Wednesday, August 17, 2022

 

Lược sử Giáo xứ Nhà Đá

I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ :
 
            Nhà thờ Nhà Đá, trung tâm sinh hoạt tôn giáo của giáo xứ Nhà Đá tọa lạc tại một đồi dốc thuộc thôn Đại Thuận, xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, bên trái trục quốc lộ IA (từ Nam ra Bắc), cách thị trấn Phù Mỹ khoảng 06 km. Nhà thờ Nhà Đá ngày nay hoang phế trơ mình giữa nắng mưa như đang khát khao chờ đợi bàn tay tô điểm của con người.

            Ngược dòng lịch sử chúng ta tìm về cội nguồn giáo xứ Nhà Đá.

II. ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ :

            Nhà Đá hay Truông Dốc là một giáo xứ đã đón nhận Tin Mừng từ tiền bán thế kỷ 18.

            Theo bảng thống kê Danh Sách Nhà Thờ, Nhà Nguyện năm 1747 do linh mục Guillaume Rivoal ghi phần Thừa Sai Ba-lê và Thánh Bộ Truyền Giáo; Linh mục Jakob Graff ghi phần Dòng Tên ; Linh mục Felipe de la Concepcion ghi phần Dòng Phanxicô thì  phần đất tỉnh Bình  Định  (Qui-ning) lúc bấy giờ có 02 nhóm Thừa Sai Truyền Giáo hoạt động : Từ Kiều Đông (Ki-dou) thuộc Phù Cát  vào phía Nam thuộc Hội Thừa Sai Ba-Lê (M.E.P.) có 13 giáo điểm; Từ Phù Mỹ  ra phía Bắc thuộc Dòng Phanxicô có 14 giáo điểm, trong đó có Mương lỡ [1] được 80 tín hữu, là nơi đón nhận Tin Mừng sớm nhất trong các giáo họ thuộc giáo xứ Nhà Đá ( Truông Dốc ) [2]

            Theo bảng thống kê của Thánh Giám mục Stêphanô Thể gởi về Hội Thừa Sai Ba-lê năm 1850 thì Bình Định có 04 giáo hạt, trong đó có hạt Phù Ly gồm 18 giáo điểm, trong đó có giáo điểm Mương lỡ : 230 tín hữu ; Truông Dốc : 78  tín hữu [3]. Nhà thờ Phù Ly nay không còn gì cả. Phía Tây Nam cầu Phù Ly có nhà thờ Xuân Hội, ngày nay cũng đã bình địa. Hiện nay còn di tích mộ giếng, theo lời truyền khẩu mộ giếng nầy là nơi chôn xác những tín hữu bị phong trào Văn Thân bách hại. Ngoài ra có một số mộ còn thánh giá do ông Phan Xuồng chăm sóc.

            Lúc bấy giờ số Linh mục còn ít ỏi, sự hiện diện của Linh mục nơi các giáo điểm có tính cách vãng lai. Mương Lỡ (Hòa Mục) là một giáo điểm có các Linh mục hiện diện thường xuyên hơn. Vào tháng 03/1882 Đức cha Luy Galibert bổ nhiệm Linh mục Théodule Joseph Hamon (cố Lựu) đến ở tại Truông Dốc với nhiệm vụ như một cha sở (comme curé). Lúc đầu cộng đoàn tín hữu Truông Dốc ở tại chân một gò đất trên triền núi phía Bắc, nơi đây trống trải, gió lạnh, nhất là mùa Đông sinh nhiều bệnh tật. Do đó đầu năm 1883, cha Hamon dời cộng đoàn lên đỉnh dốc như ngày nay. Đang lúc củng cố cơ sở vật chất tạm ổn định, đầu tháng 8 năm 1885 ngài phải dẫn một số đông tín hữu trong vùng về Qui Nhơn lánh nạn phong trào Văn Thân, sau đó vào Vĩnh Long cho đến khi phong trào Văn Thân chấm dứt. Tháng 07/1887 số tín hữu ở lại Qui Nhơn bắt đầu trở về quê, ngày 01/8/1887 ngài dẫn tín hữu tạm cư ở Vĩnh Long về lại Truông Dốc. Cha Hamon tổ chức truy tập thân xác các tín hữu trong xứ đã bị bách hại. Ngày nay tại nghĩa địa Truông Dốc có một trụ tứ giác với Thánh giá trên đỉnh, cao khoảng 02 m, xung quanh trụ có sân đất vuông, tục truyền đây là nơi an nghỉ của các vị ấy.

              Sau khi ổn định cuộc sống, cha Hamon xây dựng nhà thờ Truông Dốc bằng đá ong, một công trình đầu tiên bằng đá của giáo phận Đông Đàng Trong. Trước đó 200 năm, năm 1687 tại Phủ Cam, Huế, linh mục Pierre Langlois (1640-1700) thuộc Thừa Sai Ba-lê đã xây nhà thờ bằng đá lớn nhất Đàng Trong dài 49m rộng15m, dân chúng đã gọi cha Langlois là “cha Vêrô Đá’’. Nhà thờ Truông Dốc được khánh thành ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống năm 1889, lễ nầy cũng được chọn làm bổn mạng của giáo xứ, tên gọi Nhà Đá cũng phát xuất từ  ngôi nhà thờ đá nầy. Ngoài công trình nhà thờ,  cha còn xây 03 nhà :  Cho các chú giúp, cho người neo đơn, nuôi trẻ mồ côi. Một trong các giấy tờ ruộng đất liên quan  đến các cơ sở nầy có đoạn ghi “Giấy đất điền acheté 1500q, pour moi soussigné et payé de mon argent personnel pour mon orphelinat de Truông Dốc près Phù Mỹ” – Tạm dịch “ Giấy đất điền được mua 1500 quan, cho nhà mồ côi Truông Dốc của tôi ở gần Phù Mỹ do tôi ký tên dưới đây và được trả bằng tiền riêng của tôi [4]

