Wednesday, August 26, 2020

Hải Quân VNCH, Mỹ Và TT Thiệu; Từ Dinh Độc Lập 1969 Tới Ngôi Nhà Ngoại Ô London Sau 1975

19/02/2019
NTH_voi Hai Quan VNCH
Nguyễn Tiến Hưng, tác giả cuốn “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu,” nói chuyện với các bạn hải quân tại nhà hàng Paracel, Little Saigon về những điều chưa thể viết trong sách.

Ngày 28/1/1969 - vừa lên ngôi, TT Richard Nixon đã nhóm họp ngay với Hội đồng An ninh Quốc gia nới rộng để bàn về Việt Nam. 

Tướng Andrew Goodpaster, Phó của Đại tướng Creighton Abrams trình lên tổng thống: “Quân đội Việt Nam Cộng hòa đã không ngừng cải thiện, và thời điểm mà ‘De-Americanization” - vai trò của quân đội Mỹ có thể được thu hep lại thì đã cận kề.” Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird đồng ý với quan điểm này, nhưng không đồng ý với ngôn từ ‘De- Americanization.” "Điều chúng tôi cần là một thuật ngữ như “Vietnamization” (‘Việt Nam hóa' chiến tranh) để nhấn mạnh vào vấn đề chính yếu là giúp cho Miền Nam có đủ khả năng để tự bảo vệ. TT Nixon đồng ý ngay và tuyên bố chương trình này tại cuộc họp đầu tiên giữa hai Tổng thống Nixon và Thiệu tại đảo Midway vào ngày 8/6/1969.

Chỉ 5 tháng sau, chương trình này được khởi sự với Hải Quân VNCH. Và từ đó, Hải Quân đã phát triển rất mạnh và mau chóng:

1969: Mỹ chuyển giao 80 tầu tuần giang. Ngay lập tức Hải Quân tiếp thu toàn bộ chiến dịch tuần tra, kiểm soát sông ngòi của lãnh thổ.

1971: tiếp nhận công tác tuần tra vùng Duyên Hải và trên biển;

1972: tiếp thu và quản lý toàn bộ 16 đài kiểm thính (radar) duyên hải để chấm dứt hoàn toàn hoạt động của Hải quân Mỹ.

1973: VNCH đã hoàn tất chương trình bành trướng Hải Quân lên đến quân số trên 40,000 sĩ quan và thủy thủ.

Theo như sự đánh giá của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu – chính vì sự giúp đỡ tối đa của Đô Đốc Emmo Zumwalt - một người đã rất gắn bó với VNCH – cho nên Hải Quân đã trở thành một lực lượng lớn mạnh đáng kể.

Khi chúng tôi viết cuốn ‘Tâm Tư Tổng Thống Thiệu’, nhà tôi đã khuyên tôi nên viết một chương về Hải Quân nhưng sách đã dài trên 700 trang, không thể thêm vào được. Cho nên trong bài này chúng tôi xin nhắc lại một số sự kiện lịch sử liên hệ:

- Chỉ trong vòng 5 năm, với 64,200 vật liệu và phụ tùng đã được lưu trữ tại trung ương và các cơ xưởng của Hải Quân để sửa chữa và bảo trì cho 1,429 tầu chiến gồm 13 loại lớn nhỏ - từ Khu Trục Hạm, Tuần Dương Hạm tới Dương Vận Hạm, Xà Lan chở dầu. Hệ thống tiếp liệu của Hải Quân VNCH được Bộ Quốc Phòng Mỹ đánh giá là lớn lao nhất và hiệu quả nhất Đông Nam Á.

Để có một ý niệm về hệ thống này phức tạp như thế nào, ta có thể so sánh nó với HOME DEPOT. Khi ta vào đây mua sắm vật liệu thì thấy như vào cái rừng, nhiều khi vợ chồng còn đi lạc nhau. Tuy nhiên HOME DEPOT cũng chỉ lưu trữ từ 30,000 tới 38,000 vật liệu so sánh với trên 64,000 của Hải Quân VNCH.

Hệ thống tiếp liệu của Không Quân và Lục Quân thì lớn hơn nhiều: 192,000 và 127,000 nhưng đa số được lưu trữ ở ngoại quốc. Khi máy bay khu trục cần sửa chữa tới ‘cấp 4’ (rigging operation) thì phải đưa sang Đài Loan. Trái lại, Hải Quân có đủ vật liệu và kỹ thuật để sửa chữa chiến hạm ngay trong nước.

-Hải Quân giữ một nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo vệ an ninh đường thủy, đóng góp rất lớn cho nền kinh tế miền Nam, vì lúa gạo, đường, gia súc, tôm cá, các nhu yếu phẩm hầu hết được đưa về cảng và các kênh ở Sài Gòn và các tỉnh bằng đường sông rạch chằng chịt tại đồng bằng châu thổ Cửu Long, vì đường bộ thiếu an ninh lại bị tắc nghẽn ở Phà Mỹ Thuận. Phà này phải đi qua khúc sông Cửu Long dài tới nửa cây số.
hinh-22
Dinh Độc Lập: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tiếp sứ giả Hoa Kỳ. Phía bìa trái là Tổng trưởng Kế Hoạch Nguyễn Tiến Hưng.

Cầu Mỹ Thuận mà Mỹ không thuận!

Nơi đây chúng tôi xin kể lại một câu chuyện bên lề về Phà Mỹ Thuận: một hôm chúng tôi họp với Bộ Công Chánh để tìm hiểu tại sao chính phủ đã có dự án xây một cây cầu ở Mỹ Thuận từ mấy năm rồi mà chưa xây để khai thông hệ thống chuyển vận đường bộ? Các chuyên gia trả lời là vì nhiều lý do như tình hình an ninh khó khăn (dễ bị gài mìn trên sông), chưa đủ chuyên gia kỹ thuật...

Sau cùng một thanh niên rất trẻ đứng lên phát biểu: “Dạ thưa ông: cái cầu tên là Mỹ Thuận nhưng Mỹ chưa bao giờ thuận nên không xây được.” Câu nói của thanh niên này đã tóm gọn tình trạng phải lệ thuộc vào Hoa Kỳ không những về quân sự mà còn về kinh tế của Miền Nam trong thời gian chiến tranh: vì cuộc chiến kéo dài từ 1945 nên đã không cho phép sản xuất, phát triển.

- Sau Hiệp Định Paris, TT Thiệu đã chỉ thị cho chúng tôi qua Mỹ để yêu cầu Hoa Kỳ thay thế cho HQVN những chiến hạm đã quá cũ kỹ theo điều khoản “một đổi một” của Hiệp Định Paris. Ông đặc biệt nhấn mạnh tới chiến hạm thuộc loại chuyển vận như Dương Vận Hạm – LST (Landing Ship Tank), nhưng không thành công vì Hiệp Định này chỉ cho phép “một đổi một” về phẩm chất: không được thay cũ đổi mới.

TT Thiệu nói: sở dĩ cần ngay LST vì một phần là để giúp chuyển quân thay cho trực thăng vì mô hình Việt Nam hóa vẫn đặt nặng hai yếu tố “Mobility và Fire Power” – di động tính và hỏa lực.

‘Mobility’ thì luôn cần trực thăng mà bây giờ nhiều chiếc phải nằm ụ vì thiếu phụ tùng.

Cho nên cần có LST thật tốt để hay thế một phần. VNCH chỉ có 5 cái: HQ 500 tới HQ 505.

Vai trò của LST quan trọng như thế nào thì đã phản ảnh vào những ngày tháng cuối cùng:

Tháng 3/1975 Trung tướng Ngô Quang Trưởng rất lo ngại về cái chốt nguy hiểm ở đèo Hải Vân:

QL 1A đi từ Huế tới Đà Nẵng dài 95 cây số và phải qua đèo Hải Vân. Đèo này nằm trên dẫy núi dài tới 21 cây số. Rồi qua Cửa Tư Hiền rất khó khăn: nơi thông đầm Cầu Hai với Biển Đông.

Cho nên Tướng Trưởng chỉ trông nhờ vào cảng Tân Mỹ ở đầu nguồn Sông Hương. Chúng tôi biết được chuyện này vì trong một báo cáo cho TT Thiệu, qua tài liệu của tình báo Mỹ thì: ba sư đoàn VNCH ở Huế và lân cận có thể bị rơi vào cạm bẫy của quân đôi Bắc Việt vì – ngoài Phi Trường Phú Bài thì chỉ còn cái cảng nông cạn, sình lầy là cảng Tân Mỹ để rút lui: “Sáu Sư đoàn Bắc Việt ở phía Bắc và ba SĐ ở khu vực Quảng Trị-Thừa Thiên, tổng cộng là 9 SĐ sẽ có thể đánh bại 3 SĐ VNCH nội trong trong mấy ngày.”
hinh-2
Và ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô Luân Đôn, nơi Ông Thiệu tiết lộ kế hoạch sau cùng.

Sau cùng thì cái gì đã xảy ra?

Trên đường rút từ Huế: Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến 147 rút về cảng Tân Mỹ để được LST của Hải quân chuyển đi. Nhưng căn cứ này đã sớm bị tràn ngập thường dân tìm cách di tản, cho nên sau cùng LST chỉ có thể vào gần bờ vài trăm feet, bắt buộc TQLC phải bơi ra tàu, cuối cùng chỉ có khoảng 600 trong số 3000 TQLC được chuyển vận tới Đà Nẵng.

- Trở lại Hiệp Định Paris, một điểm quan trọng cần được ghi lại cho lịch sử: đó là về việc di chuyển quân: Hải Quân và chỉ có Hải Quân là không bị trói tay bởi Hiệp Định Paris. Hiệp Định này được gọi là “Hiệp Định Da Beo:” cho phép bộ đội Bắc Việt đóng lại Miền Nam ở rải rác khắp nơi như những đốm da beo trên bản đồ. Cho nên Không Quân bị ngăn chận không được bay qua và Bộ Binh không được vận chuyển qua những khu vực này.

