Tuesday, June 17, 2025

XẠ THỦ ĐẠI LIÊN SỐNG SÓT NHỜ VĂN HÓA CỦA BỘ LẠC MÌNH


TƯỢNG CÁC THIÊN THẦN MŨ ĐỎ TẠI NHÀ TƯỞNG NIỆM CỦA BINH CHỦNG NHẢY DÙ MỸ ĐÃ THAM CHIẾN TẠI VN.


Pháp sư Goerge Catlin, đang tiến hành các nghi lễ.

Dịch từ bài của Thomas Brading, đăng ngày 2/12/2019 trên Army News Service. 

LỜI NÓI ĐẦU: Thời gian qua tôi đã dịch nhiều bài về chiến tranh, nhưng bài sau đây đượm màu sắc tâm linh, khi một xạ thủ đại liên, gốc dân bản địa Mỹ, nhờ mang 1 túi  đựng thuốc lá bằng da nai -- mà theo văn hóa bản địa, có thể giúp người đeo nó vượt qua khó khăn nguy hiểm. Đúng như vậy, vào năm 1966, tại Chiến khu C, trong một trận đánh có lẽ cấp trung đội (vì do 1 trung úy chỉ huy), nhờ đeo túi này, nên xạ thủ này đã thoát chết. 

"Với dân tộc tôi, mỗi người đều nghĩ rằng nếu chúng tôi được kêu gọi chiến đấu cho xứ sở của chúng tôi (ý nói nước Mỹ), chúng tôi sẽ chiến đấu - ko cần biết đất nước của chúng tôi đã đối xử với chúng tôi như thế nào trong quá khứ," xạ thủ Wensaut nói.

VC, nói rất ít tiếng Anh, đã chế giễu (taunt) lính Mỹ. Từ mọi hướng, họ vừa cười vừa cùng đồng ca, "Tonight GI, you die! (Lính Mỹ sẽ chết tối nay), và bao vây con mồi. 
Ở giữa sự hỗn loạn này, Wensaut nhớ lại, ông nhìn lên trời và cầu nguyện, "Đừng để tôi chết ở đây." Vì ông ko muốn Darlene, bạn gái, trở thành quả phụ.
Sau đây là phần chuyển ngữ.
===

"Ernie Wensaut, 1 cựu xạ thủ đại liên của lục quân Mỹ của sđ 1 bộ binh, ra đời trong 1 gia đình thuộc bộ lạc Potawatomi, trên khu đất dành riêng (reservation) cho bộ lạc thuộc bang Wisconsin.

Ông nhớ lại, từ lúc nhỏ đến khi trưởng thành, mỗi năm đều có những nghi lễ bản địa tổ chức cho mỗi mùa đi qua. 

Các nghi lễ thường bao gồm tiếng trống bập bùng với những điệu nhảy múa. Các thành viên bộ lạc thường dùng những nghi lễ này như một sự công bố cho di sản và tín ngưỡng của họ. 

Wensaut được cha ông, một pháp sư, đặt tên "Wimigo" theo phong tục bản địa. Nói thêm: Pháp sư, xem hình, (medicine man) -- là một người mà bộ lạc tin rằng có khả năng chẩn đoán và trị các bịnh về thể chất và tâm thần. Họ thường mang theo 1 bộ đồ nghề để trị bịnh, nhưng đôi khi họ cũng dùng phương pháp tâm linh -- ND. 

Pháp sư George Catlin, Gấu Già,
 tranh vẽ trên vải bạt năm 1832.
Pháp sư George Catlin, tiến hành các nghi thức 
đối với người sắp chết, vẽ trên vải bạt năm 1832.

"Các nghi lễ giúp chúng tôi nối kết với bộ lạc, và nguồn cội gia đình (family root) của chúng tôi," ông nói. "Mỗi gia đình có 1 cái trống dành riêng cho tổ tiên của họ."

Gia phả (family linage) của Wensaut kéo dài vài trăm năm, với thân nhân từng chiến đấu bên cạnh các nhân vật lịch sử của người Mỹ bản địa như Chim ưng Đen, một chiến binh tù trưởng của bộ lạc Sauk. 

" Với dân tộc tôi, mỗi người đều nghĩ rằng nếu chúng tôi được kêu gọi chiến đấu cho xứ sở của chúng tôi (ý nói nước Mỹ), chúng tôi sẽ chiến đấu - ko cần biết đất nước của chúng tôi đã đối xử với chúng tôi như thế nào trong quá khứ," Wensaut nói. "Tôi hãnh diện đã chiến đấu cho đất nước mình."

Cũng nhờ văn hóa bản địa Mỹ, ông nói, đã giúp ông sống sót trong chiến tranh VN.

Nhập ngũ vào Lục quân từ 1966, ông biết sẽ đến VN chiến đấu. Trước khi ông rời bộ lạc, họ đã tổ chức 1 nghi lễ và tặng ông 1 túi đựng thuốc lá bằng da hoẵng (buckskin), xem hình, và cha ông nói, "Hãy mang nó, sẽ giúp con vượt qua khó khăn (it'll see you through).                             

Ông đã giữ túi này bên mình trong 1 năm chiến đấu ở VN, và trải qua nhiều lần suýt chết (close call) trong chiến đấu.

Trước khi rời Mỹ, ông yêu cầu bạn gái, Darlene, xem hình, chờ ông. Nàng đồng ý, và cặp đôi dự định đám cưới khi ông về.             

Tháng 10/1966, Wensaut theo đv tới Chiến khu C, xem bản đồ, tại nam VN, một vùng núi rừng biên giới Cam-bốt, nổi tiếng vì một tập trung cao độ của đối phương ẩn nấp khắp nơi trong những khu rừng ko lối đi và đầm nước lầy lội (boggy swamp).       