            Sau khi hoàn thành nhà thờ  Truông Dốc, cha Hamon củng cố các giáo điểm, mua ruộng đất tạo nguồn kinh tế-tài chánh cung cấp cho những nhu cầu thờ phượng, bác ái, truyền giáo, giáo dục miễn phí. Ngài làm việc mục vụ tại đây 26 năm, năm 1908 ngài nghĩ hưu tại Nhà Đá, tháng 3/1910 trở về Pháp và qua đời tại Montbeton ngày 06/5/1911. [5] 

            Tiếp nối cha Hamon có các cha sở và các cha phụ tá[6]           

* CÁC CHA SỞ :
 

 
STTTÊN THÁNH HỌ TÊNTHỜI GIANGHI CHÚ
01Théodule Joseph HAMON1882– 1908 
02Gustave Paul DUBULLE1908– 1909 
03Charles Eugène SAULÇOY1909– 1914 
04Jean Marie GUÉNO1914– 1924 
05Giuse MIỄN1921-  1923Tạm Quyền
06Jean Liévin SION1925-  1931Giámmục 1941
07Phêrô NHÌ1931-  1933 
08Gioakim Phan Công SỬ1933-  1946 
09August Nguyễn Thanh LONG1946-  1948 
10Phêrô Nguyễn Sĩ TƯ1948-  1953 
11Giuse Lê Văn LY1953-  1957 
12Phêrô  Nguyễn Vĩnh LƯU1957-  1962 
13Bernard Phan Văn HOÀNG1962-  1965 
14Các cha Dòng Đồng Công1965– 1975 
15Phêrô Nguyễn Công SANH1975– 1996cha sở Phù Cát, kiêm nhiệm
16Anrê Đinh Duy TOÀN1996 -cha sở
 
*CÁC CHA PHỤ TÁ :        
 
 
SSTTTÊN THÁNH HỌ TÊNTHỜI GIANGHI CHÚ
01F.x.  SANH02/1907-10/1907Ở  Truông Dốc
02Cha TÁNH10/1907-8/1908 (1)
12/1911- 3/1912(2)
Ở  Truông Dốc
03Phêrô QUA1908 - 1911Ở   Cây Rỏi
04Gioan Bt. HẬU1912Ở  Truông Dốc
05Simon  THỌ1914 - 1916Ở  Truông Dốc
06Phêrô TỪ1916 - 1917Ở  Truông Dốc
07 Giuse Nguyễn TÝ1920 - 1922Ở  Truông Dốc
08 Simon TÔN1922 - 1926Ở  Suối Nổ
09Phêrô NHÌ1926 - 1929Ở  Truông Dốc
10Stêphan Cao Tấn TRUYỆN1933 – 1936Ở  Cây Rỏi
11Antôn Hoàng Liên MẦU1936 – 1938Ở  Cây Rỏi
12Giacôbê Nguyễn Hữu THIÊN1939Ở Truông Dốc
13Gioan Bt.  HỘ1938 – 1941Ở  Cây Rỏi
14Phêrô Nguyễn Văn QUYỂN1940 – 1941Ở  Suối Nổ
15Dôminicô Châu PHẬN1942 – 1946Ở  Cây Rỏi
16Phêrô Lê Đức CHÂU1946 – 1947Ở Cây Rỏi
17Antôn Hồ Ngọc HẠNH12/1947- 02/1948Ở  Cây Rỏi
           
            Ngoài các linh mục được chính thức bổ nhiệm trên đây, còn có các linh mục được phép Đấng Bản Quyền về nghỉ dưỡng tại các giáo họ như:
  • Cha Phaolô Nguyễn Minh Đoan về nghỉ ở Suối Nổ và qua đời tại đây năm 1949.
  • Cha Gioakim Phan Công Sử về nghỉ tại Cây Rỏi từ năm 1963 – 1965.
            Dọn đất, gieo hạt, chăm bón, thu hoạch là tiến trình tuần tự của nhà nông. Trong việc rao giảng Tin Mừng tiến trình ấy được kết nối đan xen với nhau. Năm 1931, cha Phêrô Nhì trùng tu công trình nhà thờ cũ do cha Hamon xây dựng. Công việc trùng tu chưa hoàn thành, trận bão tháng 10 năm Nhâm Thân ( 1932 ) đã làm sụp đổ hoàn toàn. Cha Gioakim Phan Công Sử xây lại nhà thờ, cha sử dụng nguồn gỗ từ những cây Sao do cha Hamon trồng khi ngài mới đến Truông Dốc. Theo gương vị tiền nhiệm, cha Sử đã trồng lại hàng Sao sau khi thu hoạch. Năm 1940 Nhà Đá trùng phùng niềm vui: Nhà thờ cha Sử xây dựng được khánh thành vào ngày 04/6/1940, và 18 học sinh thi Élémentaire đậu cả 18 [7]. Vào thời cha Hamon đã có trường học nhưng chưa đủ điều kiện để đi thi. Thời cha Sử, trường Nhà Đá do ông Louis Nguyễn Đức Bạng làm hiệu trưởng có đăng bộ với Ty Giáo Dục. Đạo và đời cùng phát triển, năm 1941 tổng số tín hữu Truông Dốc được 2.065 người trong 15 giáo họ : Họ chính Truông Dốc 288; Gò Vàng 64; Gò Đồng 255; Suối Nổ 387; Mương Lỡ 193; Bình Sơn 114; Gò Mít 71; Bình Tân 30;  Vĩnh Ân 17; Tân Hóa 56; Hiệp Luôn 52; An Điềm 63; Cây Rỏi 256; Hội Sơn 41; và Tùng Chánh 178 [8].

            Từ năm 1946 đến năm 1954 Cây Rỏi, Hội Sơn, Tùng Chánh, An Điềm, Hiệp Luôn, Vĩnh Ân và Tân Hoá được tách khỏi Nhà Đá lập thành địa sở Cây Rỏi do cha Anrê Nguyễn Văn Tường đảm nhiệm, sau năm 1954 nhập trở lại Nhà Đá.

            Năm 1955, do sự bất cẩn, nhà thờ Nhà Đá bị hỏa hoạn, liền sau đó Đức cha Marcello Piquet Lợi, Giám mục giáo phận Qui Nhơn thuê ông thầu Võ Sĩ làm lại nhà thờ mới với cột kèo đúc bê-tông như  hiện nay vẫn còn thấy [9].