Trái lại, trên mặt biển thì không có đốm da beo nào (cho tới trận Hoàng Sa) cho nên Hải Quân đã hoàn toàn làm chủ đại dương cho tới ngày cuối cùng.

-TT Thiệu đã có tầm nhìn xa về Biển Đông: sau khi mất Hoàng Sa ông đã nghi ngại Trung Cộng sẽ tiếp tục xâm chiếm lãnh thổ hải đảo và sẽ đưa tầu chiến vào Trường Sa, nên đã điều thêm chiến hạm HQVN ra phòng thủ Trường Sa với bất cứ giá nào.

Đây là vấn đề quân sự, nhưng lúc ấy vì một tình cờ chúng tôi mới biết chuyện này, đó là khi gặp Tướng John Murray (chỉ huy cơ quan DAO Bộ Quốc Phòng Mỹ ở Sài gòn) để cập nhật ngân sách viện trợ (là lãnh vực của chúng tôi) thì có cả vấn đề tiết giảm chi tiêu quân sự, gồm cả Hải Quân. Ông Murray nói tới khuyến nghị của ông đối với chi tiêu của Hải Quân và cho biết ông đã đề nghị Bộ Tổng Tham Mưu rút hết các chiến hạm khỏi Trường sa và đóng cửa một số cơ sở bảo trì của Hải Quân:

Căn cứ yểm trợ hành quân ở Cần thơ;

Hai căn cứ yểm trợ hành quân tại Vĩnh Long, và Long Phú;

Hai căn cứ sửa tầu ở Cửu Long và Cần Thơ; và

Hai căn cứ yểm trợ nhanh ở Chợ Mới và Thuận An.”

Tôi hỏi tại sao nên rút chiến hạm khỏi Trường Sa? Ông trả lời là vì hai lý do: thứ nhất, nguyên tiền xăng nhớt cho hai chiến hạm ở đây đã tốn tới nửa triệu đôla một năm; và thứ hai: thả neo ở Trường Sa là không cần thiết vì “Hải Quân của Bắc Việt không thể nào vào tới tận Trường Sa.”

Tôi báo cáo lại với TT Thiệu, ông nói: “Bắc Việt không thể nào vào tới Trường Sa nhưng sau Hoàng Sa, Trung Cộng sẽ ngừng để nghỉ ngơi, tái phối trí rồi sẽ tiến thẳng vào Trường Sa.”

Ông cho biết đã ra lệnh không những tiếp tục bảo vệ mà còn tăng cường nếu cần thiết. Theo sự suy nghĩ của chúng tôi, sở dĩ ông nhất quyết như vậy - dù đã sắp cạn tiền mua xăng - một phần cũng vì ông cho rằng phải bảo vệ kho tàng dầu lửa. Lúc ấy, tin tức về khai thác thành công dầu lửa ở Trường Sa đang rộ lên.

-Với sự bảo vệ an ninh của các chiến hạm HQVN, các giếng dầu hoạt động ngoài khơi Biển Đông đã có dấu hiệu có thể xuất cảng dầu thô, chỉ trong vài ba năm đã có thể lên tới 1 tỷ dollars mỗi năm, một triển vọng cho miền nam trù phú có thể tự lực, tự cường mà không còn phải nhờ vả vào viện trợ Hoa Kỳ nữa.

-Trong trận Mùa Hè Đỏ Lửa, TT Thiệu đã dự trù cho 1 sư đoàn Bộ Binh đổ bộ ra Vinh bằng các chiến hạm HQVN, làm nghi binh để cho bộ đội Bắc Việt phải rút về phòng thủ.

- Về trận Hoàng Sa 19/1/1974, TT Thiệu đã ra lệnh trực tiếp cho tư Lệnh Vùng I Duyên Hải Hồ Văn Kỳ Thoại mà không qua hệ thống quân giai để phản ứng nhanh chóng trong việc bảo vệ Hoàng Sa. Sau đó ông còn ra lệnh cho Không Quân dùng máy bay khu trục F5E để bay ra bắn chìm tầu của Trung Cộng. Nhưng hai phi vụ không thực hiện được vì Ngoại trưởng Henry Kissinger đã ngăn chận. Nhân chứng còn sống là Đại Tá Nguyễn Quốc Hưng, Phụ Tá Tham Mưu Phó Hành Quân, Bộ Tư Lệnh Không Quân (‘Khi Đồng Minh Nhảy Vào’ Chương 25).

- TT Thiệu tin tưởng Hải Quân sẽ đủ khả năng bảo vệ bờ biển Đà Nẵng, để Bộ Binh và Không Quân tử thủ thành phố này, nếu giữ được hai tuần lễ – như điều kiện Hoa Kỳ đã đặt ra trong một kế hoạch tối mật giúp bảo vệ Miền nam. Tuy nhiên thành phố Đà Nẵng đã thất thủ nhanh chóng vì lệch lạc hỗn loạn dẫn đến sụp đổ của chính thể VNCH. Và lịch sử cũng đã rõ là nếu VNCH có giữ được hai tuần thì Hoa Kỳ cũng đã thất hứa vì đã quyết định tháo chạy.

Ban doAAA
Hình chụp từ tấm bản đồ trong “Phòng Tình Hình” của TT Thiệu mà người viết còn giữ. Bản thu nhỏ cũ kỹ, đường nét mờ mịt. Vị trí từ Bến Lức, ranh giới dự tính cho một VNCH thu gọn về miền tây..

Vai trò Hải Quân trong kế hoạch sau cùng

Vai trò Hải Quân trong chiến lược cuối cùng: rút về Miền Tây để bảo vệ một VNCH thu gọn.

Sau này tại Luân Đôn, TT Thiệu tiết lộ về kế hoạch cuối cùng của ông là ‘cắt cầu Bến Lức, rút về Miền Tây.’ Ông nói rằng lúc ấy ông hy vọng nếu Mỹ đồng ý cho ta vay một số tiền (khoảng 1 tỷ đôla) để mua được tiếp liệu thì sẽ rút về Miền Tây để chỉ giữ một VNCH thu gọn, vì khả năng quân sự ở nơi đây còn nguyên vẹn và tình hình an ninh rất tốt. Ông giải thích là không thể nào giữ được cả bốn quân khu với một biên giới quá dài vì quân số rất ít: tuy lý thuyết là trên một triệu binh sĩ, nhưng trong thực tế, quân đội chủ lực chỉ có khoảng 130,000. Sau Đà Nẵng, số này chỉ còn vỏn vẹn 63,000. Tuy nhiên, nếu có phương tiện để gấp rút thi hành kế hoạch tái tổ chức thì vẫn có thể giữ được Miền Tây. Sau tuyến Tây Ninh – Nha Trang, tuyến cuối cùng mà ông Thiệu vẽ trên bản đồ là từ Mỏ Vẹt qua Bến Lức (xem bản đồ).

TT Thiệu cắt nghĩa là từ cầu Bến Lức, phòng tuyến mới của một VNCH thu gọn sẽ dễ bảo vệ hơn nhiều. Ranh giới chỉ còn phần giáp Cao Miên và mấy chục cây số từ Mỏ Vẹt ra tới biển.

Khúc còn lại, tức là phần lớn của biên giới thì chỉ là duyên hải. Theo sự ước tính của chúng tôi thì biên giới sẽ không phải là cả gần 700 dặm nữa mà được thu hẹp lại chỉ còn khoảng trên 130 dặm. Phần lớn công tác biên phòng của một VNCH thu gọn sẽ được Hải Quân trấn giữ.

Cho nên, tổng kết cho lịch sử: cùng với Lục Quân (đã bảo vệ lãnh thổ cho tới tháng 1/1975 khi mất tỉnh đầu tiên trong suốt cuộc chiến mà không lấy lại được: đó là Phước Long; cùng với Không Quân (đã bảo vệ tất cả bầu trời cho thật an ninh cho tới khi bị giới hạn bởi HĐ Paris), Hải Quân VNCH có thể tự hào là đã làm tròn bổn phận đối với Tổ Quốc và Đại Dương.