CHIẾN KHU ĐÁNH DẤU BẰNG VÒNG TRÒN XANH DƯƠNG 


ÁC MỘNG TRONG RỪNG

Những người lính của sđ 1 bộ binh -- đôi khi được gọi là Anh Cả Đỏ (Big Red One), vì có số 1 màu đỏ trên lá cờ, xem hình -- ND. Họ thường tuần tiểu lúc gần trưa (around noon), khi mặt trời - như nhiệt độ - ở cao điểm. Trong rừng, nhiệt độ và ẩm ướt thường khoảng 100 độ F.


Lính mang tới 60 cân Anh, khoảng hơn 27 kí, quân trang quân dụng, riêng âm thoại viên (ATV) và xạ thủ đại liên, như Wensaut còn mang nặng hơn. (ATV mang máy ANPRC-25, nặng 23 cân hay 10.4 kí; nếu kèm phụ tùng và pin dự phòng, máy có thể nặng tới 40 cân hay 18.1 kí; còn xạ thủ ngoài khẩu M-60, nặng khoảng 10.4 kí, còn mang theo vài dây đạn. Theo tổ chức của QĐ Mỹ, kể cả TĐ trưởng cũng tự mang ba-lô và M-16 -- ND).  Sau 1 thời gian, bộ đồ trận láng cóng (crisp), màu olive của họ bắt đầu phai màu và thường đẫm mồ hôi (sopping wet from sweat). 

Dù nhiều người lính Mỹ chỉ mới chiến đấu vài tuần, ông nói. (Nói thêmtrong khi bộ đội VC hay CSBV, họ đi lính tới chết hay khi hết chiến tranh, riêng sq của họ có người đi lính trước 1954 như các tướng Hoàng Minh Thảo, Nguyễn Hữu An, v.v..., do đó họ dày dạn kinh nghiệm -- ND). Nhưng chẳng bao lâu người lính đối diện nguy hiểm -- cũng như sốc nhiệt, muổi mòng, vắt đỉa, mất nước, và mệt mỏi.

Đối phương có thể chỉ cách họ vài mét, hoàn toàn che khuất bởi lá cây rừng, ông nói. Rất khó cho toán tuần tiểu của ông thấy kẻ thù. VC cũng dùng những đường hầm phức tạp để đi lại, và các loại bẫy khác nhau, như chông có tẩm chất độc (punji), xem hình -- để chống lính Mỹ.


Khi tuần tiểu, người lính luôn luôn ko dùng đường mòn. Có nghĩa họ phải dùng dao rựa và vất vả (tediously) phát cây rừng rậm rạp.

Cho tới 1 ngày, khi trung úy của họ -- mới ra trường -- để tiết kiệm thời gian, đã dùng 1 đường tắt dọc theo đường mòn.

Ông này mới đến VN vài tuần, như Wensaut. 

Dù Wensaut nghi ngờ, ông vẫn theo lịnh. Lúc đầu khu rừng im lặng, trừ tiếng ồm ồm của nhái và tiếng líu lo của chim văng vẳng từ xa.

Tuy nhiên, khi lính tới 1 ngã ba (fork) trên đường mòn ... ác mộng đã bắt đầu, ông nói. Đạn liên thanh bắn ra từ mọi phía.

Đúng là điều ông đã lo sợ -- họ đã sập bẫy. Vài người lính, đi đầu của toán, đã chết lập tức. Những kẻ khác ngả xuống, nhăn nhó với vết thương.

"Tôi ko biết có bao nhiêu VC ở đây", Wensaut nói. "Mọi việc xảy ra trong giây lát."

Gần như phản xạ, lính Mỹ đã bắn bừa bải vào rừng, ông nói. Họ đã ko thấy kẻ thù, và trở thành mục tiêu cho đối phương. Ông đã ném rất nhiều lựu đạn, hy vọng họ sẽ ko thể tới gần.

VC -- nói rất ít tiếng Anh -- đã chế giễu (taunt) lính Mỹ, ông nói. Từ mọi hướng, họ vừa cười vừa cùng đồng ca, "Tonight GI, you die! (Lính Mỹ sẽ chết tối nay), và bao vây con mồi. 

Suốt trận đánh, ông nghe vị trung úy mặt mủi non-choẹt (fresh-faced) cầu cứu qua máy truyền tin. Tay của trung úy đầy thương tích và gần như bị cắt cụt, nhưng trung úy vẫn có thể gọi cứu thương.

Trong khi đó, Wensaut và một phụ xạ thủ khác, binh nhứt Regan -- chăm sóc thương binh (triage mode).

Hai người kéo 1 trung sĩ bị thương, đạn xuyên ngực, về phía sau và dấu y trong bụi rậm.

Ở đó, họ bắt đầu băng bó (patch) cho vị hạ sq này. Dù được băng bó, trung sĩ cần tản thương.

Một lát sau, 1 trực thăng tải thương, bay ầm ỉ (whir) trên ngọn cây. Y tá của trực thăng thả rổ cứu cấp để đưa người chết và bị thương lên máy bay. Dù được đánh dấu rõ ràng bằng chữ thập đỏ trên nền trắng, nhưng trực thăng vẫn bị bắn.

Ở giữa sự hỗn loạn này, Wensaut nhớ lại, ông nhìn lên trời và cầu nguyện, "Đừng để tôi chết ở đây." Vì ông ko muốn Darlene trở thành quả phụ.

Sau khi tản thương thất bại, trung úy gọi không kích. Trên trời, phản lực cơ chiến đấu gầm thét. Họ trải thảm khu vực bằng bom với những chùm giống con bướm.