            Theo đúng Qui chế Giáo luật, ngày 30/01/1958 Đức cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Giám mục giáo phận đã ký quyết định nâng lên hàng giáo xứ bán chính thức (Quasi paroisse) các nơi sau đây: Đà Nẵng, Trà Kiệu, cù Và, Gia Hựu, Nhà Đá, Gò Thị, Qui Nhơn và Mằng Lăng [10]. Ngày 06/02/1961 theo quyết nghị của Hội Đồng Địa Phận công bố các nơi trong địa phận thành giáo xứ chính thức (Paroisse), trong đó có giáo xứ Nhà Đá [11].

            Được sự đồng ý của Đức Giám mục giáo phận, đầu năm 1958 các tu sĩ Dòng Đồng Công đã đến làm việc truyền giáo tại Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ. Nguyên khu truyền giáo nầy do cha Phêrô Trịnh Hoài Ân gầy dựng  bao gồm các xã : Mỹ Thọ, Mỹ Chánh, Mỹ An, Mỹ Thành, Mỹ Cát và Cát Minh của huyện Phù Cát. Cơ sở vật chất trụ sở truyền giáo Mỹ Thọ do các tu sĩ Dòng Đồng Công xây dựng và khánh thành ngày 23/8/1958  [12]

           Năm 1965, cha Bernard Phan Văn Hoàng cùng với số đông tín hữu vào Qui nhơn để tránh bom đạn chiến tranh. Đến năm 1967 cha Hoàng xin chuyển về làm việc ở Đà Nẵng. Đức cha ĐaMinh Hoàng Văn Đoàn , Giám mục Qui Nhơn giao xứ Nhà Đá cho Dòng Đồng Công phụ trách. Trong nổ lực phát triển con người toàn diện, các tu sĩ Đồng Công mở phòng phát thuốc,  trường dạy học, ký túc xá, tất cả đều miễn phí. Niên khóa 1970 – 1971 số con em trong vùng đã đến trường do các tu sĩ Đồng Công phụ trách [13]:
           
            Bậc Trung Học :
 
            - Trường Đồng Công (ở Nhà Đá ) : 215 học sinh ( lớp cao nhất : Lớp 9)
            - Trường Toàn Mỹ (ở Mỹ Chánh) : 111 học sinh (lớp cao nhất : Lớp 6)
 
            Bậc Tiểu Học  :
 
            - Trường Đồng Công    ( Nhà Đá) : 744 học sinh (lớp cao nhất : Lớp 5)
           - Trường Toàn Mỹ  ( Mỹ Chánh)  : 357 học sinh (lớp cao nhất : Lớp 5)
           - Trường Thiên Mẫu (TT.Phù Mỹ):238 Học sinh (lớp cao nhất : Lớp 5).

            Vì là vùng đất thường đón nhận bom đạn chiến tranh, từ năm 1965 đến 1968 đa số dân chúng di cư đi nơi khác. Hầu hết họ đã ổn định cuộc sống nơi những vùng đất mới , nên khi hoà bình được vãn hồi nhiều người trong số họ không trở về quê quán. Tháng 3/1975 các Tu Sĩ Đồng Công rời khỏi Nhà Đá và cũng không trở lại.

            Tháng 4/1975, Đức cha Phaolô Huỳnh Đông Các, Giám mục Qui Nhơn bổ nhiệm cha Phêrô Nguyễn Công Sanh làm quản xứ Phù Cát, kiêm nhiệm Nhà Đá.
           
             Ngày 18/9/1996, cha Anrê Đinh Duy Toàn được bổ nhiệm làm quản xứ Phù Mỹ, Nhà thờ Phù Mỹ nguyên là nhà thờ giáo họ Gò Đồng thuộc giáo xứ Nhà Đá, cách nhà thờ Nhà Đá khoảng 06 km về hướng Nam. Đây là nơi duy nhất trong xứ Nhà Đá có số giáo dân sum họp thường xuyên , nhà thờ các giáo họ khác đều sụp đổ hư nát.   

 
             III. CÁC LINH MỤC & TU SĨ XUẤT THÂN TỪ GIÁO XỨ NHÀ ĐÁ :
 
* CÁC LINH MỤC :
 
 
STTTÊN THÁNH, HỌ TÊNGIÁO HỌGHI CHÚ
01Giuse ChungHòa Mục 
02Anrê CậyTruông Dốc 
03Micae ThiênHòa Mục 
04Phaolô BangSuối Nổ 
05Phaolô  Nguyễn TưởngBình Sơn 
06Phaolô BườngGò Mít 
07Phêrô GiảngTruông Dốc 
08Gioakim  Nguyễn LịchTruông Dốc 
09Phêrô Lê Vĩnh PhướcTruông Dốc 
10Phaolô Trương Công ChánhHòa Mục 
11Aug. Nguyễn Khắc CầnGò Đồng 
12Phaolô Võ Hữu TưSuối Nổ 
13Phanxicô Nguyễn Quang HiềnGò Vàng 
14Gioakim Huỳnh Văn HóaSuối Nổ 
15Phêrô Nguyễn Hữu SanhCây Rỏi 
16Martinô Nguyễn Trọng HuấnHòa Mục 
17Gioan M. Nguyễn Đức ThốngHòa Mục 
18Gioakim Nguyễn Thúc NênTruông Dốc 
19Gioakim Nguyễn Hoàng SơnTruông Dốc 
20Phêrô Nguyễn Vân ĐôngTruông Dốc 
21Giuse Võ Đình SenTruông Dốc 
22Gioakim Phạm Công VănTruông Dốc 
23Phêrô Trần Văn TâmGò Đồng 
24Giuse Lê Thu ThâuSuối Nổ 
25Gioakim Huỳnh Công TânCây Rỏi 
26Giuse  Phạm Ngọc TuấnTruông Dốc 
  
 CÁC TU SĨ :
           
