữ  khát máu  hung hăng , tha hồ đánh đập  hành hạ các  anh  chết đi sống lại cho hả cơn giận của chúng .  Riêng anhThành , trưởng nhóm  vượt ngục ,  bị nhốt riêng  rồi thay nhau đánh đập tra khảo anh từ  suốt  đêm đến sáng . Càng bị hành hạ , anh càng lớn tiếng chưởi bới , cho đến khi gà gáy sáng thì anh không còn có thể   la mằng gì được nữa  vì chúng nó  đã  treo cổ anh rồi .
Sau này khi tôi  bị biệt giam với các anh  Huề , Thi , Võ Ân , Tâm , Huy , Bình , Đức  ở khu F , phòng 7 , trại Hà  Tây , Tỉnh  Hà Sơn Bình , mỗi khi nhắc đến anh Thành  là mọi người yên lặng rơi lệ,  thành kính tưởng niệm  một anh hùng bất khuất , nhất là anh   Huề , Thi ,Võ  Ân .
 Theo lời anh Huề , sau khi chuẩnbị kỷ lưỡng  cà mấy tháng trời những địa điểm  tiếp tế  các anh đã  lần lượt chôn dấu  thực phẩm cho  những ngày đầu  còn ở  gần trại thì các anh  bắt đầu đi suốt  ngày đêm , tránh gặp dânchúng . Đến ngày thứ ba và thứ tư qua , bốn anh emmừng rỡ  tưởng  gần như  thoát  nạn rồi . Đdường càng xa Yên Bái thì nuí non càng cao dần lên , nhiều nơi dốc như thẳng đứng  khiến anh em khốn khổ  vô cùng . Đến sớm ngày thứ tư thì anh Thành  thoáng thấy từ xa  một buôn làng  có nhũng cuộn khói bốc lên từ các mái tranh . Tuy mừng rỡ nhưng  anh em bảo nhau đề cao cảnh giác  đi bọc vòng xa ngôi làng .
Bổng đâu có tiếng rào rào như giông to sắp đến nơi , anh Thi , người định hướng  đi trong rừng giỏi nhất  vì anh là cấp chỉ huy pháo binh , kể chuyện tiếp :
'' Lúc đó mọi người  đều  rã rời  vì  cơn khát nung nấu  dày vò ,nhưng tiếng  động lạ càng lúc càng to dần ,mọi người dều thủ dao  sẳn bên mình ,  sẳn sàng  chiến đấu một mất một còn  với bất cứ ai khám phá  ra bọn người đang quyết tâm đi tìm tự do  với bất cứ giá nào . Tiếng rì rào   càng ph1ut càng to dần trên đầu , bọn ngươì núp vào kẻ đá  trong lùm cây chờ đợi . Thật bất ngờ ! Mọi người há hốc  mồm nhìn lên ... đó là một con kỳ đà khổng lồ  rất dài đang le chiếc lưõi đôi  nhìn bọn người trốn trại nhỏ bé  đang ép mình  vào kẹt đá .
Ngươì ta thuờng nói  '' Ra đường gặp kỳ đà cản mũi , ắt việc không thành tựu được ! ''. Nhưng lúc đó  đối với các anh tù vượt ngục đói khát  suy nhược thì con kỳ đà này là món quà trời  thương ban  , giúp các anh có thêm sức lực .
Họ đã thấy xa xa con sông  to dài tung lên  những bọt trắng xóa chứng tỏ nước chảy rất mạnh .  theo bản đồ và  la bàn thì con sông đó co 1thể là sông Mekong  chảy xuyên qua  Trung Cộng , Lào, Kampuchia  và Việt Nam , vì từ trên đỉnh núi cây lá dày đặc  nhìn xuống  thì nó rất rộng  và dài vô tận  uốn khúc như con rắn khổng lồ .
 Gần bờ sông các làng mạc  mọc nhiều , dân cư hay lên rừng đốn củi  , săn thú  nên anh em quyết định  ngày ngủ dêm đi , di chuyễn dần lên phía Bắc nơi  con sông hẹp hơn  để vượt qua . Ai cũng mừng vì sắp thành công  cuộc vượt ngục hi hữu này , cố làm sao đủ sức vượt sông  đến khu rừng tre dày đặc bên kia xứ Lào .
Khi con người  cố gắng hết sức để đạt mục tiêu , cơ thể có khả năng siêu việt  vượt qua tất cả , để  một khi  đạt  hay gần khi gần tới mục tiêu  , cơ thể  rũ liệt kiệt sức ,các anh em  vượt  trạimấy ngày đêm nay thấy gần thành công thì bỗng dưng bao mệt mõi đổ ụp xuống , tuy nhiên anh em cũng  cố gắng thay phiên nhau trực  canh  , tìm mọi phuơng cách để vượt sông an toàn .
Bổng nhiên có tiếng chó sủa  càng lúc càng gần càng rộ lên . Thì ra , dân  bản xứ  đi rừng khám phá dâu chân lạ  trên con đường mòn , gần bờ suối cây lá bị đạp ngã  , họ thả chó đánh hơi và báo đồn công an , nghi ngở có bọn thổ phỉ buôn lậu thuốc phiện  xuyên biên giới .
Tiếng chó sủa dữ dội cùng tiếng súng bao vây các anh , nhữngtiếng quát tháo  rợn người  vang lên :
Rồi những gương mặt dữ dẳn của bầy lang sói độc ác  xuất hiện kèm theo những trận mưa đòn tàn bạo , gậy gộc báng súng  đánh tới tấp trên  đầu cổ mặt mũi  mình mẩy những  nạn nhân  tù đày ốm đói run rẩy  không chút tự vệ .