"Giống như pháo nổ mọi nơi", Wensaut nay. Dù bị bom chùm, đối phương vẫn lì lợm cố thủ nhờ cây rừng che phủ, Và chỉ 1 lát sau, máy bay khác xuất hiện. Mắc kẹt giữa hỏa lực kẻ thù và không kích, lính Mỹ chỉ có cách nằm mẹp xuống (hunker down) một bờ mương.

Các phản lực cơ gầm thét xuyên đám mây và lao vút (swoop down) xuống chiến trường. Từ những máy bay này, một loạt 10 quả bom xăng-đặc được ném ra. Mỗi quả tạo ra đám lửa, nóng như hỏa ngục, cao khỏi cây rừng.

Trong khi bom xăng đặc nướng chín (sear) cây rừng, một loạt phản lực cơ khác xuất hiện để hoàn tất công việc. Chúng rảy đạn từ đại bác nhiều nòng với tốc độ nhanh như chớp. Sau đó mọi sự trở nên im lặng. 

Sau khi im tiếng súng, người chết và bị thương được chở đi. Chỉ có ba xạ thủ đại liên, bao gồm Wensaut thì vô sự (unscathed). 

" Mọi người đều sợ chết, nhưng sau vài trận, họ bắt đầu dạn dĩ hơn", ông nói.

"Điều thật sự tác động tôi là những đồng đội. Tôi đã chia ngọt sẻ bùi với họ, nhưng tuần tới họ có thể tử trận."

Như mọi người trông đợi, các chiến sĩ mới -- dễ nhận ra với đồ trận láng cóng -- đến đv để thay thế những kẻ đã chết vào ngày đó trên đường mòn.

Trong 11 tháng sau, Wensaut đã dự nhiều nhiệm vụ lùng và diệt khắp chiến khu C.

Ông đã dự HQ Cedar Falls và Shenandoah, nhưng thừa nhận, "Tôi ko nhớ hết những trận mà tôi dự, nhưng sđ 1 bộ binh đi tới đâu là tôi có mặt ở đó./."

Nguồn: Native American, Vietnam gunner lives by warrior culture

SJ ngày 19/6/25.

 Native American, Vietnam gunner lives by warrior culture

By Thomas Brading, Army News ServiceDecember 2, 2019

                   


Wensaut Marriage


FORT MEADE, Md. -- Ernie Wensaut, a former Army machine gunner for the 1st Infantry Division, was born in a traditional Potawatomi tribal family home, on their reservation in Wisconsin.

Growing up, he remembers native ceremonies held for each passing season.

The ceremonies often integrated beating drums with a lot of dancing, he said. The tribal men used the rites as a declaration of their heritage and beliefs.

Wensaut was given the native name "Wimigo" by his father, a traditional medicine man, he said.

"Ceremonies help us stay in touch with our tribe, and our family roots," he said. "Each family has a drum dedicated to their ancestors."

Wensaut's family lineage dates back hundreds of years, with relatives who fought alongside historic Native American figures such as Black Hawk, a war chief of the Sauk American Indian, he said.

"With my people, it is expected that if we're called to fight for our country -- we fight -- no matter how our country treated us in the past," Wensaut said. "I'm proud to have fought for my country."

It was also his Native American culture, Wensaut said, that helped him survive the Vietnam War.

Drafted into the Army in 1966, Wensaut knew war was imminent. Before he left, the tribe had a ceremony and he was given a buckskin tobacco pouch and his father said, "Carry this, it'll see you through."

Wensaut held his pouch close during his year-long combat tour in Vietnam, and experienced many close calls in battle.

Before he left, he asked his girlfriend, Darlene, to wait for him. She said yes, and the couple planned to marry after he returned.

In October 1966, Wensaut deployed to War Zone C in South Vietnam, a mountain region near the Cambodian border known for its high concentration of enemy forces hidden throughout its pathless jungles and boggy swamps.

NIGHTMARE IN THE JUNGLE

The Soldiers of the 1st Division -- sometimes called The Big Red One -- usually patrolled around noon, he said, when the sun -- like the temperature -- was at its highest point. In the jungle, the temperature and humidity were both usually around 100 percent.

The men carried upwards of 60 pounds of gear, with additional weight carried by radio operators and machine gunners, like Wensaut. After a while, their crisp, olive-drab fatigues started to fade and were usually sopping wet from sweat.

Although the Soldiers were only a few weeks into their combat tour, he said, they would soon face danger -- and not just from things like sun stroke, mosquitoes, dehydration, leeches, and fatigue.

Enemy forces could be just a few yards away, completely veiled in jungle foliage and you'd never know, Wensaut said. It was hard for his patrol to see the guerilla fighters. The Viet Cong also used intricate underground tunnels to travel, and booby traps -- called punji spikes -- against their American foes.

"It felt like the Viet Cong were everywhere we turned," he said.

While on patrol, the Soldiers followed a basic principle: never take the jungle trails, he said.

This meant if they had to use machetes and tediously hack through the thick, nearly impenetrable jungle floor, they did.

Until one day, when their lieutenant -- fresh from college -- tried to save time, he said.

The young officer -- who, like Wensaut, had been in Vietnam only a handful of weeks -- hoped to take a short cut along the trail.

"Being caught on a jungle trail was the easiest way to be ambushed," Wensaut said.

Although Wensaut was suspicious, he followed the officer's orders. At first, everything was calm. The only exception to the silence came from ambient noises of the jungle -- like tree frogs croaking or tropical birds chirping in the distance, he said.

However, when the Soldiers came to a fork in their trail … the nightmare started, Wensaut said. Without warning, cracks of machine-gun fire tore through the air from all directions.

It was what Wensaut feared -- they walked into a death trap. A few Soldiers -- toward the front of the patrol -- were killed instantly. Others fell over clutching onto their wounds, he said.