 
STTTÊN THÁNH HỌ TÊNGIÁO HỌGHI CHÚ
01Tu huynh  Nguyễn SanhTruông DốcDòng Lasan, ở Canada
02Phêrô Nguyễn Đình PhụcTruông DốcDòng Phanxicô
03Rosalie Nguyễn Thị ĐâyTruông DốcDòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn
04Béatrice Nguyễn Thị LậpTruông DốcDòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn
05Anna Nguyễn Thị Bích NgaTruông DốcDòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn
06Maria Nguyễn Thị Bạch VânTruông DốcDòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn
07Maria Võ Thị TuyếtHòa MụcDòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn
08Têrêxa Nguyễn Thị Kim KhánhCây RỏiDòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn
09Luxia Nguyễn Thị Kim ThanhTruông DốcDòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn
10Maria Nguyễn Thị Kim SơnTruông DốcDòng Nữ Vương Hòa Bình
11Matta Nguyễn Thị Lệ BânTruông DốcDòng Bác Ái Vinh Sơn
12Anê Huỳnh Thị ThảoCây RỏiDòng Nữ ĐaMinh Rosa Lima
13Maria Dương Thị Hồng ThủyGò MítDòng Đức Bà Truyền Giáo
14Maria Trần Thị Mỹ LoanGò ĐồngDòng Đức Bà Truyền Giáo
15Maria Trần Thị Mỹ LệGò ĐồngDòng Trinh Vương Bùi Môn
16Maria Trần Thị Mỹ VânGò ĐồngDòng Trinh Vương Bùi Môn
17Têrêxa Phan Thị Bang (Vân)Gò ĐồngDòng Trinh Vương Bùi Môn
18Ysave  Huỳnh Thị Kim TuySuối NổDòng Mến Thánh Giá Phan Thiết
 
           
              V.  HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI   

               Giáo họ Truông Dốc hay Nhà Đá đã từng chiếm vị trí trung tâm sinh hoạt tôn giáo của giáo xứ trong một thời gian dài. Ngày nay vị trí ấy được nhường lại cho giáo họ Gò Đồng với tên gọi mới : Nhà thờ Phù Mỹ, giáo xứ  Phù Mỹ.

              Nhà thờ Nhà Đá ‘vang bóng một thời’ nay đang hoang phế rêu phong làm cho phong cảnh mang màu ảm đạm và lòng người không khỏi xót xa ngậm ngùi, cho dù là :

              “Không phải con chiên chưa lần chịu lễ
               Lòng vẫn chùng trong thoáng nghĩ bâng quơ
               Này phế tích cho hỏi lời rất nhẹ
              Người xưa đâu ? năm tháng mấy ai về .”

                                                     ( Lê Thanh Lành)
            Cho dẫu ‘người xưa năm tháng mấy ai về’, thì nhiệm vụ lịch sử  trong giây phút hiện tại vẫn là của người hôm nay. Ước mong nhà thờ Nhà Đá được tô điểm để cùng hòa mình với nét đẹp của quê hương, với sự thay da đổi thịt từng ngày của đất nước, của non sông.

 

[1] Tức Hòa Mục, ngày nay thuộc xã Cát Tài, huyện Phù Cát
[2] (LAUNAY, Histoire de la Mission de Cochinchine, Vol.II, p.187-191; ĐỖ QUANG CHÍNH, Sống Trong Xã Hội Con Rồng Cháu Tiên, tr. 295).
[3] Mémorial số 58, ngày 31/10/1909, tr. 151-153
[4] Giấy nầy hiện nay ông Lê Văn Tường tổ 05, Hiền Hòa, Phước Thái, Long Thành, Đồng Nai còn lưu giữ.
[5] Fiche individuelle d Hamon ; Mm.no.76/1911, p.64; Compte-Rendu 1941,p.30 - 35.
[6] Theo sổ Rửa Tội, Hôn Phối, Mémorial , Archivesmep.mepasie.org và Thông Tin Địa Phận 
[7] Mm. Mai-Juin 1940, p. 04
[8] Compte-Rendu 1941, p.30
[9] Trên vách tường bên phải cung thánh (dưới nhìn lên) có mộ cải táng cha Micae Chương. Cha Micae Chương nguyên quán Ngọc Kinh, Quảng Nam. Cha qua đời tại Mương Lỡ (Hòa Mục) năm 1850 và được cải táng về Nhà Đá.
[10]  Thông tin địa phận số 03/1958, tr.03
[11]  TTĐP số 22/1961. tr.13
[12] Thông tin Địa Phận số 6/1958, tr. 7
[13] Thông tin Địa Phận số 66/1970, tr.54
 
 
Tác giả bài viết: Lm. Gioan Võ Đình Đệ
Nguồn tin: Gpquinhon.org

Chi tiết bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 


Hình ảnh nhà thờ Giáo xứ Nhà Đá

< chưa có >


Sunday, August 14, 2022

 Trận Tou Morong tháng 5/1966

Trong cuối tháng 5, cộng quân đã tiến sát một tiền đồn của địa phương quân (ĐPQ) ở Tou Morong, bắc của Dak To tỉnh Kontum. Trong vài ngày, chúng chỉ quấy rối bằng cối và bắn sẻ, nhưng chẳng bao lâu ý định của chúng đã rõ ràng. Các hồi chánh viên cho biết trung đoàn 88 csbv đã vượt biên giới Lào Việt khoảng 35 km tây bắc của tiền đồn, trong khi những tin tức tình báo khác cho biết các đơn vị (đv) của trung đoàn 24 csbv ở rừng rậm phía bắc và tây nam của tiền đồn. Cuối cùng, một nhật ký tịch thu bởi các đv Mỹ cho thấy các đv Bắc Việt đã lập kế hoạch để mở một chiến trường kiểu Điện Biên Phủ đâu đó trên cao nguyên, với trục tiến quân chánh trong tỉnh Kontum. Dù nhật ký ko có thời biểu, nhưng mức khả tín của các thông tin khiến quân Mỹ phải đáp ứng.