Nguyễn Tiến Hưng
Gót chân Asin của Trung Quốc đã lộ rõ
Nguyễn Quang Dy - Gót chân Asin của Trung Quốc đã lộ rõ
Đăng bởi: Tiểu Nhi on Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2018 | 26.8.18
Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung (đang leo thang) đã làm thị trường chứng khoán Trung Quốc xuống dốc, đồng NDT mất giá, xuất khẩu giảm sút, kinh tế phát triển chậm lại. Bên cạnh những hệ quả nhãn tiền đó, Trung Quốc đang bộc lộ “gót chân Asin” (Achilles’ Heel), như một tiếng chuông cảnh báo làm người Trung Quốc giật mình tỉnh ngộ. Tôi tin rằng nếu Trung Quốc bị suy sụp thì không phải từ bên ngoài như Biển Đông, là nơi họ có lợi thế so sánh tương đối, mà chính từ bên trong nơi họ dễ bị tổn thương vì “gót chân Asin”.
Gót chân Asin của Trung Quốc đã lộ rõ
Gót chân Asin
Cách đây hơn hai năm, khi tôi viết bài “Gót chân Asin của Trung Quốc: Cơ hội thoát Trung” (Viet-studies, 12/2/2016) và bài “Nghịch lý Tập Cận Bình: Dr Jekyll or Mr Hyde” (Viet-studies, 17/5/2016), chưa ai hình dung được kết cục thế này. Tuy vẫn còn quá sớm để đánh giá và kết luận về cuộc chiến tranh thương mại (chưa có điểm dừng) nhưng sẽ quá muộn nếu không kịp thời rút ra bài học, để có đối sách thoát hiểm (trước khi quá muộn). Việt Nam cần nắm bắt cơ hội này để điều chỉnh chiến lược, đổi mới thể chế, và thoát Trung.
Trong các bài phân tích trước đây, tôi đã đề cập đến cảnh báo của các học giả hàng đầu về Trung Quốc (như Paul Krugman, David Shambaugh, Minxin Pei, Andrew Nathan). Về cơ bản, họ đều cho rằng Trung Quốc có nhiều vấn đề nghiêm trọng, và không mạnh như người ta tưởng. Trung Quốc có dấu hiệu sắp đổ vỡ, nhưng chưa biết khi nào. Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung là một bước ngoặt mới, làm bộc lộ “gót chân A-sin” như mở cái “hộp Pandora”, với những tử huyệt mà trước đây người ta mới đồn đoán, nhưng nay thành sự thật.
Cách đây 5 năm, Paul Krugman (môt chuyên gia kinh tế hàng đầu, được giải Nobel) đã nhận định rằng “Trung Quốc đang có vấn đề lớn” (China is in big trouble) vì mô hình phát triển của họ đã kịch đường, đang đụng phải bức tường lớn. Vấn đề chưa biết rõ là bao giờ Trung Quốc sẽ suy sụp. (Hitting China’s Wall, Paul Krugman, NYT, July 18, 2013).
Cách đây 3 năm, David Shambaugh (một học giả hàng đầu về Trung Quốc) cũng nhận định tương tự: “Trung Quốc sắp đổ vỡ” (crack up). Theo Shambaugh, “màn chót của Trung Quốc đã điểm, các biện pháp cứng rắn của Tập Cận Bình chỉ làm Trung Quốc tiến gần hơn đến chỗ đổ vỡ (breaking point). (The Coming Chinese Crackup, WSJ, March 6, 2015).
Gần đây, trong một bài phân tích mới, Minxin Pei (một chuyên gia hàng đầu về Trung Quôc) cũng nhận định rằng chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đang làm Trung Quốc bộc lộ các mặt yếu kém như “một người khổng lồ chân bằng đất sét” (as a giant with feet of clay). (China’s Summer of Discontent, Minxin Pei, Project Syndicate, August 2, 2018).
Biết mình biết người
Trong binh pháp, Tôn Tử từng răn “biết mình biết người, trăm trận trăm thắng”. Nhưng những gì vừa diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc đã làm bộc lộ một thực tế khó phủ nhận là Bắc Kinh không biết mình biết người. Hay nói cách khác đó là “ngộ nhận chiến lược”. Bắc Kinh đã đánh giá thấp Trump, tưởng ông là “tổng thống con buôn” (dealer) nên chắc chỉ dọa già để đàm phán, chứ không dám đánh thuế thật. Vì vậy, khi Trump tuyên chiến và ra đòn quyết liệt, Bắc Kinh đã bị bất ngờ (caught off guard) và đối phó bị động và lúng túng.
Gần đây, khi các chuyên gia của Stratfor (một tổ chức nghiên cứu chiến lược) đến Trung Quốc, họ cảm thấy có sự bất ổn (uncertainty). Người Trung Quốc không còn nhắc đến “Made-in-China 2025” như trước, như có một cuộc “rút lui chiến lược” (tuy đã quá muộn). Cuộc chiến thương mại với Mỹ làm Bắc Kinh đau đầu, và nổ ra tranh luận về chính sách (đã bộc lộ sai lầm), về vị thế của Tập Cận Bình (đang bị nội bộ chỉ trích), về vai trò và tương lại của các cố vấn chủ chốt liên quan đến Mỹ, như Vương Kỳ Sơn (Wang Qishan) phó chủ tịch nước, là cánh tay phải của Tập, và Lưu Hạc (Liu He) phó thủ tướng, phụ trách đàm phán với Mỹ. Nếu Trung Quốc bị thất thế và thua cuộc thì sự nghiệp chính trị của họ cũng bị tổn thương.
Nay Tập Cận Bình nắm quyền lực tuyệt đối, như “Chủ tịch Mọi thứ” (Chairman of Everything) hay “Hoàng đế Đỏ” (Red Emperor). Xung quanh Tập không thiếu người tài, nhưng thể chế độc tài và tệ “sùng bái cá nhân” đang làm thui chột sáng tạo và vô hiệu hóa tài năng, vì vua không chịu lắng nghe, hoặc các quan không dám nói thật. Đó chính là nghịch lý Tập Cận Bình và “gót chân Asin” của Trung Quốc (và một số nước khác). Muốn khắc phục vấn nạn đó, phải thay đổi thể chế, vì chỉ thay người (như thay áo) sẽ không giải quyết được vấn đề. Einstein đã từng nói: “không thể giải quyết được vấn đề bằng chính tư duy đã tạo ra nó”.
Trung Quốc đã đi quá xa với tham vọng bành trướng ra toàn cầu để thách thức Mỹ. Tuy đã quá muộn để quay lại theo lời răn của Đặng Tiểu Bình là “dấu mình chờ thời”, nhưng “muộn còn hơn không”. Lúc này, dù Tập Cận Bình vẫn có thể tránh né được chỉ trích trực tiếp, nhưng chắc không tránh né được mãi. Các quyết định của Tập ẩn tàng rủi ro, vì ngộ nhận hoặc do “hệ quả không định trước” (unintended consequences), đang làm suy yếu quyền lực. Các quyết sách của Tập về kinh tế, đối ngoại, và quân sự đang chịu sức ép lớn của dư luận trong và ngoài nước, vì những ngộ nhận và nghịch lý đang làm Trung Quốc dễ bị tổn thương.
Trong khi chính quyền Trump điều chỉnh chiến lược để ngăn chặn Trung Quốc trỗi dậy thách thức Mỹ, Bắc Kinh vẫn ngộ nhận và coi thường (như dưới thời Obama). Vì vậy, khi Trump chuyển sang tấn công, Bắc Kinh đã sa vào thế bị động và thiếu chuẩn bị để đối phó. Trong khi Bắc Kinh đang tái cấu trúc nền kinh tế (để giảm núi nợ khổng lồ) nên dễ bị tổn thương như “rắn đang lột xác”, bộ máy tuyên truyền vẫn hùng hổ thách thức Mỹ. Nếu chiến tranh thương mại leo thang (như dự báo), Trung Quốc chắc càng bất ổn về kinh tế, và Tập càng bị thách thức nhiều hơn về chính trị. Nay dù Bắc Kinh có muốn xuống thang hay “rút lui chiến lược” cũng khó vì họ đã đi quá xa. (Xi Jinping’s Path for China, Stratfor, August 10, 2018).
Cao Biền dậy non
Trong bối cảnh Lưu Hạc thất bại (6/2018) không ngăn được Mỹ quyết định đánh thuế 34 tỷ USD, nhiều người kỳ vọng Vương Kỳ Sơn sẽ vào cuộc như “người chữa cháy số một” (fire fighter in chief). Tuy chưa rõ Vương Kỳ Sơn thực sự không dính líu sâu vào quan hệ với Mỹ, hay ông cố tránh xa quan hệ Mỹ-Trung đang xấu đi, nhưng chắc Vương không tham gia vào lúc này vì Mỹ tiếp tục đánh thuế cao hơn, ông sợ bị mất mặt. Nếu Lưu Hạc đã bị bỏng bởi đám cháy, Vương Kỳ Sơn có thể bị bỏng còn nặng hơn. Tuy Vương không tham gia lúc này là “dấu hiệu xấu trong quan hệ Mỹ-Trung”, nhưng ông có thể là lá bài chiến lược để dành (cho nước cờ cuối). Đến nay, Bắc Kinh vẫn chưa thực sự biết Washington muốn gì, vì các quan chức Mỹ tham gia đàm phán chia rẽ sâu sắc, nên không có tiếng nói chung (reneging on one’s words). (China-US trade war: Vice-President Wang Qishan ‘the firefighter’ might not be sent to front line, Shi Jiangtao, South China Morning Post, August 22, 2018).
Nhưng Vương Hỗ Ninh (Wang Huning) lại là câu chuyện khác. Ông được coi là “quốc sư” vì phục vụ ba đời Tổng Bí Thư, là bộ óc đằng sau các chủ thuyết qua từng giai đoạn: Giang Trach Dân với thuyết “Ba Đại diện”, Hồ Cẩm Đào với thuyết “Xã hội Khá giả”, và Tập Cận Bình với thuyết “Giấc mộng Trung Hoa”. Tại Đại hội 19, Vương được Tập đưa vào thường vụ Bộ Chính Trị, phụ trách tuyên truyền (thay Lưu Vân Sơn). Mô hình chuyên chế có sức sống (authoritarian resilience) đã phát huy hiệu quả (sau Thiên An Môn). Nhưng khi mô hình “chuyên chế tập thể” biến thành “chuyên chế cá nhân”, khoác cái áo tư bản nhà nước với “đặc sắc Trung Quốc”, nó đã bộc lộ “gót chân Asin” khi bị Mỹ tấn công. Gần đây, Vương không xuất hiện, làm dấy lên tin đồn là Vương đã thất sủng vì chủ trương tuyên truyền phản tác dụng.