"We didn't know how many VC were even out there," Wensaut said. "It was all happening within seconds."

The Americans fired aimlessly back into the jungle, almost reactionary, he said. They were unable to see the enemy, let alone target any of them. Wensaut lobbed multiple grenades, hoping to keep them at bay -- wherever they were.

The VC -- who spoke little English -- taunted the surviving Soldiers, Wensaut recalled. From all directions they chanted in chorus, "Tonight GI, you die!" with laughter, and circling their prey.

Through the gunfire, their fresh-faced lieutenant was heard pleading for help over the radio, Wensaut said. His arm was riddled in wounds and nearly amputated, but he was able to call in medical support.

Meanwhile, Wensaut and another assistant gunner -- a Texan named Pvt. Regan -- were in triage mode. The gunners pulled a wounded sergeant, shot through the chest, from the line of fire and concealed him in the bush.

There, they started to patch the non-commissioned officer up, but he needed to be stabilized. Although bandaged, the sergeant required a medical evacuation.

Shortly after, a medevac chopper was whirring overtop the trees. Medics tried lowering a rescue basket down to collect the killed and wounded. Although clearly marked with four bright red crosses overtop a white background -- a symbol of non-combative activity -- the medics also took ground fire, he said.

In the midst of the chaos, Wensaut recalled, he looked toward the sky just beyond the jungle canopy, and prayed to himself, "Don't let me die here." After all, he had Darlene waiting to marry him in Wisconsin.

After the medical evacuation failed, the lieutenant called in an air strike. From the sky, fighter jets screamed toward the battlefield. They carpeted the area with small butterfly-style cluster bombs.

"It was like firecrackers going off everywhere," Wensaut said.

After the cluster bombs, their hidden enemy persisted and shortly after, more air power came roaring in. Stuck between firefight and air power, all the Soldiers could do was hunker down into an embankment, he said.

The jets roared through the clouds and swooped down into the battlefield. From those jets came a trail of 10 massive napalm canister explosions. Each one ignited on impact, and caused an inferno burn into the sky, taller than the trees.

As the napalm seared the jungle, another wave of F-16s plunged into the fight to finish the job. They sprayed rounds from their rotary cannons at lightning speed. After that, things went quiet again.

"We waited and waited… but, that seemed to be it," Wensaut said. "It was over, for that day at least."

As the dust settled, the dead and wounded were evacuated. Only three gunners, including Wensaut, walked away unscathed. The battle was only a taste of what his year-long combat tour would be.

"Everybody had fear in them, but after a battle or two, we started to get hardened," he said.

"War affects you, but what really affected me were the men we were losing. The guys you got to know and become friends with, then the next week they're gone."

As expected, new Soldiers -- identifiable by their crisp, new fatigue uniforms -- rotated in to replace the fallen Soldiers after that day on the trail.

In the 11 months that followed, Wensaut was part of multiple search and destroy missions throughout War Zone C.

He fought in Operation Cedar Falls and Operation Shenandoah, but admits, "I was in more battles than I can remember, because wherever the first division was, I went."

NO HERO'S WELCOME

Back in the United States, Darlene waited patiently for Ernie to come home. But, as the nightly news started airing images of the war into living rooms across the country, waiting became difficult.

"Watching the news was really scary," she said. "I never knew if he was okay or not."

She sent Ernie multiple letters and care packages. He was usually in the field, and rarely had time to respond. One of her care packages was even returned, she said, covered in mold.

An antiwar movement swept the country, he said, but those feelings never extended to Wensaut's native tribe. They viewed him -- and every veteran -- as a warrior, who was called to fight for his country, and bravely answered the call.

Wensaut didn't receive a "hero's welcome" by his country, when he returned in 1967. He flew into California at night to avoid protesters who notoriously spit on, yelled at, and called Soldiers names, he said.

The only title Wensaut cared about was "survivor."

On the other hand, his tribe in Wisconsin honored him as a warrior. His dad hosted a ceremony to welcome him home. During it, he was brought to the front of the tribe -- a location reserved for warriors of the highest honor.

"They honored veterans in my community," he said, "All tribes still hold their respect of veterans very high."

Wensaut and Darlene were married on Nov. 11, 1967, at his Potawatomi reservation in Wisconsin. They recently celebrated 52 years together and have two children.

Wensaut separated from active duty after he completed his enlistment. He spent the following decades working in construction, logging, and mills.

Today, he's retired and enjoys deer hunting and says he is proud to be a Soldier for life.


Related Links:

Army News Service


Soldiers magazine features


Army.mil: American Indians in the U.S. Army


Army.mil: The Army Values

Monday, June 16, 2025

NGÀY GIỔ CỦA TRUNG ĐOÀN 7 SƯ ĐOÀN 4NGÀY ĐỊNH MẠNG CỦA TRUNG ĐOÀN 7 SƯ ĐOÀN 5 BỘ BINH VNCH.  

HÌNH 1

HÌNH 2 
HÌNH 3
HÌNH 4
Hình 5
HÌNH 6
HÌNH 7
HÌNH 8
 HÌNH 9. Bản đồ các CCHL của Mỹ:  BIG722400X2400FSBS.jpg (2400×2400)

Tôi viết bài này với đam mê về khảo cổ vì ko muốn trận đánh hay cuộc thảm sát này chìm vào quên lãng, dù chỉ xảy ra chưa tới 60 năm. Ngày 27/11/1965 là ngày giỗ của trung đoàn 7 sđ 5 bộ binh VNCH. Tôi có nhiều bạn thuộc sđ 5, có người từng là đại đội trưởng trinh sát, nhưng vì nặng trĩu buồn phiền nên họ ko muốn viết hồi ký. 