Thế là hành quân (HQ) Hawthorne được hoạch định và chỉ huy bởi tướng Pearson, tư lịnh lữ đoàn 1 của sư đoàn (sđ) 101 nhảy dù. Tướng Kinnard, quyền tư lịnh của Lực Lượng 1 Dã Chiến (I Field Force), đã gặp tướng Pearson và Vĩnh Lộc, tư lịnh quân đoàn 2 của VNCH, vào ngày 28/5 để thảo luận sẽ dùng lực lượng nào. Lúc đó, Pearson chỉ có tiểu đoàn (TĐ) 1/327 của đại tá Meinzen đóng tại bộ chỉ huy (BCH) tạm của lữ đoàn ở Cheo Reo thuộc tỉnh Phú Bổn -- còn TĐ 2/327 của đại tá Wasco tại Tuy Hòa và TĐ 2/502 của đại tá Emerson tại Pleiku, cả hai đv dưới sự chỉ huy của lực lượng 1 dã chiến. Tướng Vĩnh Lộc cung cấp TĐ 1/42 bộ binh và TĐ 21 BĐQ, đều thuộc biệt khu 24 của tỉnh Kontum.

TĐ BĐQ sẽ được trực thăng vận đến các vị trí 12 đến 15 km tây bắc tiền đồn và TĐ 1/327 xuống đông bắc. Một khi xuống đất, cả hai đv sẽ tiến về tiền đồn. Cùng lúc, TĐ 1/42 bộ binh sẽ di chuyển đường bộ từ Dak To. Pearson nghĩ rằng TĐ bđq và quân Mỹ sẽ tấn công vào phía bắc của địch, TĐ bộ binh tiến lên từ phía nam. Nếu địch ko giao chiến, tiền đồn sẽ được giải tỏa.

TĐ 1/327 chở bằng C-130 từ Cheo Reo lên Dak To. Thiếu tá Hackworth, trưởng ban 3 lữ đoàn, làm quyền tiểu đoàn trưởng của 1/327 vì đại tá Meinzen bị bịnh. 

Địa thế và thời tiết ở tỉnh này ko làm ai ngạc nhiên. Những ngọn núi dốc đứng, phủ đầy rừng và bụi rậm, có mặt khắp khu vực. Ngoài quốc lộ 14 là trục lộ nam bắc duy nhứt, còn lại là những đường mòn xuyên rừng rậm rạp. Do ảnh hưởng của gió mùa, vào lúc này trong năm, mây thấp và mưa bắt đầu mỗi ngày vào xế chiều và đôi khi kéo dài đến sáng sớm hôm sau. Sương mù xuất hiện sau khi mưa buổi sáng, vừa che chở cho địch và gây trở ngại cho không yểm.

HQ Hawthorne đã bắt đầu ngày 2/6, với TĐ 1/42 di chuyển bằng xe từ Dak to. Đi được 4 km, họ chạm súng nhỏ với khoảng một đại đội địch. Tối hôm đó, một thành phần của tđ 1/327 của thiếu tá Hackworth được trực thăng chở tới khoảng 9 km đông bắc Tou Morong. Phần còn lại của TĐ sẽ tới sáng ngày kế, cùng lúc với tđ BĐQ tới bãi đáp của họ. Mọi việc theo kế hoạch, trừ quân VNCH tiến chậm so với dự trù. Vào ngày thứ ba của HQ, để yễm trợ cuộc tiến quân, pháo đội B của TĐ 2/320 pháo binh được chở tới một đồn cũ của Pháp có tên Dak Pha, nằm trên đường từ Dak To đi Tou Morong. Đại đội A của tđ 2/502, chỉ huy bởi đại úy Walter Brown, bảo vệ pháo đội này, xem bản đồ.

Ba tđ đã đến Tou Morong ngày 5/6, giải tỏa tiền đồn này. Quân VNCH đã hộ tống đv ĐPQ này về Dak To. Vì bắc quân né tránh đụng độ, bộ tham mưu của tướng Pearson đã gặp Hackworth tại Tou Morong. Thiếu tá Hackworth xin lục soát phía bắc, tây bắc, và tây của tiền đồn này; tướng quân đồng ý. 

Vào buổi chiều cùng ngày, một đại đội của ông khi lục soát phía tây bắc đã đụng độ một đại đội cộng của csbv (vì quân số nhiều hơn một đại đội). Một quả đại bác bắn yễm trợ đã rơi lầm làm chết 5 lính Mỹ và bị thương 5. Họ cầm cự để chờ phần còn lại của tđ sẽ đến sáng hôm sau. 

Nhưng đụng độ lớn lại xảy ra ở Dak Pha. Bắc quân đã quấy rối căn cứ này từ 3/6. Lúc 2 g sáng ngày 7/6, sau khi pháo bằng cối, bắc quân thăm dò chu vi phòng thủ. Tám lính csbv chết so với 3 lính Mỹ. Tấn công ồ ạt bắt đầu khoảng 0320 sáng, khi một thành phần, sau này được biết là của trung đoàn 24 csbv tấn công từ hướng bắc, tây, và đông. Đợt đầu tiên bằng B-40, thẳng vào khẩu số 6, nằm ở phía tây của đồn hình ngôi sao này, khiến các pháo thủ bỏ chạy về giữa căn cứ. Lúc 0400 sáng, một tấn công khác từ tây bắc, khiến một số lính của pháo đội này chạy về trung tâm của căn cứ. Một lát sau lính Mỹ phản công và đẩy lui địch. 

Khoảng cùng lúc đó, pháo đội B của tđ 1/30 pháo binh, đóng gần căn cứ Dak To 1, (Dak To 2 ở tây nam cách đó 3 km là một trại lực lượng đặc biệt) nổ súng để yễm trợ Dak Pha. Những loạt đạn 155 ly, nổ sát bên ngoài chu vi, khiến bắc quân bỏ khẩu số 6, và vài giờ sau đó, hỏa lực liên thanh và cối của địch giảm đáng kể. 

Việc hưu chiến này chỉ tạm thời vì ngay sau hừng đông, pháo kích gia tăng, và lúc 0640 sáng, quân cs mở tấn công mới, lần này tập trung vào khẩu 6. Hai tiểu đội bắc quân đã chiếm khẩu này. Thay vì phản công, lính Mỹ ở trong hố cá nhân, nhường cho pháo binh tấn công địch trong 2 g. Trực thăng võ trang và máy bay tham chiến tới khi địch ngừng tấn công Dak Pha. 