Thời xưa, Tào Tháo đã để lại một câu nổi tiếng: “ta thà phụ người còn hơn để người phụ ta”. Thời nay, Đặng Tiểu Bình cũng quyền biến không kém, khi trở mặt thí Triệu Tử Dương (là đệ tử của mình chủ trương cải cách ôn hòa) và ủng hộ phe cực đoan xuống tay đàn áp đẫm máu sinh viên tại quảng trường Thiên An Môn. Tuy buộc phải nhúng tay vào chàm để giữ quyền lực, nhưng Đặng có lý khi để lại mấy lời răn nổi tiếng: “dấu mình chờ thời”, “quyết không đi đầu”, “lãnh đạo tập thể” và “mèo trắng mèo đen miễn là bắt được chuột”.
Nhưng đáng tiếc là Tập Cận Bình đã làm ngược lại các lời răn của Đặng Tiểu Bình, vì chủ quan tin rằng đã đến lúc Trung Quốc không cần giấu mình, sẵn sàng đi đầu, tập trung quyền lực tuyệt đối để trở thành độc tài và “sùng bái cá nhân” như thời Mao Trạch Đông. Sau Đại hội 19, Tập còn thay đổi hiến pháp để lãnh đạo suốt đời (như một hoàng đế Trung Hoa). Đó là một nghịch lý, không chứng tỏ sức mạnh mà là điểm yếu như “Cao Biền dậy non”. Đây là một cuộc cách mạng lộn ngược trở về quá khứ (chẳng khác gì cách mạng Hồi giáo Iran).
Cục diện tứ giác thương mại quốc tế Mỹ-Trung-Nhật-EU bắt đầu suy sụp với tiếng chuông báo động của WTO, mở ra một giai đoạn mới của trật tự kinh tế quốc tế, trong đó Trung Quốc đang bị các cường quốc khác cô lập. Lý Khắc Cường đã đề nghị hợp tác với EU để chống lại Mỹ, nhưng đã bị EU từ chối. Trong khoảng hai tháng qua, đồng tiền NDT đã liên tục mất giá trong khi đồng USD vẫn đang mạnh lên. Nhưng điều làm cho Bắc Kinh lo ngại nhất là các doanh nghiệp nước ngoài sẽ rút vốn ồ ạt ra khỏi Trung Quốc, làm cho dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tiếp tục giảm mạnh. Trong hơn 3.000 tỷ USD dự trữ ngoại hối hiện nay, dự trữ ngoại hối khả dụng không đến 50%, trong khi nợ nước ngoài khoảng 1.800 tỷ USD.
Lợi bất cập hại
Lãnh đạo Trung Quốc đã chủ quan tưởng rằng họ có thể thắng cuộc khi đối đầu thương mại với Mỹ (trade standoff). Bắc Kinh tưởng Washington sẽ bị mắc kẹt trong cuộc chiến thương mại vì chịu sức ép của cử tri Mỹ đang bị thua thiệt do thương mại bị đình đốn. Trên thực tế, Bắc Kinh dễ bị tổn thương hơn, vì họ cần duy trì tăng trưởng kinh tế để có chính danh quyền lực, và luôn bị ám ảnh bởi bất ổn xã hội. Trong khi Bắc Kinh tăng cường bịt miệng những người bất đồng chính kiến, thì họ cũng bịt luôn những “thông tin trái chiều” (nhưng là sự thật cần biết). Việc Tập nắm quyền lãnh đạo độc tôn đã gây trở ngại cho việc hoạch định chính sách hiệu quả khi các quan chức không dám nói thật, đùn đẩy trách nhiệm ra quyết sách cho lãnh đạo, và thi hành mệnh lệnh một cách thụ động và máy móc (dù hệ quả tốt hay xấu).
Nếu chiến tranh thương mại tiếp tục leo thang (như dự báo) sẽ dẫn đến những hệ quả khôn lường. Lòng tin của dân chúng vào nền kinh tế sẽ bị suy sụp, làm cho đất nước đứng trước các thách thức mới còn nghiêm trọng hơn nhiều so với xuất khẩu bị giảm sút. Theo quy luật, chiến tranh thương mại thường kéo theo chiến tranh tiền tệ. Lúc đó, không chỉ đồng tiền NDT sẽ tiếp tục phá giá, dẫn đến suy thoái, mà dòng vốn sẽ tháo chạy khỏi Trung Quốc, bất chấp các biện pháp kiểm soát, dẫn đến các hệ quả còn lớn hơn cả tài chính và kinh tế.
Một biện pháp truyền thống là bán nợ để đối phó với đòn trừng phạt thuế quan trong đối đầu thương mại. Tháng 4/2018, Nga đã quyết định bán 84% số công trái chính phủ Mỹ (US Treasury bonds) mà Nga đang nắm (trị giá 81 tỷ USD), để trả đũa và đối phó với Mỹ đánh thuế các hàng hóa của Nga (như thép). Quyết định này tưởng sẽ tác động đến thị trường và kinh tế Mỹ, nhưng lãi suất công trái 10 năm của Mỹ vẫn giữ ở mức 3%. Số công trái trị giá 81 tỷ USD mà Nga bán ra chỉ như muối bỏ biển, so với tổng số công trái Mỹ trị giá 21.000 tỷ USD.
Trung Quốc là nước chủ nợ lớn nhất của Mỹ, trong đó có 1.200 tỷ USD công trái (Treasury bonds), bằng 6% tổng số nợ (gấp 10 lần Nga). Nếu Bắc Kinh bán số công trái chính phủ Mỹ (như Nga) sẽ là một quả bom kích hoạt cuộc chiến tiền tệ, tác động đến thị trường tài chính Mỹ và toàn cầu. Đó sẽ là một cuộc chiến hủy diệt lẫn nhau (mutually assured destruction), nên ít có khả năng Tập Cận Bình sẽ trả đũa bằng “quả bom công trái Mỹ” (như dự đoán). Theo một tài liệu nghiên cứu của bộ Quốc phòng Mỹ (năm 2012), về mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của Mỹ vì Trung Quốc mua quá nhiều công trái, đã kết luận rằng Trung Quốc không thể đem công trái Mỹ ra bán hàng loạt, vì Trung Quốc sẽ là bên thiệt hại nhiều hơn.
Song song với chiến tranh thương mại (đang leo thang), ngày 13/8/2018, Tổng thống Trump đã ký “Luật Chuẩn chi Quốc phòng cho năm tài chính 2019” (NDAA) được Quốc hội thông qua (1/8/2018) phê chuẩn ngân sách quốc phòng 716,3 tỷ USD (tăng 16 tỷ USD so với năm trước). NDAA nhằm ngăn chặn: (1) các hoạt động xâm chiếm lãnh thổ biển đảo của Trung Quốc trong vùng biển Đông Nam Á; (2) các hoạt động gián điệp của Trung Quốc chống lại Mỹ và quốc tế; (3) các kế hoạch của Trung Quốc nhằm làm suy yếu Mỹ. Quốc hội nhấn mạnh “cạnh tranh chiến lược lâu dài với Trung Quốc là ưu tiên chính của Mỹ”. NDAA cũng kêu gọi “xác định lại, mở rộng và kéo dài” (redesignation, expansion, and extension) Sáng kiến Hàng hải Đông Nam Á. (With a wary eye on China’s maritime expansion the US is switching up gear in the Indo Pacific, Emanuele Scimia, South China Morning Post, August 23, 2018).
Trí thức trỗi dậy
Theo các nguồn tin từ Trung Quốc, gần đây có một số sự kiện đáng chú ý: Giáo sư Hồ An Cương (Đại học Thanh Hoa) bị phê phán kịch liệt là tác giả thuyết “Trung Quốc đã vượt Mỹ”; Bộ phim “Amazing China” bị ngừng phát hành, sau mấy tháng gây sốt dư luận; Báo chí Trung Quốc được chỉ đạo không còn nhắc đến kế hoạch “Made in China 2025”.
Ông Hồ An Cương đang bị dư luận Trung quốc phê phán, coi lý thuyết của ông là thủ phạm và nguyên nhân trực tiếp làm Trump nổi giận, gây ra cuộc Chiến tranh thương mại với Trung Quốc. Trong một báo cáo (năm 2016) Hồ An Cương khẳng định Trung Quốc đã trở thành nước chế tạo lớn nhất thế giới, nước xuất nhập khẩu nhiều nhất và thực thể kinh tế lớn nhất thế giới. Trong một báo cáo khác (tháng 4/2017) ông kết luận: “Trung Quốc đã bước vào thời kỳ đuổi kịp và vượt qua toàn diện nước Mỹ, trong đó thực lực kinh tế đã vượt Mỹ năm 2013, khoa học kỹ thuật đã vượt Mỹ năm 2015, sức mạnh quốc gia tổng hợp đã vượt Mỹ năm 2012. Đến năm 2016, ba thực lực trên so với Mỹ đã lớn gấp 1,15 lần về kinh tế, gấp 1,31 lần về khoa học kỹ thuật và 1,36 lần về sức mạnh quốc gia tổng hợp, nên Trung Quốc đứng đầu thế giới!”.
Gần đây, 27 học giả, nhà nghiên cứu, và cựu sinh viên Đại học Thanh Hoa đã ký tên vào một lá đơn yêu cầu Đại học Thanh Hoa cách chức Viện trưởng và tước bỏ học hàm giáo sư của Hồ An Cương. Sau đó, lá đơn này đã được 1.000 cựu sinh viên của trường đại học danh tiếng này hưởng ứng ký tên. Nội dung lá đơn tố cáo các nghiên cứu của Hồ An Cương đi ngược lại những kiến thức thông thường, đẻ ra cái gọi là “báo cáo học thuật về sức mạnh quốc gia tổng hợp của Trung Quốc đã vượt Mỹ”. Họ cho rằng Hồ An Cương không chỉ làm ô danh trường Đại học Thanh Hoa mà về lâu dài còn làm hại đất nước và nhân dân Trung Quốc.
Một sự kiện khác đáng chú ý là Giáo sư Tôn Lập Bình (Đại học Thanh Hoa) đã viết bài trên mạng Weibo (được lan truyền khắp cả nước), chỉ trích các hoạt động tuyên truyền nói trên là “vừa gây tai họa cho quốc gia, vừa mang tai ương cho nhân dân”. Theo ông, các trường đại học danh tiếng (Ivy League) và các cơ quan nghiên cứu hàng đầu của Mỹ đã hội tụ được các nhân tài giỏi nhất toàn cầu, kiên trì nghiên cứu cơ bản suốt mấy chục năm nay, trong khi Trung Quốc chỉ mới trỗi dậy trong một thời gian ngắn, nên đừng mong đuổi kịp Mỹ. Ông cảnh báo nếu người Trung quốc suốt ngày tung hô kế hoạch “Made in China 2025”, và bộ phim “Amazing China”, là “Đại quốc Trọng khí” (vật quý, quan trọng của nước lớn) thì chẳng khác gì “gõ thanh la và đánh trống lôi người khác tỉnh dậy, để tìm cách kiềm chế chúng ta”.