- Ngày hôm đó, BCH của trung đoàn 7 và TĐ 1/7, bao gồm tất cả bảy cố vấn Mỹ đi kèm, bị tiêu diệt hoàn toàn chỉ trong tám giờ tại một nơi trong đồn điền Michelin và cách Dầu Tiếng vài dặm về phía đông bắc, xem bản đồ. Thiệt hại của quân bạn ngày đó là 249 chết, 213 bị thương và 140 mất tích. 

Theo Thiếu úy Nguyễn văn Khôi (tiền sát viên của TĐ 5 pháo binh, đi theo TĐ 2/7): ngoài trung đoàn trưởng (trung tá Nguyễn văn Tư) còn có trung đoàn phó, sĩ quan ban 2 và ban 3, trung úy y sĩ trưởng Nguyễn văn Nhứt, đại úy Giỏi sq liên lạc pháo binh làm việc tại BCH trung đoàn và nhiều sq, hạ sq, và binh sĩ tử trận -- ND.

Cũng theo thiếu úy Khôi, ước tính trong trận có khoảng 800 quân nhân tử trận. Lý do: có nội tuyến - tên này là trung sĩ ở ban truyền tin sđ, do đó bao nhiêu lệnh lạc đều bị VC biết trước. Theo thiếu úy Khôi, trung đoàn 7 với TĐ 2/7 đi đầu, đã tiến từ Bến Cát đến Dầu Tiếng, sau đó  TĐ 2 ở lại Dầu Tiếng nghỉ ngơi làm trừ bị vì đã đi đầu, còn bao nhiêu tiến về Làng 13 bis thuộc đồn điền Michelin -- ND.

Nói thêm về TĐ 1/7: Trước trận này, trong trận Đồng Xoài tháng 6/1965, TĐ đã bị thiệt hại nặng ngay sau khi đổ quân vì VC giả dạng thường dân chờ họ ở bãi đổ quân. Tháng 12/1974, TĐ lại bị thiệt nặng khi bảo vệ tỉnh lỵ Phước Long và sau đó tan hàng tại Truông Mít gần Dầu Tiếng tháng 3/1975 -- ND)       

Sau đây là phần chuyển ngữ.

PHẦN I 

LỜI NÓI ĐẦU: Ngày thứ bảy 27/11/1965, một trung đoàn tăng cường (quân số nhiều hơn 1 trung đoàn bình thường) của quân CSBV đã tấn công và tiêu diệt trung đoàn 7 sđ 5 bộ binh VNCH trong đồn điền cao su Michelin cách Dầu Tiếng (tỉnh Bình Dương) của nam VN vài dặm về phía đông bắc. Trước đó, trung đoàn VNCH này đã cố gắng tìm và diệt các thành phần của sđ 9 tân lập của CSBV đang hoạt động trong khu vực. Sư đoàn này gồm các trung đoàn 271, 272, và 273 của Lực lượng Võ trang Giải phóng miền Nam, viết tắt theo tiếng Anh là PLAF, lấy từ các lực lượng VC địa phương. (Nói thêm: Trong trận Bình Giả cuối năm 1964 và đầu năm 1965, trung đoàn 271 và 272 đã dự trận, như đã kể trong bài mới đây. Sau này do quân giải phóng miền Nam chết nhiều, họ được thay thế bởi quân CSBV, viết tắt theo tiếng Anh là PAVN, dù danh xưng vẫn là Lực lượng Võ trang Giải phóng miền Nam -- ND).  

Trận đánh bắt đầu vào sáng sớm và kéo dài 8 tiếng đẫm máu. Bảy cố vấn Mỹ tử trận và trung đoàn VNCH này đã hoàn toàn bị quét sạch

NỘI DUNG CHÍNH: Đồn điền Michelin này là đồn điền cao su lớn nhứt nam VN. Nó bao phủ 31.000 acre (mỗi acre bằng 4.046,86 mét vuông) hay 125 km2 của tỉnh Bình Dương và nơi ở của hàng trăm công nhân, sống rải rác trong 22 ấp của đồn điền. CS đã duy trì một hiện diện mạnh mẻ ở đây. Đồn điền là một nguồn thuế lợi tức đáng kể cho chính quyền nam VN, nhưng cũng chịu thuế của VC. Vào tháng 10/1965, Ban Giám đốc của đồn điền đã ko chịu đựng nỗi đòi hỏi tài chánh của VC địa phương, và nghĩ rằng ko còn lợi nhuận khi khai thác đồn điền. Do đó họ ko trả thuế cho VC.

Để trả đũa, VC dùng súng ko giựt (SKZ) 57-ly bắn vào nhà của viên quản lý. BGĐ và quản lý ngừng mọi hoạt động, bay về SG và yêu cầu chính phủ can thiệp. Họ cũng lo lắng khi để hàng trăm công nhân thất nghiệp và lợi tức cạn kiệt.

Chánh phủ VNCH, trợ giúp bởi BTL quân viện Mỹ tại VN, viết tắt là MACV, đã giao trách nhiệm cho trung đoàn 7 của sđ 5 VCNCH và sđ 1 bộ binh Mỹ phải mở đường vào đồn điền, quét sạch VC và tái lập trật tự và an ninh.

Tháng 11 1965, QL/VNCH và lục quân Mỹ đã lần lượt tiến hành các nỗ lực bình định có tên là XÂY DỰNG 10 và 11, và cuộc hành quân (HQ) BUSHMASTER 1. Các HQ này đã thành công và chánh phủ đã quyết tâm tận dụng (capitalize) những thành tựu và mở rộng những nỗ lực này vào khu vực xung quanh, đặc biệt vùng đất cao dọc theo sông SG. 