Khoảng 0730 sáng, thiếu tá Hackworth và đại đội B và C của ông được trực thăng từ Tou Morong tới Dak Pha, khoảng cách 4 km. Ông chỉ huy luôn đại đội A (của đại úy Brown) và ra lịnh cho đại đội này, đang bảo vệ căn cứ, phải tiến về phía bắc. Ông ra lịnh cho đại đội B và C giữ sườn trái của A để ngăn địch rút về hướng đó. Sau đó, đại đội A của Hackworth và trung đội viễn thám, cũng rời Tou Morong để vào khu vực. Giờ đây Hackworth có 3 đại đội và một trung đội viễn thám tiến về phía bắc của Dak Pha. Mọi dấu hiệu cho thấy bắc quân ở gần đó nhưng họ đang rút sâu vào rừng núi bắc của Tou Morong. 

Lúc 0920, phần còn lại của tđ 2/502 của đại tá Emerson được bốc từ Dak To 1 đến 10 km bắc Dak Pha. Emerson ra lịnh cho đại đội C lục soát phía bắc của bãi đáp và đại đội B phía đông. 

Khi tiến về phía bắc, lính của Hackworth thấy hàng ngũ địch rối loạn, chúng chạy ngờ ngờ giữa đồng trống, nên quyết tâm đuổi theo. Họ ko ngờ họ đã sập bẫy vì lọt vào một hệ thống công sự vững chắc mà trung đoàn 24 csbv đang chủ động chờ đợi họ -- mở màn cho trận đánh 3 ngày của lữ đoàn này. 

Trận đánh này đã bắt đầu với một loạt chạm súng rất sớm vào ngày 8/6. Một trong những lần chạm súng đó là của trung đội viễn thám của đại úy Lewis Higinbotham có phóng viên Ward Just của báo Washington Post đi theo làm phóng sự. Ngày trước đó, trung đội này đi theo đường mòn cũ về phía tây bắc và đổi về phía bắc. Họ đã lần lượt gặp hai nơi đóng quân mà địch đã rút. "Rừng hoàn toàn yên tỉnh, trừ vài con bướm đầy màu sắc," phóng viên Just sau này mô tả lại. Khi trời tối, trung đội đào hố. 

Ngày kế, 8/6, họ tiếp tục truy kích. Hầu như ngay sau đó, họ đã gặp một nơi đóng quân bỏ hoang của địch, rất lớn đủ chứa ít nhứt là một TĐ, hay cả một trung đoàn. Tất cả vẫn yên tỉnh, nhưng lúc 13:15, lính Mỹ bị phục kích. Ít nhứt 200 lính csbv nổ súng bằng súng nhỏ và B-40. Trung đội của Higinbotham bắn trả, vội vàng lập phòng tuyến và gọi phi pháo. Đạn pháo Mỹ rơi sát phòng tuyến. Dù vậy đạn súng nhỏ và B-40 rơi tới tấp vào phòng tuyến Mỹ. Sợ rằng có thể bị tràn ngập trước khi được tiếp viện, Higinbotham cho thu hẹp phòng tuyến.

Thiếu tá Hackworth phản ứng lập tức, gửi đại đội A và hai trung đội của C tăng viện cho trung đội viễn thám. Dựa vào tiếng súng, đại đội C chạy nhanh về phía trước, và đụng địch. Họ bị cầm chân trong giây lát và sau đó lúc 1700 hai đại đội đã tới gần mục tiêu. Lính của trung đội viễn thám la hét ầm ỉ để hướng dẫn quân tiếp viện tìm thấy họ. Bắc quân có lẽ ko để ý điều này nên tiếp tục rút về phía bắc. Lợi dụng tình hình này, Higinbotham di tản người chết và bị thương và nhận tiếp tế. Trung đội viễn thám của ông chết 5 và 17 bị thương, nghĩa là gần nửa quân số. Không biết tổn thất địch. 

Các ngày kế, Hackworth tiếp tục tìm kiếm địch. Ngày 9/6, đại đội C được trực thăng đổ xuống tây bắc và đại đội B tìm địch ở bắc Dak Pha. Đại đội A và trung đội viễn thám vẫn ở chỗ chạm súng cũ của ngày 8/6. 

Trong khi đó, ở phía bắc, tđ 2/502 của Emerson đã ko đụng độ đáng kể trong hai ngày đầu, có lẽ họ ở xa đường rút lui của địch. Tuy nhiên ngày 9/6, tình hình đã thay đổi. Trong khi đại đội A của Brown trở về với TĐ 2/502 của Emerson, và bảo vệ BCH TĐ, đại đội B của trung úy Louis Sill lục soát hướng đông theo nhiều trục và đại đội C của đại úy William Carpenter chuyển về nam và đông cho tới khi họ tới ranh giới trách nhiệm của tđ của Emerson và Hackworth. Chẳng bao lâu họ đều chạm súng.

Sau khi đi khoảng 1.000 mét, quân của trung úy Sill bị tấn công bằng súng liên thanh. Đại úy Carpenter cũng bị tấn công nhưng chiếm một cao điểm. Vào lúc đó, với Hackworth trên đường giúp đại đội B, Carpenter được lịnh chuyển về phía bắc và đông để ngăn đường rút lui có thể của địch. Do địa thế tre gai chằng chịt khiến tiến quân rất chậm, nên Carpenter cho đại đội đi hàng một. Trung đội viễn thám đi đầu, kế là trung đội 1, BCH đại đội, trung đội 3, và cuối là trung đội vũ khí nặng. Mỗi trung đội cách nhau khoảng 200 m.

Khi đoàn quân vượt qua một chõm núi nhỏ, toán viễn thám nghe giọng người khoảng 200 m phía trái. Carpenter ra lịnh cho đại đội dừng lại để phía sau bắt kịp. Ông có 2 chọn lựa: đổi hướng để tránh địch; hay vượt qua chõm núi để tìm địch. Ông chọn cách thứ hai. Ông cho trung đội 1 tấn công, hai trung đội kia chuẩn bị tiếp cứu. 