Ông Long Vĩnh Đồ (cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại thương Trung Quốc) cũng phê phán quan điểm của ông Hồ An Cương về “Trung Quốc đã vượt Mỹ về ba thực lực”. Ông Long viết: “Mới đây, một báo cáo kết quả nghiên cứu của Viện trưởng Hồ An Cương ở Đại học Thanh Hoa cho rằng 6 thực lực phát triển của Trung Quốc (kinh tế, khoa học kỹ thuật, sức mạnh tổng hợp, quốc phòng, ảnh hưởng quốc tế và văn hóa mềm) đều đã bước vào thời kỳ đuổi kịp và vượt Mỹ toàn diện, trong đó 3 thực lực đầu đã vượt Mỹ”. Theo ông, từ trước đến nay, Trung Quốc chưa bao giờ coi thực lực kinh tế vượt Mỹ là tiền đề để xử lý quan hệ với Mỹ. Về thực lực phát triển, tố chất con người, hay sức mạnh tổng hợp quốc gia đều còn khoảng cách rất xa so với người Mỹ. Nhưng ông Hồ An Cương đã làm lãnh đạo và xã hội Trung Quốc lầm lẫn.
Tuyên truyền ra sao
Trên Nhân dân Nhật báo (2/7/2018) có bài “Bàn về trào lưu thổi phồng tự đại”, cũng chỉ trích “cách nói 3 thực lực của Trung Quốc đã đuổi kịp và vượt Mỹ”. Bài báo phê phán một số bài viết tung hô “Trung Quốc đã dẫn đầu thế giới về một số lĩnh vực, ai cũng khâm phục”, và “Trung Quốc hiện là nền kinh tế số 1 thế giới”, hoặc “Mỹ đã sợ chúng ta, Nhật cũng sợ, và châu Âu hối hận”. Những bài báo đó đã kích động tinh thần dân tộc cực đoan, làm nhiều người tự cao tự đại, xã hội sa đà vào thông tin sai lạc, vô tình cổ súy cho tư tưởng dân túy.
Sau khi nổ ra chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, “Sự kiện ZTE” bị Mỹ trừng phạt vì lấy cắp công nghệ Mỹ, trở thành một liều thuốc tỉnh ngủ, làm người Trung Quốc giật mình. Nhiều chuyên gia Trung Quốc lên tiếng cảnh báo cái gọi là “thành tựu trong lĩnh vực công nghệ cao” của Trung Quốc không đúng như tuyên truyền. Trong khi Bộ Thương mại Mỹ tuyên bố cấm các công ty Mỹ trong vòng 7 năm không được bán linh kiện/cấu kiện cho công ty ZTE để phát triển công nghệ 5G cho điện thoại thông minh, làm ZTE đối mặt nguy cơ phá sản, bộ phim “Amazing China” lại tung hô công nghệ cao Trung Quốc, với nhiều tình tiết có thể làm bằng chứng Trung Quốc đã lấy cắp, dùng trộm và cưỡng bức chuyển giao công nghệ, làm các công ty công nghệ khác (như Huawei và Alibaba) lo ngại sẽ là nạn nhân tiếp theo (như ZTE).
Bộ phim “Amazing China” tràn ngập những hình ảnh về các “kỳ tích vượt bậc, gây nức lòng người” trong lĩnh vực khoa học công nghệ (như máy bay tàng hình J-20, tàu sân bay Liêu Ninh, cầu lớn vượt biển nối Hongkong với Ma Cao). Xuyên suốt bộ phim là những lời ca ngợi sức mạnh Trung Quốc, bừng bừng khí thế yêu nước và lòng tự hào dân tộc. Phim được mô tả là “tác phẩm truyền đi sức mạnh Trung Quốc” gây cơn sốt cả trong nước và ngoài nước. Nhưng đến ngày 19/4/2018, bộ phim đó đột nhiên được thông báo rút khỏi hệ thống các rạp, và gỡ khỏi các trang phim trực tuyến, theo chỉ thị của Ban Tuyên truyền Trung ương.
Theo Tân Hoa Xã, ngày 25/7/2018, Tưởng Kiến Quốc (Phó ban Tuyên truyền TW) đã đột ngột bị cách chức, và ngày 30/7/2018, Lỗ Vỹ (Phó Ban Tuyên truyền TW), đã bị Tòa án đưa ra xét xử. Ủy ban Kiểm tra kỷ luật TW đã buộc tội ông với những lời lẽ nặng nề, như là người khởi xướng trào lưu sùng bái cá nhân và lừa dối lãnh đạo. Nhiều người cho rằng việc chỉnh lý công tác tuyên truyền phản ánh tình trạng Trung Quốc bị đòn đau trong Chiến tranh thương mại. Sai lầm về tuyên truyền dường như đã làm cho lãnh đạo bị bất ngờ (caught off guard), nay họ nhận ra thì đã quá muộn. Công tác tuyên truyền gắn với Tập Cận Bình, tuy vị thế chưa bi suy yếu, nhưng khả năng kiểm soát quyền lực chắc bị giảm sút. (Trumps trade war is rattling China’s leaders, Keith Bradsher & Steven Lee Myers, NYT, August 14, 2018).
Trong nghiên cứu người ta phải dựa trên sự thật, nhưng trong tuyên truyền người ta có thể dựa vào “một nửa sự thật” (half truth) hay “sự thật khác” (alternative facts), thậm chí “tin vịt” (fake news) để đạt mục đích. Nghiên cứu và tuyên truyền tồn tại song song nên dễ làm người ta ngộ nhận và nhầm lẫn. Joseph Goebbels (bộ trưởng tuyên truyền Đức) từng nói: “Nói dối một lần chỉ là nói dối, nhưng nói dối một ngàn lần sẽ thành sự thật” (a lie told once remains a lie, but a lie told a thousand times becomes the truth). Sử gia Yuval Harari gọi xã hội loài người là “hậu sự thật” (post-truth) và cho rằng fake news đã tồn tại từ lâu trước Facebook. (Humans are a post-truth species, Yuval Noah Harari, the Guardian, August 5, 2018).
Ngộ nhận và nhầm lẫn giữa nghiên cứu và tuyên truyền có thể gây tai họa. Điều đó thường xảy ra dưới chế độ chuyên chế khi vua không chịu lắng nghe sự thật và các quan không dám nói ra sự thật (vì sợ trái ý vua). Nó không chỉ xảy ra trong lịch sử, mà đang xảy ra tại Bắc Kinh (và một số nơi khác). Nhiều người đã nhận ra lãnh đạo Trung Quốc vừa qua bị bất ngờ và bị động đối phó với Mỹ trong cuộc chiến thương mại, vì họ đã ngộ nhận và nhầm lẫn lớn (hay còn gọi là “ngộ nhận chiến lược”). Không phải ì Trung Quốc thiếu người tài để đối phó với Mỹ, mà họ đã bị thể chế làm cho thui chột hoăc vô hiệu hóa. Muốn khắc phục vấn nạn này phải thay đổi thể chế, vì chỉ thay người (như thay áo) không thể giải quyết được vấn đề.
Thoát Trung thế nào
Trong khu vực, xu hướng “thoát Trung” và “theo Trung” xảy ra đồng thời, phản ánh sự phân hóa của các nước (như ASEAN) dưới tác động của Trung Quốc đang trỗi dậy, muốn thao túng khu vực này và Biển Đông (như cái ao riêng của họ). Miến Điện là một trường hợp điển hình đã dám “tái cân bằng” (rebalance) quan hệ với Trung Quốc. Nói cách khác, đó là quá trình “thoát Trung”, để tránh bị “Hán hóa” (sinicization) về kinh tế và chính trị thông qua “bẫy nợ” (debt trap). “Tái cân bằng” hay “thoát Trung” không có nghĩa là bài Trung hay chống Trung Quốc, vì đó là một cường quốc (láng giềng), có một nền văn hóa vĩ đại.
Quá trình “tái cân bằng” tại Miến Điện không phải ngẫu nhiên, mà do mấy thập kỷ kinh nghiệm quan hệ Miến-Trung làm người Miến tỉnh ngộ, buộc phải đảo ngược (push back), tuy họ vẫn phải giữ quạn hệ tốt với Trung Quốc. Nay quá trình đó đang lặp lại tại Triều Tiên sau cấp cao Liên Triều và Mỹ-Triều, tại Malaysia sau khi Mahathir Mohamad thắng Najib Razak và lên làm thủ tướng, và sẽ diễn ra tại các nước khác như một xu hướng mới. Trong khi quá trình “theo Trung” (như Cambodia, Lào, Thailand, Philippines) là do hoàn cảnh, và có thể đảo ngược, thì quá trình “thoát Trung” hầu như không thể đảo ngược (irreversible).
Một số học giả và nhà báo thiếu phê phán (uncritically) thường có quan điểm thân Trung Quốc, do thấy đầu tư và ảnh hưởng của Bắc Kinh ngày càng tăng trong khu vực. Nhưng đầu tư của Trung Quốc trong mấy năm qua đã dẫn đến phản ứng của dân chúng (public backlash) làm quan hệ song phương dễ đổ vỡ (fragile). Tại Malaysia, thủ tướng mới Mahathir Mohamad (93 tuổi) đang tái cân bằng (rebalance) quan hệ với Trung Quốc như một ưu tiên hàng đầu. Ông đã quyết hủy hai dự án lớn là tuyến đường sắt East Coast Rail Link (trị giá 20 tỷ USD) và đường ống dẫn khí Sabah Gas Pipeline (trị giá hơn 2 tỷ USD). Đây là một phép thử (litmus test) để xem Trung Quốc có mềm dẻo để tái cấu trúc quan hệ trong tương lai hay không.
Tuy Thủ tướng Mahathir công khai chỉ trích quan hệ Trung-Mã dưới thời Razak, nhưng trong chuyến thăm Trung Quốc (18-22/8/2018), ông đã khéo léo tránh đổ lỗi cho Trung Quốc, mà đổ trách nhiệm cho người tiền nhiệm là Rajib Razak. Trong cuộc họp báo tại Bắc Kinh, Mahathir nói rõ: “Chúng tôi luôn ghi nhớ trình độ phát triển của các nước không giống nhau…Chúng tôi không muốn có tình trạng chủ nghĩa thực dân kiểu mới vì các nước nghèo không thể cạnh tranh với các nước giàu. Vì vậy chúng tôi cần thương mại công bằng”.
Tuy quyết định của ông Mahathir là một thất bại lớn (big blow) cho kế hoạch “Vành đai & Con đường” của Trung Quốc tại khu vực, nhưng Tập Cận Bình vẫn phải vui vẻ chấp nhận và tuyên bố “hài lòng sâu sắc” (deeply satisfied) với chuyến thăm của thủ tướng Mahathir. Sau khi lên cầm quyền, ông Mahathir đã quyết đảo ngược các chính sách của Rajib Razak đã làm Malaysia nợ gần 250 tỷ USD do ký nhiều dự án bất lợi và vay Bắc Kinh hàng tỷ USD để cứu quỹ đầu tư nhà nước khỏi phá sản. (Malaysia cancels two big Chinese projects, fearing they will bankrupt the country, Amada Erickson, Washington Post, August 21, 2018).