Ngày 26/11, các TĐ 1, 3, và 4 của trung đoàn 7 VNCH bắt đầu rời quận lỵ Dầu Tiếng, hướng về núi Cầu Cống, ở phía tây của đồn điền. Họ định sẽ khai thác kết quả ném bom của B-52, dự trù diễn ra sáng ngày kế. TĐ 2 của trung đoàn, cùng với một TĐ BĐQ, một pháo đội, và một chi đoàn thiết vận xa M-113 được dùng làm trừ bị. Chiều hôm đó, trung đoàn trưởng, chia cắt lực lượng, bằng cách gửi TĐ 3 đi trước trung đoàn. Các TĐ đã nghỉ qua đêm trong vị trí phòng thủ ở Ấp Nhà Mát, và chuẩn bị sẽ di chuyển khi trời sáng. Nhưng kế hoạch của họ đã bị gián đoạn lúc bình minh, khi 1 trung đoàn tăng cường của CS đã mở các cuộc xung phong riêng lẻ nhưng phối hợp vào BCH của trung đoàn, hai TĐ chánh quy và TĐ 3. 

Hỏa lực dữ dội của cối, súng đại liên và các xung phong biển người đã gây tác hại lớn lao. VC đã rút kinh nghiệm cay đắng rằng họ phải bám sát đối phương để giảm thiểu tối đa tác động của phi pháo Việt-Mỹ. Chiến thuật này có hiệu quả. TĐ 4 đã bị cắt làm hai: khoảng phân nửa bị giết và phân nửa kia, bao gồm cố vấn Mỹ, bị thương. Riêng TĐ 3, theo kế hoạch sẽ dụ đối phương vào bẫy, cũng bị thiệt hại khủng khiếp. Ba trong số bốn cố vấn bị thương. Chỉ có 45 người của TĐ 3 vô sự, bao gồm cố vấn thứ 4. BCH trung đoàn và TĐ 1, bao gồm bảy cố vấn đi kèm, đã hoàn toàn bị tiêu diệt (annihilate). Thiệt hại quân bạn ngày đó là 249 chết, 213 bị thương và 140 mất tích. (Để so sánh, trong 10 ngày từ 28/12/64 đến 6/1/65 tại mặt trận Bình Giả mà chiến tuyến kéo dài hàng chục km, quân VNCH chỉ chết 201, 192 bị thương, 68 mất tích. Mỹ có 5 chết, 8 bị thương, 3 mất tích hay bị bắt -- ND).

Tiểu sử của 7 cố vấn Mỹ tử trận:

1/ Thiếu tá Guy McCarey, Jr, toán cố vấn 70 của MACV. 

2/ Đại úy James McNeely, cũng thuộc toán 70, từng là trung đội trưởng thiết giáp và phục vụ nhiệm kỳ thứ 2 ở VN. Khi chết để lại ngoài 6 con; vợ đang có bầu sanh đôi. 

3/ Thiếu úy Carl Gray, toán 79, từng học tiếng Lào trước khi tình nguyện sang VN phục vụ Lực lượng Đặc biệt (LLĐB). 

4/ Thượng sĩ (sergeant first class) Phillip Vander Weg, cùng toán 70, từng ở Toán Nhảy dù biểu diễn Golden Knights của lục quân; để lại 1 vợ 3 con. (Thượng sĩ trên trung sĩ nhất (staff sergeant) nhưng dưới thượng sĩ nhứt (master sergeant) -- ND. 

5/ Trung sĩ William Crisman, cùng toán 70, vào lính 4 năm. Đến VN chỉ 5 tuần trước khi chết; để lại 1 vợ và 1 con trai.

6/ Binh nhất John Grasso, thuộc phòng giao tế dân sự hay thông tin báo chí của MACV, cũng là âm thoại viên. 

7/ Binh nhất Lester Kersten, cùng toán 70, là âm thoại viên.

Sau này được biết, quân tấn công là 1 trung đoàn tăng cường thiện chiến của CSBV. Dù quân số chủ yếu là VC, trung đoàn này cũng bao gồm những cựu chiến binh dày dạn (seasoned) với vũ khí mới nhứt của LX

Trong khi đó, quân nam VN, được đào tạo để chiến đấu chống lại một đội quân nghèo nàn với những người lính ko chính quy, huấn luyện sơ sài và quân nam VN được trang bị vũ khí cũ của quân Mỹ thời đệ nhị thế chiến. Do vậy những ai nghĩ rằng trung đoàn CS này không là đối thủ của quân đội Việt-Mỹ là nói ko đúng với thực tế.  (understatement). 

Chuyển ngữ từ: Week of November 27, 2022 | Vietnam War Commemoration

PHẦN II

Nhiếp ảnh gia Horst Faas tháp tùng quân tiếp viện Nam VN tới nơi trung đoàn VNCH bị tàn sát tại 1 đồn điền cao su 45 dặm bắc của SG. Sau đây là bài của ông.

"DẦU TIẾNG, Việt Nam-(AP) Trung đoàn 7 của Nam VN đã bị xóa sổ lúc 8 g ngày thứ bảy.

Cố vấn trưởng của trung đoàn đã chết tại đồn điền cao su Michelin mênh mông này sau khi cố gắng trong vô vọng để đẩy lui các đợt xung phong của lính CS xuyên qua rừng cao su.

Phần lớn các người lính VN, cùng với cố vấn Mỹ, đã chết đấu tới viên đạn cuối cùng.

Ông này đã được tìm thấy vào ngày chủ nhật, chết sóng soài bên cạnh 1 hố chiến đấu. Vị trung đoàn trưởng cũng nằm chết gần đó. Lúc 7 g sáng thứ bảy định mạng, ông đã nói qua máy truyền tin với 1 cố vấn của TĐ BĐQ gần đó: "Âm thoại viên (ATV) của tôi vừa chết, và chúng tôi ko thể cầm cự lâu hơn nếu ko có không yểm ngay bây giờ. Hãy ném bom xuống đầu chúng tôi, vì CS đang tràn ngập."