Lúc 1530 trưa, tiểu đội đầu của trung đội 1 bò về hướng có tiếng người--khoảng 10 tới 15 lính csbv đang tắm và nấu ăn. Quân Mỹ nổ súng, giết và làm bị thương số quân này, và tiếp tục tiến. Chỉ trong vài phút, bắc quân phản công. Ít nhứt là hai khẩu đại liên ở trước và bên trái của quân Mỹ nổ súng, chận đứng trung đội 1. Trung đội 3 tiến đến cách sườn trái của trung đội một 50 mét, hy vọng bọc hông (outflank) địch, nhưng bị bắn trả dữ dội và bị cầm chân. 

Chẳng bao lâu cả đại đội của Carpenter bị tấn công. Ngay cả BCH đại đội và trung đội vũ khí nặng, dù ở xa phía sau, cũng bị tấn công bằng đại liên. Hỏa lực mạnh nhứt đến từ ngọn đồi khoảng 200 mét hướng đông. Trung đội vũ khí nặng được lịnh bắn yễm trợ. Nhưng quân Mỹ chỉ tiến 1/3 đường thì phải ngừng lại vì hỏa lực mạnh.

Tình hình của trung đội 3 rất bi đát. Địch ném lựu đạn để đánh bọc hông lính Mỹ. Trung đội trưởng trúng đạn chết và một tiểu đội trưởng chết vì lựu đạn. Một tiểu đội trưởng khác hoảng hốt gọi máy báo Carpenter rằng vị trí của y bị tràn ngập và y là người duy nhứt trong tiểu đội còn sống và sau đó tắt máy.  

Thông thường phi pháo giúp ích cho bộ binh nhưng ở đây là rừng tre gai khiến phi pháo ko hiệu quả vì người lính ko thể thấy nơi đạn đại bác hay bom rơi để điều chỉnh. Họ chỉ có thể dựa vào âm thanh để biết hướng bom hay đại bác rơi. Trong tình hình thất lợi như vậy, địch lại tấn công dồn dập khiến đại đội của Carpenter có nguy cơ bị tràn ngập. Lúc 1615, đại đội bắt đầu rối loạn hàng ngũ. Carpenter có thể rút nhưng địch bao vây ít nhứt 3 mặt, nhiều lính Mỹ bị thương và bất cứ người nào của trung đội 3 đang trốn trong rừng có thể bị bỏ lại. 

Trong tuyệt vọng, đại úy Carpenter mở một lựu đạn khói và ném về rìa phía bắc của chu vi phòng thủ nhỏ bé của ông và gọi máy bay ném bom xuống chỗ đó. Một F-4 Phantom ném 2 bom napalm lúc 1645. Một quả rơi xa quân Mỹ, trúng địch quân; quả kia rơi cách quả này 30 - 50 mét, rất gần quân Mỹ. Theo trung sĩ thường vụ đại đội Walter Sabalauski, "quả này rơi cách phòng tuyến vài mét". Theo Carpenter, "bom rơi giữa trung đội vũ khí nặng và trung đội 1 và cách phòng tuyến khoảng 15 mét". Ít nhứt một tá lính Mỹ bị phỏng -- một người chết sau đó. (Rất may cho quân Mỹ do bom rơi cách họ từ vài m đến 15 m.--người dịch). "Quả bom trở thành quả cầu màu vàng và nóng khủng khiếp ", một y tá kể lại. Các tường trình sau đó nói rằng Carpenter đã xin napalm, nhưng đại úy phủ nhận, nói rằng "Tôi đã ko biết vũ khí nào mà máy bay đang có."

Nhưng điều này cũng xấu cho bắc quân. Trung đội trưởng vũ khí nặng kể lại, "rất nhiều bắc quân trúng bom... tôi thấy một lính csbv, như bó đuốc, chạy lên chõm núi." Sửng sốt (staggering) vì bom napalm, bắc quân đã ngừng bắn trong hơn 1/2 giờ để tái tổ chức, khiến quân Mỹ có thì giờ rút về sau và lập chu vi mới. Từ lúc này, họ giữ vững vị trí suốt đêm, dù địch tiếp tục thăm dò.

Trong khi đó, các tư lịnh Mỹ đã làm mọi thứ để giúp Carpenter. Đại tá Emerson ra lịnh các đại đội còn lại của TĐ đi tiếp cứu. Lúc 1710, đại đội B của Emerson chỉ còn dưới 3km đông bắc của Carpenter khi họ gặp một TĐ csbv. Hai bên đã giao chiến suốt đêm, khiến đại đội B khó tiếp cứu Carpenter kịp thời. Đại đội A của 1/327, giờ đây cũng do Emerson chỉ huy, cũng bị chận đánh. Sau ba đợt xung phong để phá phòng tuyến địch, đại úy Willis, đại đội trưởng, cố gắng đi vòng quanh nhưng thất bại. Cuối cùng, đại úy cho đóng quân tại chỗ. Trước khi hừng sáng, bắc quân đã giết 8 và làm bị thương 20 lính của Willis. 

Tuy nhiên, các đv khác đều ko phải như vậy. Lúc 1715, đại đội A của 2/502 của đại úy Brown, hoạt động chưa tới 2 km tây của Carpenter, đã bắt đầu đi bộ tới chiến trường. Suốt đêm, những lính này di chuyển về đông nam trong lúc mưa nặng hạt, lúc mưa lúc tạnh. Trời rất tối đến độ có lúc họ phải nắm tay để khỏi lạc. Khi họ đến khoảng 500 m cách đại đội của Carpenter, họ nghe giọng nói Việt Nam. Brown lập tức gọi Carpenter, yêu cầu bắn một loạt đạn để ông biết vị trí của đại đội của Carpenter. Lính của ông vượt qua vòng dây của địch, và toán đi đầu đã gặp Carpenter lúc 2135 và phần còn lại của đại đội của Brown đến sau nửa đêm.

Từ đó, lính của trung đội 3 của Carpenter, như những bóng ma, đã lần mò trở về đại đội của mình. Đối với phần còn lại của đại đội của Carpenter, mà trước đây đã nghĩ rằng trung đội 3 đã bị tiêu diệt, nay trung đội đã về gần đủ trừ ba người. Sau khi kiểm kê quân số, Carpenter thấy đại đội chỉ chết 3, bị thương 34, và 3 mất tích.