Tại Philippines, phản ứng trái chiều của dân chúng sẽ xảy ra khi làn gió chính trị đổi chiều, hoặc khi sức khỏe của tổng thống có vấn đề. Duterte có lần thú nhận ông là “tổng thống vịt què” (lame duck president) và “sẵn sàng từ chức” nếu quân đội và cảnh sát tìm được người thay thế. Lào và Campuchia cũng không phải ngoại lệ. Lào đang sa vào “bẫy nợ” của Trung Quốc, với dự án đường sắt cao tốc (trị giá 6 tỷ USD). Tại Campuchia, ngày càng nhiều người bất bình vì Hun Sen cho Trung Quốc thuê cảng Sihanoukville and Koh Kong 99 năm, và một diện tích chiếm 20% bờ biển nước này. Tuy Hunsen đàn áp đảng đối lập và công khai thân Trung quốc, nhưng con trai Hun Sen lại học West Point (chứ không phải Thanh Hoa).
Đa dạng hóa quan hệ
Theo New York Times, các nước châu Á buôn bán với Trung Quôc nhiều hơn với Mỹ (thường với tỷ lệ “hai trên một”). IMF dự báo Trung Quốc có thể trở thành cường quốc kinh tế số một thế giới vào năm 2030. Theo NDS, “Trung Quốc muốn gạt Mỹ khỏi khu vực Indo-Pacific, mở rộng phạm vi mô hình kinh tế nhà nước, và lập lại trật tự khu vực có lợi cho họ... Cạnh tranh kiểu chiến tranh lạnh thường không thấy sự chênh lệch (imbalance) về vùng ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc tại khu vực. Đây là hệ quả do Mỹ đã lỡ bước (missteps) và do chính sách tùy tiện (ad hoc) dựa trên quan hệ song phương của Trump tại Đông Nam Á. (Does China really dominate Southeast Asia?, David Hunt, Asia Times, August 23, 2018).
Theo CNBC (23/8/2018), cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đang leo thang tiếp tục “ăn miếng trả miếng”, đánh thuế 25% số hàng hóa của nhau trị giá 16 tỷ USD, đưa tổng số lên 50 tỷ USD (giai đoạn một, từ 6/7/2018), bất chấp đàm phán đang diễn ra (ở cấp thứ trưởng). Nếu đàm phán lần trước (6/2018) ở cấp bộ trưởng (với phó thủ tướng Lưu Hạc) đã thất bại, đàm phán lần này càng khó thành công. Trump nói ông “không hy vọng nhiều vào đàm phán”. Có nhiều khả năng Mỹ sẽ tiếp tục đánh thuế trị giá 200 tỷ USD (giai đoạn hai, từ 9/2018).
Nếu Trung Quốc vẫn không chịu thay đổi, Trump dọa sẽ đánh thuế trị giá hơn 500 tỷ USD (giai đoạn ba) trên toàn bộ hàng Trung Quốc nhập vào Mỹ năm 2017. Theo Wilbur Ross (bộ trưởng thương mại Mỹ): “Họ sẽ không chịu thua một cách dễ dàng. Dĩ nhiên họ sẽ trả đũa đôi chút, nhưng cuối cùng, chúng ta có nhiều đạn hơn họ. Họ biết điều đó. Nền kinh tế của chúng ta mạnh hơn nhiều so với Trung Quốc, họ cũng biết điều đó”. (CNBC, 23/8/2018).
Theo một báo cáo của Hội Đồng Quan hệ Đối ngoại (Council on Foreign Relations), tuy Mỹ vẫn là đồng minh chính về an ninh của các nước khu vực, nhưng cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đang gia tăng, càng thúc đẩy các nước Đông Nam Á đa dạng hóa quan hệ đối tác chiến lược vượt ra khỏi quỹ đạo với Bắc Kinh hay Washington. Tại Malaysia, sau khi lên cầm quyền, Mahathir quyết định đi thăm Tokyo (chứ không phải Bắc Kinh hay Washington), trong chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của mình. Mahathir có thể quay lại chính sách “Hướng Đông” (Look East), vì ông tin rằng Nhật Bản có vai trò quan trọng hơn tại khu vực này. Đó là quan điểm được nhiều nước khác trong khu vực này chia sẻ (trong đó có Việt Nam).
Quá trình Hán hóa là chiến lược của Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng ra toàn cầu, nhằm cạnh tranh với Mỹ sau khi trỗi dậy thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, thông qua cho vay, đầu tư, xây dựng hạ tầng (theo sáng kiến “Vành đai & Con đường”) và dùng ảnh hưởng văn hóa tư tưởng (như Viện Khổng Tử và “Charm Offensive”). Đó là một loại chủ nghĩa thực dân mới (neo-colonization) dùng “bẫy nợ” thay “ngoại giao pháo hạm”, thường dễ thành công tại các nước có thể chế tương đồng (như độc tài, tham nhũng), nhưng về lâu dài sẽ phản tác dụng khi chủ nghĩa dân tộc và xu hướng dân chủ hóa tại các nước đó trỗi dậy để “thoát Trung”, chống lại sự nô dịch kinh tế và văn hóa (economic and cultural coercion).
Tham vọng Hán hóa nhằm nô dịch về kinh tế và văn hóa có thể thành công tại một số nước, nhưng thực tế chứng tỏ đó là một con dao hai lưỡi, có thể trở thành “gót chân Asin” của Trung Quốc trong quan hệ quốc tế, khi Mỹ triển khai chiến tranh thương mại và chiến lược quốc phòng (NDS) nhằm ngăn chặn Trung Quốc. Xu hướng dân chủ hóa và “thoát Trung” theo chủ nghĩa dân tộc tại khu vực sẽ làm Trung Quốc bị cô lập. Những gì đang diễn ra sẽ làm người Trung Quốc giật mình tỉnh ngộ vì họ đã “ngộ nhận chiến lược”. Đó là một bài học lớn không chỉ cho người Trung Quốc, mà còn cho các quốc gia khác chưa tỉnh ngộ.
Lời cuối
Gần đây, Patrick Cronin (senior advisor, Center for New American Security) đã đưa ra một khái niệm mới để chỉ hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là “insurgency” (bạo động). Theo Cronin, luật pháp quốc tế trên biển có đứng vững được hay không còn phụ thuộc vào lòng tin của người dân được tự do đi lại như thế nào và tới đâu mà người ta muốn trong phạm vi quyền hạn của họ theo luật quốc tế. Mỹ phải tư duy và hành động như “counterinsurgent” (chống bạo động) trên Biển Đông, để phát huy ảnh hưởng của mình trước Trung Quốc là “insurgent” (kẻ gây bạo động) để bảo vệ sự có mặt thường xuyên và liên tục của tàu bè dân sự tại khu vực này. (China is waging a Maritime insurgency in the South China Sea. It’s time for the United States to counter it, Patrick Cronin, National Interest, August 6, 2018).
Theo Cronin, Việt Nam là một đồng minh chủ chốt (key ally) của Mỹ tại khu vực, trong khi Mỹ ủng hộ chủ quyền các nước tại Biển Đông, cung cấp nhiều vũ khí, và coi việc ngăn chặn Trung Quốc là mục tiêu chính. Gần đây, các quan chức cấp cao Mỹ đến thăm Việt Nam ngày càng nhiều, như ngoại trưởng Mike Pompeo (cũng như Rex Tillerson), bộ trưởng quốc phòng Jim Mattis, và Tổng thống Trump (11/2017). Việt Nam vẫn thân thiện với Mỹ và lập trường này chắc không thay đổi… Đáng chú ý là gần đây đã nổ ra nhiều cuộc biểu tình tại Việt Nam để phản đối luật đặc khu kinh tế, định cho nước ngoài thuê đất 99 năm.
Tuy Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Luật An ninh Mạng (12/6/2018), nhưng lại hoãn thông qua Luật ba Đặc khu (ít nhất là đến hết năm). Diễn biến này có thể liên quan đến những gì đang diễn ra tại Bắc Kinh cũng như trong quan hệ Mỹ-Trung, như một “hệ quả không định trước” (unintended consequence). Chắc phải có mối liên quan chặt chẽ giữa mục tiêu chiến tranh thương mại Mỹ-Trung và mục tiêu chiến lược mới của Mỹ (NDS). Nếu Trung quốc giật mình vì bộc lộ “gót chân Asin”, liệu Việt Nam có giật mình tỉnh ngộ hay không?
Nguyễn Quang Dy
--------------
Tham khảo
1. Hitting China’s Wall, Paul Krugman, New York Times, July 18, 2013
2. The Coming Chinese Crackup, Wall Street Journal, March 6, 2015
3. China’s Summer of Discontent, Minxin Pei, Project Syndicate, August 2, 2018
4. Humans are a post-truth species, Yuval Noah Harari, the Guardian, August 5, 2018
5. China is waging a Maritime insurgency in the South China Sea. It’s time for the United States to counter it, Patrick Cronin, National Interest, August 6, 2018
6. Xi Jinping’s Path for China, Stratfor, August 10, 2018
7. Trumps trade war is rattling China’s leaders, Keith Bradsher & Steven Lee Myers, New York Times, August 14, 2018
8. Malaysia cancels two big Chinese projects, fearing they will bankrupt the country, Amada Erickson, Washington Post, August 21, 2018
9. China-US trade war: Vice-President Wang Qishan ‘the firefighter’ might not be sent to front line, Shi Jiangtao, South China Morning Post, August 22, 2018
10. Does China really dominate Southeast Asia? David Hunt, Asia Times, August 23, 2018
11. With a wary eye on China’s maritime expansion, the US is switching up gear in the Indo- Pacific, Emanuele Scimia, South China Morning Post, August 23, 2018
(Viet-studies)
LỜI KHUYÊN CỦA PHẬT
- Ta chỉ biết con người thật của ai đó khi họ có quyền lực trong tay -- Platon .
Người Tây Phương sở dĩ tiến bộ về KHKT và ít bị cai trị bởi chính quyền ĐỘC TÀI và THAM NHŨNG vì họ HOÀI NGHI MỌI THỨ. Họ đòi hỏi phải tự mình chọn người thay mặt mình để lo việc nước, họ không thích để KẺ KHÁC SUY NGHĨ HỘ MÌNH, làm TT có giỏi đi nữa thì cũng xuống (step down) sau hai nhiệm kỳ, v.v... Ngay từ thuở nhỏ, trẻ con đã học tính TỰ LÂP, do vậy đủ 18 t là nó bay đi như CHIM , không có chuyện CON VUA LÀM VUA như VN , v.v...