Vài phút sau, vị cố vấn này, giọng ông vẫn bình tỉnh, gọi, "Tôi phải rút khỏi đây. Gấp lắm (fold up)."

Nhưng ông đã ko thể làm điều ấy.

Một xạ thủ đại liên, nằm sóng soài trong hố cá nhân, vỏ đạn ngập đến đầu gối. VC đã bắn bể (shoot off) nòng súng, rồi giết ông bằng 1 viên đạn xuyên óc. (Có lẽ là súng đại liên 30, số hiệu M1919A4 Browning, xem hình, nặng 14 kí, bắn đạn 7.62. Băng đạn 250 viên. Trước 1968, là súng liên thanh của các đv VNCH. Sau năm 1968, vì quá nặng, nên được thay thế bởi M-60 -- ND).

Trung liên BAR, xem hình, nặng khoảng 9 kí, bắn đạn 7.62, hộp đạn 20 viên hay 40 viên. Súng này được dùng trong giai đoạn đầu của chiến tranh VN bởi quân VNCH và đồng minh, kể cả DSCĐ. Theo 1 cố vấn LLĐB, họ nói súng này rất tốt, ko bị kẹt đạn như M-16.           



Một số lính đã định rút chạy, nhưng đã bị bao vây và tàn sát bởi VC, 1 cố vấn bị thương kể lại.

Người chết nằm rải rác ở giữa những nhánh cây rơi và trong những hố chiến đấu khá sâu mà họ đã đào trong 4 ngày đóng tại khu vực này

Phần lớn chết vì trúng đạn ở đầu và cổ.

Không thấy xác VC. Họ đã mang theo xác chết và thương binh.

Lính BĐQ vừa được tăng viện ko còn tìm thấy kẻ thù. Họ đang tìm các đồng đội. Ngay sau buổi chiều, họ đã thu nhặt cả trăm xác. Còn nhiều nữa.

PHẦN 3 - LÁ THƯ CỦA MẸ NÓI VỀ LỄ GIÁNG SINH

Đồn điền cao su Michelin, Việt Nam - (AP)

Những trang của lá thư này bay đu đưa (flutter) giữa những mảnh vụn của trận đánh.

Gần đó, nằm nửa trong nửa ngoài của 1 hố chiến đấu, là xác của 1 trung sĩ trẻ của lục quân Mỹ. Thân xác to lớn của y đã co rúm (crumple) trong bóng của cây rừng, tay y vung ra (fling out).

Lá thư này đã được tung ra (scatter) bởi những tên VC giết ông và nhiều người lính VN vào ngày thứ Bảy trong hai giờ đẫm máu trên đồn điền này. Chúng đã lục lọi (go through) các ví của người chết và lấy đi tiền và những gì quý giá.

Chúng đã để lại thơ này.

Đó là thơ của mẹ trung sĩ.

"Trung sĩ thân yêu," bà đã viết 1 cách trìu mến. Bà nói về những dự định bà làm cho lễ Giáng Sinh. Bà đã ko trông đợi y về nhà vì y còn vài tháng phải phục vụ tại VN. (Mỗi lính Mỹ trong 12 tháng tại VN, kể cả sĩ quan -- ND).

Nhưng bà biết y sẽ quan tâm đến lễ Giáng Sinh tại quê nhà.

Nhưng bà quay sang những vấn đề quan trọng hơn,

"Gia đình đã đọc thư con, và gia đình hiểu những khó khăn ở đó.

"Rất nhiều bà mẹ và vợ và con tại Mỹ năm nay không muốn người thân của họ trở về trong ngày Giáng Sinh."

Mẹ của y đã viết những cuộc biểu tình tại Mỹ phản đối sự can thiệp của Mỹ tại VN.

"Nhiều người ở Mỹ có vẻ chống lại những gì con đang làm, nhưng gia đình biết con làm điều đúng. 

"Gia đình cầu nguyện cho con sẽ đạt những gì con nghĩ là đúng ở đó. Mẹ muốn bảo đảm với con rằng trong mùa Giáng Sinh này, mẹ và gia đình hoàn toàn và luôn luôn (all the way) đứng sau con.

"Nhưng gia đình ko cần phải nói cho con điều ấy. Con đã biết tất cả."

Phần này chuyển ngữ từ: https://www.virtualwall.org/dv/VanderwegPJ01a.htm

CẬP NHẬT NGÀY July 3 2025.

1/ Hai TĐ Mỹ có pháo binh đã tiếp viện trung đoàn 7.

Trích từ trang 88 của 'Stemming the Tide, May 1965 - 0ctober 1966'. Tạm dịch: "Trong những giờ đầu của ngày 27/11, trung đoàn 271 và 273 đã tấn công các thành phần của trung đoàn 7 của sư đoàn 5 gần đồn điền. Quân tấn công VC, theo tướng Seaman, "thực tế đã quét sạch trung đoàn 7". Để trả đũa, Seaman đã ra lịnh cho lữ đoàn 3 của ĐT Brodbeck, với hai TĐ và pháo binh, tiến vào và bảo vệ trung đoàn này trong lúc họ đã tập họp lại. Trong ngày thứ ba của cuộc hành quân, Seaman đã thay đổi nhiệm vụ của Brodbeck." NHẬN XÉT: Như bạn đã thấy, 1 trận đánh lớn như vậy mà quân sử chính thống của Mỹ chỉ GHI VÀI GIÒNG NGẮN NGỦI. Họ chỉ cho biết, sau khi tấn công trung đoàn 7, VC đã rút nhanh vì sợ trả đũa. Do vậy trong hai ngày đầu, các đv Mỹ trên đây đã ko gặp VC./.