Giữa trận mưa mu , có tiếng một cụ già :
- Thôi cho tôi xin các ông ! Tưởng là bọn thổ phỉ buôn lậu biên giới , hóa  ra là tù cải tạo Miền Nam . Họ không thể  chống cự , hà tất  phải đánh đập họ dến chết như thế !
Bốn anh em ngất lịm đi trong cơn mưa đòn khủng khiếp nhất trên đời. Mặt mũi mình mẩy họ không còn là con ngườii nữa mà là  những  con vật hình thù  méo mó  tả toi  dươí những trận đòn từ những ác quỷ  đầy hận thù đội lốt người   thắng trận !

Chiều hôm đó tại lán trại , sau khi nhận điện báo  khẩn ,   trại trưởng huy động  hai đội lao công khẩn trương đục  hang vào sưòn núi sâu , không ai biết để làm gì , tưởng là  nơi để họ cất giấu vũ khí  hay chứa thực phẩm  lưong khô , đến khi  có những tấm vĩ sắt  dựng thành cửa  ngục  lên  thì ai nấy đều hiểu  ra đó là nơi để   giam giữ tù vượt trại . Chúng tôi hoài nghi  có lẽ bốn '' Bò Lục '' đã bị  bắt  và đang trên đường trở về .
Thật đúng như vậy ! Một buổi chiều  u ám , từ  chân trời có tiếng vó ngựa  tung bụi mờ ,  giữa bầy quỷ dữ  đang hò hét trên lưng ngựa  cho chiến thắng vĩ đại  là bốn người  tù  bị  lôi xểnh  theo sau lưng ngựa , hứng chịu những trận đòn , họ té khụy xuống rồi lại bị lôi dậy lúp xúp chạy theo  vó ngựa , rồi loạng choạng té xuống mặc cho những  sợi dây trói chặt quấn lấy thân thể rách bươm  lôi kéo họ như những thanh gổ vô tri giác !
Chúng tôi  chết điếng lặng  ngưòi  nép  bên đường nhìn  họ đi qua  sau giờ  chúng tôi  lao động cải tạo vể ,  vô tình hay cố ý  họ cho chúng tôi thấy hình phạt  khủng khiếp  của những ai  có ý định trốn trại . Chúng tô iđể mặc cho giòng lệ tuôn trào từ những đôi mắt trũng sâu ,  lăn dài  trên đôi  gò má hốc  hác  khắc  khổ  . Anh em chúng tôi đó ! Những NGƯỜI  HÙNG  sau cuộc chiến !  Không thành công đã thành NHÂN !  Dù không còn ai có thể nhận ra  các anh , vì  các gương mặt  đã bị  bầm dập tan nát  sau trận  mưa đòn thù .
Sáng hôm sau , anhThành đã chết  cách anh dũng bất khuất ! Xin dâng anh một nén hương lòng !
Vài  hôm sau  đó , có lẽ để xoa dịu lòng căm phẫn  nhem nhúm trong  tù trại Yên Bái  trại 2 , hoặc  gây chia rẽ nghi ngờ giữa các anh em tù , hoặc muốn tỏ ra rằng  Đảng ta  luôn khoan hồng  nhân đạo ,nên trong một  buổi học tập chính trị  toàn trại , người ta đem anh Quế  trình diện mọi người , đề cao anh là ''thành phần tiến bộ '', biết '' tội lỗi mình làm '', xin  tập thể trại viên  nhận anh lại vào hàng ngũ những người cải tạo  tốt .  Còn hai anh Huề và Thi hãy còn ngoan cố ,chưa xứng đáng được nhân dân tha thứ , còn phải chờ lâu dài . Mọi người  khẽ thở dài , không ai có ý kiến gì , bởi vì    không ai đoán bọn CS thâm độc  mưu mô này sẽ còn dùng chiêu thức gì  nữa .
Ít lâu sau đó ,  ngày 19/07/1977, hàng ngũ tù đại tá  chúng tôi  được lệnh chuyển sang trại  Tám ở thâm sơn cùng cốc  đầy ao tù nước vàng đặc , nếu lỡ  đạp chân xuống  đó sẽ bị  nhiễm  sốt rét  hoặc  sốt rét rừng kinh niên . Ngay ngày đầu tiên  khai hoang vùng hoang địa này  dể trồng  trọt , tôi là  bệnh nhân  sốt rét rừng  đầu tiên . Cứ  khoàng 4, 5 giờ chiều  cơn rét  kéo tới  hành hạ tôi run lập cập , đắp  bao nhiêu mền  vẫn không đủ ấm , cái lạnh từ trong xương lạnh ra , rồi đến 12 giò đêm  thì nóng  sốt như lủa đốt  như có muôn ngàn ngọn lửa châm vào đầu  ngón chân  mình mẩy . Thế mà sáng ra không được nghỉ ngơi , họ cho là tôi bệnh vờ  nên tôi vẫn phải lao động như thường . Như  chưa đủ khốn khổ ,  người  phát thuốc  ở trạm xá , vốn là người '' của ta '', nhưng nhờ ''quen biết '' cán bộ , nên  bắt chẹt anh em , mỗi lần  anh ta bố thí cho vài viên Quinine , đã bị anh ta  liếm hết chất ngọt bọc đường  bao quanh , là đổi lại chúng  tôi  phải  biếu hắn  thuốc lào ba số  hoặc đồ thăm nuôi . Thuốc men  gia đình chúng tôi gửi  nuôi  đều bị trại cất giữ hộ , họ phát  ''Xuyên Tâm Liên '' để trị bá bệnh !
Võ Hữu Hạnh