Quyết tâm chiến đấu này của bắc quân đã khiến tướng Pearson mở rộng HQ Hawthorne. Đầu tiên, ông điều TĐ 1/42 bộ binh VNCH, đang ở hướng tây, ngăn cản địch rút về hướng này. Lực lượng 1 Dã chiến rút một đại đội của 2/327 để tăng phải cho TĐ của Emerson. Sư đoàn 1 không kỵ tăng phái TĐ 1/5 không kỵ đến phía đông của chiến trường. Với TĐ của Hackworth tấn công từ bắc, và Emerson từ nam, tướng Pearson nghĩ rằng đã bao vây 4 mặt bắc quân.

Nhưng Pearson muốn chắc chắn rằng ông sẽ giã bắc quân thật mạnh, do vậy ngày 10/6, ông đã yêu cầu B-52 ném bom trước khi quân của ông tấn công. Khi yêu cầu được chấp thuận, ông nói các đại đội phải rút về sau ít nhứt 3km, và đừng để bắc quân biết.

Việc di tản thương binh về nơi an toàn gặp khó khăn vì trực thăng bị bắn khi đáp xuống. Quân Mỹ phải đợi trời tối để khiêng vác thương binh. Dù trực thăng đã thả cáng tải thương (litter) cho 2 đại đội, nhưng vì mưa lớn, trời quá tối, và rừng quá rậm, họ phải đợi trời sáng mới di chuyển.

Ngày 11/6, khi trời sáng rõ của, hai đại đội đã bắt đầu đi bộ về phía tây tới một bãi đáp mới lập. Họ chỉ thiệt 1 người vì bắn sẻ. Họ tới bãi đáp sau 1100, lên máy bay, và đi hết lúc 1230. Suốt ngày kế, họ nghỉ ngơi và tái trang bị và chờ B-52 oanh kích trước khi trở lại chiến trường.

Trong khi đó, tướng Pearson nhanh chóng chuẩn bị cho B-52. Để địch quân nghĩ rằng quân mỹ vẫn còn trong khu vực, ông ra lịnh cho phi pháo tấn công địch từ 11 - 13/6. Cùng lúc, các thành phần của TĐ của Hackworth tích cực lục soát nhưng các đv này từ từ rút lui, chỉ để lại trung đội viễn thám của Higinbotham. Trung đội này cũng rút lui vào sáng sớm 13/6, vài giờ trước khi oanh kích bắt đầu. Hơn nữa, các lực lượng ngăn chặn đường rút lui của địch phải vào vị trí.

Ngày ném bom có thời tiết rất tốt. Lúc 0750 các chiến đấu cơ nhào lộn và ném 900 hộp đựng (canister) hơi cay vào khu vực mục tiêu. Pearson hy vọng rằng hơi cay này sẽ khiến bắc quân ra khỏi hầm hố trước khi B-52 ném bom. Ba mươi phút sau, B-52 có mặt bên trên mục tiêu và thả bom -- 648 tấn bom sắt.

Ngay sau oanh kích chấm dứt, lính Mỹ đổ quân xuống. Kinh nghiệm cho thấy địch đã tập họp lại sau một oanh kích và biến mất trước khi bụi tan, do đó Emerson và Hackwoth đã cho các đại đội tới khu vực này ngay lập tức. Phản ứng nhanh này cho kết quả tốt. Những người lính CSBV mất hồn (stunned) vì sốc sau cơn mưa bom. Một đại đội của Emerson bắt sống 20 tên. Những kẻ khác chống cự yếu ớt.

Dựa vào quan sát của trực thăng và tra hỏi 22 tù binh, bộ tham mưu của Pearson kết luận có ít nhứt 200 tên bị giết và có lẽ thêm 250 tên khác bị giết. Quân Mỹ ko có ai thiệt hại trong ngày này. 

Cuộc ném bom đã tàn phá trung đoàn 24 csbv. Từng năng nổ đánh với quân Mỹ từ 6 - 12/6, nay họ bắt đầu né tránh và HQ Hawthorne đã nhanh chóng trở thành HQ đánh giá thiệt hại (mop-up) của địch. Hai TĐ của Emerson và Hackworth đã lục soát khu vực mà họ đã làm trước oanh kích. Các đv có nhiệm vụ án ngữ cũng tham gia việc săn lùng này. Bốn TĐ đã lục soát suốt một tuần nhưng ko gặp gì hết. Vào ngày 20/6, Pearson chấm dứt HQ và rút lữ đoàn về Dak To 1. 

Tổng kết, lực lượng của Pearson tiêu diệt 479 quân địch và không quân giết thêm 52. Con số quân địch chết được ước lượng cao hơn. Phe bộ binh cho biết có thêm 506 địch chết và không quân 209. Cộng lại là 1.246 tên địch.

Nếu đây là sự thực thì trung đoàn 24 csbv với quân số 2.000 đã thiệt hại 60/100 quân số, ko còn khả năng chiến đấu. Theo sĩ quan tình báo của Pearson, trung đoàn 24 đã ko tham gia một hoạt động đáng kể trong hầu hết năm kế là 1967. Thiệt hại của Mỹ là 48 chết và 239 bị thương - 25 của TĐ 1/327 của Hackworth và 16 của 2/502 của Emerson.

Tướng Pearson nghĩ rằng lực lượng đặc nhiệm của ông chẳng những đã bẻ gẫy cuộc tấn công của địch ở Tou Morong nhưng cũng ngăn ngừa bắc quân thực hiện các mục tiêu khác ở tỉnh Kontum. Tướng Westmoreland đồng ý. Ông gọi Hawthorn là "một tấn công phá hỏng mưu đồ của đối phương" và là khuôn mẩu của một HQ thành công./.

Chuyển ngữ từ trang 276 - 288 trong quyển Stemming The Tide của John Carland do Trung tâm Quân sử của Lục quân Mỹ in. 

San Jose ngày 16/8/2022.

Tài Trần. 


       



 


                





Thursday, August 11, 2022

 Thế các chữ bằng trị số tương ứng.

PHAN 

85 1 5 = 19 = 10 = 1

MINH 

4 15 5 = 15 = 6

ĐỨC

4 6 3 = 13 = 4

DOUGLAS

4 7 6 3 3 13 = 27 = 9