Cách đây mấy năm, nhân đọc một sách chỉ cách dùng Thiền để trị ung thư, nay tôi trích ra một đoạn - mà tôi thích nhứt để nói lên tinh thần HOÀI NGHI và cũng DÂN CHỦ đã có từ xưa trong đạo Phật.-- Tài .

"KHÔNG tin tưởng vào bất cứ điều gì chỉ vì bạn nghe nói tới điều đó (you have heard it) .
Không tin tưởng vào bất cứ điều gì chỉ vì điều ấy được nói (it is spoken), hay đồn đại (rumoured) bởi nhiều người.
Không tin tưởng vào bất cứ điều gì bởi vì điều đó được viết trong các sách của tôn giáo của bạn (found written in your religious books).
Không tin tưởng vào bất cứ điều gì đơn thuần (merely) vì được nói bởi các sư phụ (teachers) hay huynh trưởng (elders) của bạn.
Không tin tưởng vào những truyền thống (tradition) bởi vì những truyền thống này đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ (have been handed out for many generations).
Nhưng chỉ sau khi quan sát và phân tích, khi bạn thấy bất cứ điều gì hợp với lẽ phải (reason) và điều này dẫn tới (conductive) điều tốt (the good) và ích lợi (benefit) cho mọi người (of all and all/everyone), khi ấy bạn hảy chấp nhận và sống với điều đó (accept and live up to it)".
Nguồn: quyển Mindfulness-Based Cancer Recovery của Linda Carlson, Ph.D., R. Psych và Michael Speca, Psy.D., R. Psych. Lời mở đầu của Zindel Segal, Ph.D. Sách dày 187 trang. Xuất bản năm 2010 bởi Nhà xuất bản New Harbinger Publications, Inc.
Nhận xét: dù Phật sống cách đây trên dưới 2.500 năm (563 - 483 trước công nguyên) nhưng tư tưởng trên đây của ngài rất hợp với tinh thần khoa học ngày nay.
Ba dạng tham nhũng đang gây họa loạn cho xã hội TQ
- Những gì diển ra ở TQ cũng diển ra ở VN vì VN luôn luôn là bản sao của TQ .
Bài viết này là một trích đoạn đã được dịch từ quyển sách mới đây của Larry Lang, một nhà kinh tế Hồng Kông, với tựa đề “Liệu Một ‘Chế Độ Mới’ Có Thể Thay Đổi Trung Quốc?”. Quyển sách được xuất bản vào tháng tư vừa qua.
Nhà kinh tế Hồng Kông Larry Lang trên bìa quyển sách mới nhất của ông “Liệu ‘Chế Độ Mới’ Có Thể Thay Đổi Trung Quốc?” trong đó ông nhìn vào hình thức và quy mô đáng báo động của hiện trạng tham nhũng ở Trung Quốc. (dangling.com)
Nhà kinh tế Hồng Kông Larry Lang trên bìa quyển sách mới nhất của ông “Liệu ‘Chế Độ Mới’ Có Thể Thay Đổi Trung Quốc?” trong đó ông nhìn vào hình thức và quy mô đáng báo động của hiện trạng tham nhũng ở Trung Quốc. (dangling.com)
Chủ đề tham nhũng được đề cập đến ở Trung Quốc hàng ngày. Ở đây tôi sẽ tiếp cận chủ đề này từ một góc độ mới.
Ba vụ tham nhũng đình đám này thể hiện một quy mô tham nhũng đáng báo động ở Trung Quốc. Một là khoản tiền chi trả tăng vọt cho chi phí thăm dò và khai thác dầu khí của Công Ty Cổ Phần Trách Nhiệm Hữu Hạn Dầu Khí Trung Quốc Petro China, từ 162,154 tỉ NDT (26,3 tỷ đôla Mỹ) vào năm 2011 lên đến 240 tỷ NDT (38,93 tỷ đôla Mỹ) vào năm 2013, khi mà mạng lưới tham nhũng của nó bị phanh phui.
Trường hợp khác là của Bộ Đường Sắt dưới thời Lưu Chí Quân, khi mà số lượng các chức vị quản lý chung chung đã tăng lên 400% vào lúc ông ta rút lui.
Ví dụ thứ ba là La Ấm Quốc, Bí Thư Thành Phố Mậu Danh, tỉnh Quảng Đông, người mà đã công khai rao bán các loại chức vụ khác nhau.
I/ Số Lượng Lớn Các Viên Chức Chính Phủ
Tất cả mọi người đều biết rằng trong thập kỷ vừa qua, số lượng các ứng viên cho các vị trí viên chức chính phủ ở Trung Quốc đã tăng lên gấp 11 lần. Vào năm 2003, số lượng các ứng viên vượt qua bài kiểm tra cuối cùng là 1,25 triệu người; tỷ lệ đỗ là 1 trên 23. Vào năm 2013 có 1,52 triệu ứng viên vượt qua bài kiểm tra, và tỷ lệ đỗ là 1 trên 80. Những vị trí được tranh giành nhiều nhất, theo nhân viên điều tra tại Cục Thống Kê Quốc Gia, chi nhánh Nam Xuyên, thì có tỷ lệ đỗ là 1 trên 9.470 người. Thành phần ứng viên chủ yếu là các sinh viên mới ra trường.
Ở Singapore, chỉ có 2% sinh viên ra trường muốn trở thành viên chức chính phủ. Con số này là 3% ở Mỹ, và 5% ở Pháp. Ở Nhật Bản, một công việc chính phủ đứng ở vị trí thứ 53 trong biều đồ tìm kiếm việc làm. Ở Anh, nó nằm trong tốp những công việc tệ nhất. Tuy vậy, ở Trung Quốc, lại có đến 76,4 % sinh viên ra trường muốn trở thành một viên chức chính phủ. Điều này có bình thường không?
Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev đã từng phát biểu rằng: “Hiện tượng các bạn trẻ muốn trở thành công chức là rất đáng lo ngại đối với tôi. Khi một người trẻ tuổi kiên quyết chọn con đường của một công chức, chúng ta phải đặt ra một số câu hỏi. Đây có phải là một công việc danh giá không? Không có vẻ là như vậy. Nó có thù lao lớn không? Điều đó cũng không đúng. Vậy, tại sao họ lại chọn một công việc như thế này? Đó là vì đây chính là con đường nhanh chóng để làm giàu. Do đó, các công việc chính phủ là rất phổ biến ở Nga. Nó chỉ ra rằng nước Nga đang tồn tại một vấn đề tham nhũng nghiêm trọng.”
Một cuộc khảo sát năm 2011 đã chỉ ra rằng hơn một nửa số người độ tuổi từ 18 đến 30 cho rằng việc trở thành một công chức nhà nước là tốt hơn so với trở thành một doanh nhân. Có vẻ như các bạn trẻ ở Nga và Trung Quốc rất muốn trở thành một viên chức chính phủ. Tại sao vậy? Đó là bởi vì hai nước này có tồn tại các vấn đề tham nhũng nghiêm trọng.
Vậy chúng ta nên hiểu và phân tích vấn đề tham nhũng ở Trung Quốc như thế nào? Tôi sẽ đưa ra một khái niệm hoàn toàn mới, trích trong cuốn sách Chế Độ Cũ và Cuộc Cách Mạng, được duyệt bởi Vương Chí Sơn, tổng thư ký của Ủy Ban Giám Sát Kỷ Luật Trung Ương Đảng.
Theo cuốn sách, tham nhũng là một vấn đề rất nghiêm trọng ở Pháp trước cuộc bùng nổ Cách Mạng Pháp năm 1789. Tham nhũng ở đó có thể chia ra làm ba loại: kinh phí, cấp phép, và mua quan bán tước. Ba loại tham nhũng này là rất khác so với cái mà chúng ta thường nghĩ tới; chúng phức tạp hơn rất nhiều. Tôi sẽ giải thích chúng một cách chi tiết sau đây.
II/ Tham Nhũng Kinh Phí
Ở loại hình tham nhũng kinh phí, các quan chức trực tiếp quản lý các dự án xây dựng và từ đó tiến hành việc lạm dụng quyền lực và tham nhũng. Để tôi đưa ra một ví dụ. Vào năm 1789, nợ công của chính phủ Pháp là vào khoảng 4,5 tỷ livres. Các khoản chi trả lãi suất hàng năm là 300 triệu livres. Nhưng thu nhập hàng năm của chính phủ Pháp là bao nhiêu? Nó chỉ có 500 triệu livres. Liệu có thật cần thiết khi vay quá nhiều tiền để xây dựng đường xá và bến tàu vào lúc đó? Không, chính phủ mượn nhiều tiền như vậy bởi vì các quan chức sẽ có thể bỏ túi các khoản tiền hậu thuẫn và chi trả bất hợp pháp từ những dự án này. Họ chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân của riêng họ, chứ không hề cân nhắc đến việc liệu khoản đầu tư của chính phủ có hợp lý hay không.
Điều này có quen thuộc không? Đúng vậy, một số quan chức chính phủ Trung Quốc đã triệt để khai thác loại hình tham nhũng chi phí này. Tôi chia tham nhũng chi phí của các quan chức Trung Quốc ra làm hai loại.
Loại đầu tiên là dựa vào một người trung gian để bỏ túi các khoản tiền. Ví dụ, trong nhiệm kỳ tám năm của cựu bộ trưởng đường sắt Lưu Chí Quân, ông này đã cho thi công hơn 7.000 km đường sắt cao tốc với tổng vốn đầu tư 3 nghìn tỷ NDT (486,6 tỷ đôla Mỹ). Ông đã làm điều đó như thế nào? Từ năm 2007 đến năm 2010, 23 tập đoàn quốc doanh tầm cỡ, thông qua một doanh nhân trung gian, bà Đinh Thư Miêu, đã thu được hơn 50 dự án từ tay ông Lưu. Chính phủ Trung Quốc đã chi tổng cộng 178,8 tỷ NDT (29 tỷ đô la Mỹ) cho những dự án này. Bà Đinh đã kiếm chác 2 tỷ đô la lợi nhuận từ đó, trong đó bà đưa 49 triệu đô là cho ông Lưu. Trong phiên tỏa xét xử ông Lưu vào tháng chín năm 2013, bà giải thích rằng số tiền đó là tiền hối lộ ông Lưu.
Nhóm tham nhũng chi phí loại thứ hai vận hành bằng cách gài tay chân vào những tập đoàn quốc doanh để trực tiếp nhận hối lộ. Ví dụ, khi cựu giám đốc của Ủy Ban Quản lý và Giám sát Tài Sản Quốc Gia , Tưởng Khiết Mẫn, trở thành chủ tịch của Tập Đoàn Dầu Khí Quốc Gia Trung Quốc (TDQTQ), ông đã giao tất cả những vị trí béo bở trong tập đoàn, như là bộ phận thăm dò dầu khí, bộ phận đầu tư nước ngoài và thu mua sáp nhập doanh nghiệp, và bộ phận mua nguyên vật liệu, cho các vây cánh của ông.
Theo các báo cáo truyền thông đưa tin, chi phí đầu tư cho các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí vào năm 2011 của TDQTQ là 162,154 tỷ NDT (26,3 tỷ đô la Mỹ). Vào năm 2012 con số này tăng lên đến 227,2 tỷ NDT (36,85 tỷ đôla Mỹ). và cuối cùng đạt mức 240 tỷ NDT (38,93 tỷ đôla Mỹ) vào năm 2013, khi hệ thống tham những của nó bị phanh phui.
Liệu sự gia tăng chi phí hàng năm có thật sự cần thiết? Bao nhiêu phần trong số chi phí này được sử dụng như là mồi câu cho các hành vi lạm dụng quyền lực?
III/ Tham Nhũng Kiểu Phê Duyệt
Giờ hãy cùng nhìn vào loại thứ hai, loại tham nhũng kiểu cấp phép. Trước sự bùng nổ của Cuộc Cách Mạng Pháp, nhà vua đã gửi 30 thống đốc và tùy tùng của họ đi khắp đất nước để trở thành các nhà quản lý chủ chốt ở địa phương. Điều này có nghĩa là họ đã có được sự phê duyệt của chính quyền. Chính phủ trung ương Pháp đã điều hành mọi mặt của chính quyền địa phương 30 đến 40 năm trước Cuộc Cách Mạng; mọi thứ đều phải đi qua quá trình phê duyệt. Ví dụ, nếu một thành phố tự trị muốn xây dựng nhà thờ, đường xá hay thậm chí là nhà ở tạm, nó phải có được sự phê duyệt của thống đốc, người mà sẽ lợi dụng quyền hành của mình để kiếm tiền hoặc đòi hối lộ cho bản thân. Bây giờ hãy nhìn vào kiểu tham nhũng phê duyệt trong thời kỳ hiện nay tại Trung Quốc. Hãy lấy phó chủ tịch Ủy Ban Phát Triển Và Cải Cách Quốc Gia Trung Quốc (UPCQTQ), Lưu Thiết Nam, làm một ví dụ.
Vào năm 2003, Thành phố Thường Đức thuộc tỉnh Hồ Nam muốn xây dựng một nhà máy điện, nhưng nó không nhận được sự phê duyệt từ phía UPCQTQ, hay nói chính xác hơn, sự phê duyệt của Lưu Thiết Nam. Vào năm 2012 đã không hề có chút hy vọng nào để cho dự án có thể được phê duyệt. Phó chủ tịch tỉnh Hồ Nam đã trực tiếp đứng ra xin dùm mà cũng phí công vô ích. Khi ông Lưu đến thăm tỉnh Hồ Nam cuối năm đó, chủ tịch tỉnh thứ nhất và thứ hai đã đi xin phép, và cuối cùng đã có được sự phê duyệt từ ông Lưu. Sau đó, người ta cần triển khai một nghiên cứu để xem xét tính khả thi của dự án, bao gồm việc lựa chọn dụng cụ, kế hoạch của các kỹ sư, kế hoạch thi công, và kế hoạch kỹ thuật. Bên cạnh đó nó cũng cần đảm bảo sự bảo vệ môi trường và đất đai cần thiết, sự bảo vệ đất và nguồn nước, sự tiếp cận với cây cối, và một nghiên cứu về khoản vay ngân hàng, cũng như các giấy tờ hỗ trợ từ Bộ Tài nguyên và Tài Nguyên, Cục Bảo vệ Môi trường, Bộ Tài nguyên Nước, Tập Đoàn Ngân Hàng và Đường Dây Điện Quốc Gia. Cả quá trình này sẽ tốn khoảng 20 triệu NDT tiền đút lót cho các quan chức lớn nhỏ để hoàn thành dự án nhà máy điện này.
IV/ Mua Quan Bán Tước
Loại tham nhũng thứ ba là việc rao bán các chức vụ trong chính phủ. Lấy Lưu Chí Quân như một ví dụ. Hà Hồng Đạt đã hối lộ Lưu Chí Quân vào năm 1997 để lấy được vị trí thư ký Cục Đường Sắt Cáp Nhĩ Tân. Nhờ vào việc tiếp tục hối lộ mà ông Hà đã ngồi lên chiếc ghế của cục trưởng Cục Đường Sắt Cáp Nhĩ Tân. Vào năm 2004, ông Hà đã được thuyên chuyển đến Cục Đường Sắt Cáp Nhĩ Tân để trở thành giám đốc Khoa Chính Trị. Ông đã hối lộ ông Lưu một khoản tiền tổng cộng là 100.000 đôla Mỹ, và cuối cùng trở thành thân tín của Lưu.
Đó chưa phải hết. Sau khi có chút ảnh hưởng chính trị, Hà Hồng Đạt bắt đầu rao bán các chức vị trong chính phủ để kiếm lời. Từ năm 1997 đến năm 2004, ông Hà đã thăng chức cho sáu nhân viên cấp thấp và cấp trung trong Cục Đường Sắt Cáp Nhĩ Tân. Có một số chức vụ đem lại những khoản tiền béo bở cho ông, như là giám đốc văn phòng Quản Lý Ô tô, cùng các chức vụ khác. Những chức vụ này đã được mua bán vài lần. Ông đã nhận được tổng cộng 14,5 triệu NDT (2,3 triệu đôla Mỹ). Nếu khoản tiền 100.000 đôla Mỹ mà ông Hà hối lộ cho ông Lưu được coi như là “vốn đầu tư ban đầu,” thì ông Hà đã thu lại được 150% khoản vốn hàng năm từ việc mua bán chức vị này.
Để tôi đưa cho bạn vài thông số đáng kinh ngạc khác. Trước khi Lưu Chí Quân giành lấy quyền kiểm soát tại Cục Đường Sắt, thì chỉ có khoảng 500 đơn vị cấp cục. Khi ông Lưu bước xuống, đã có đến tận 2000 đơn vị.
La Ấm Quốc, Bí Thư thành phố Mậu Danh, đã rất lộ liễu khi rao bán các chức vị trong chính phủ với các mức giá khác nhau; 200.000 NDT (32.440 đôla Mỹ) cho chức vụ kỹ thuật; 2 triệu NDT (324.400 đôla Mỹ) cho chức vụ cấp phòng ban; 10 triệu NDT (1,6 triệu đôla Mỹ) cho chức vụ phó bí thư, cùng với các chức vụ khác. Ông La thậm chí còn đặt giá cho chức vị của chính mình: 100 triệu NDT (16,2 triệu đôla Mỹ). Sau sự sụp đổ của La Ấm Quốc, 303 quan chức chính phủ khác đã bị liên can. Một báo cáo đã nói rằng ông La đã nhận được tiền hối lộ lên đến con số 70 triệu NDT (11,3 triệu đôla Mỹ). Tôi tin rằng con số thực tế là lớn hơn, lớn hơn rất nhiều.
Việc rao bán chức vị chính phủ để kiếm tiến nên được đối phó một cách nghiêm túc ở Trung Quốc. Một khi loại hình tham nhũng này trở thành một chuỗi dây chuyền công nghiệp, nó sẽ trở thành một mô thức của cả hệ thống. Các quan chức tham nhũng vì thế sẽ có mặt trong tất cả các chức vụ và phòng ban, với lượng thu chi và kiểm tra đều sẽ bị bóp méo bởi nạn tham nhũng. Còn hậu quả gì nữa, nạn tham nhũng của việc rao bán các chức vị trong chính phủ sẽ gây hại cho sự phát triển của toàn thể đất nước.
Larry Hsin Ping Lang là một nhà kinh tế, một nhà bình luận, tác giả và người dẫn chương trình nổi tiếng ở Hồng Kông.
Dịch bởi John Wang và Frank Fang. Hiệu chỉnh bởi Gisela Sommer
Theo vietdaikynguyen