2/ - Theo ông Triệu Vũ, thuộc đại đội quân nhu của sđ 5 bộ binh, trong 1 hồi ký đã viết: dù đã mang lên bãi chiến trường ở làng 13 bis Dầu Tiếng300 túi đựng xác và 100 poncho nhưng do ko đủ túi đựng xác chết hay poncho, nên cuối ngày 28/11, vì là ngày cuối để lấy xác, các quân nhân thu dọn chiến trường phải khiêng xác chết đã sình thối vì phơi nắng 2 ngày (chết từ sáng sớm ngày 27/11), xem hình, bỏ lên máy bay C-47 ở sân bay đồn điền Dầu Tiếng để chở về SG. Như vậy số người chết phải trên 400. Sau đó họ được đưa về nghĩa trang Gò Vấp (lúc đó chưa có NT Biên Hòa), có phòng máy lạnh để chứa xác và tắm rửa xác chết trước khi cho thân nhân gặp mặt để khâm liệm.

SJ ngày July 3 2025, cập nhật ngày 22/7/25.

Tài Trần




Sunday, June 15, 2025

 

Week of November 27, 2022

Week of November 27 – December 3, 2022:
South Vietnam's 7th Regiment Annihilated on
November 27, 1965

Nguồn: 

SUMMARY: On Saturday, November 27, 1965, a reinforced North Vietnamese Army (NVA) regiment attacked and destroyed the 7th Regiment, 5th Infantry Division, Army of the Republic of Vietnam (ARVN) near the Michelin Rubber Plantation a few miles northeast of Dau Tieng, South Vietnam. The ARVN regiment sought to destroy elements of the newly formed North Vietnamese 9th Infantry Division operating in the area. The NVA division comprised the 271st, 272d, and 273d People's Liberation Armed Forces regiments, formed from local Viet Cong (VC) forces. The shooting began early in the morning and lasted for eight bloody hours. Seven American advisers were killed in the battle and the South Vietnamese regiment was completely wiped out.

michelin rubber plantation

FULL STORY: The Michelin Rubber Plantation was the largest rubber plantation in South Vietnam. It covered 31,000 acres of the Binh Duong Province and was home to hundreds of workers who lived in 22 hamlets sprinkled across the property. The communists maintained a strong presence there. The plantation was a profitable source of tax income for the South Vietnamese government, but was also subjected to regular levies by the VC. By October 1965, financial demands from the local VC had become untenable and it was no longer economical to operate the plantation. The company refused to pay the levy.
In reprisal, the VC shot up one Michelin manager’s home with a 57-millimeter recoilless rifle. The owners and managers shut down plantation operations, fled to Saigon and begged the government to intervene. Hundreds of idle workers and a dried-up revenue stream could not be ignored.

The South Vietnamese government, assisted by the United States Military Assistance Command, Vietnam (MACV), tasked the ARVN 7th Infantry Regiment and the U.S. Army 1st Infantry Division with opening the roads into the plantation, clearing the property of hostile forces and reestablishing order and security.
In November 1965, ARVN and U.S. Army troops initiated pacification efforts dubbed XAY DUNG 10 and 11, and Operation BUSHMASTER I, respectively. The operations were successful and the South Vietnamese government was determined to capitalize on the achievements and extend the endeavor to the surrounding region, with a particular focus on the high ground along the Saigon River.

III corps operations

On November 26, the 1st, 3d, and 4th Battalions of the ARVN 7th Infantry Regiment set out from the district capital Dau Tieng towards the Cau Cong hills, just west of the Michelin property. They intended to exploit B-52 strikes that were scheduled in the area the following morning. The 2d Battalion, along with a battalion of South Vietnamese Rangers, an artillery battery, and a troop of armored M113 personnel carriers were held back in reserve. That afternoon, the regimental commander split his manpower, sending the 3d Battalion ahead of the main force. The battalions bivouacked in defensive positions at Nha Mat for the night, preparing to move at first light. Their plans were interrupted at dawn, when a reinforced communist regiment launched coordinated but separate assaults against the regimental command post, the two main force battalions, and the 3d Battalion.

The attackers’ mortar barrages, heavy automatic weapons fire, and human wave assaults had a devastating effect. The VC had learned by bitter experience that close proximity was critical in order to minimize U.S. and ARVN artillery and air support effectiveness. Their tactics worked. The 4th Battalion was divided down the middle. About half were killed and the other half, including their American advisers, were wounded. The 3d Battalionwhich was on its ownhad planned to lure the VC into a trap, but they too suffered terrible casualties. Three of the four American advisers were wounded. Only 45 men of the 3d Battalion were unscathed, including the fourth American adviser. The regimental command post and the 1st Battalion, including all seven American advisers attached, were utterly annihilated. Friendly losses that day were 249 killed, 213 wounded and 140 missing.

These are the brave U.S. soldiers who gave their last full measure of devotion that day:

  • Major Guy H. McCarey, Jr. of Tampa, Florida, Advisory Team 70, Headquarters (HQ), MACV Advisers, MACV. Photojournalist Horst Faas, who arrived at the site soon after, reported: “The senior U.S. adviser to the slain regimental commander was found Sunday sprawled dead beside a foxhole.
    At 7 a.m. Saturday, he had radioed a nearby Ranger battalion adviser: ‘My radio operator has just been killed, and we can't hold out much longer unless we get air strikes immediately. Put the strikes right among us, that's where the Communists are.’ A few minutes later the adviser, his voice still calm, called, ‘I'll have to get out of here. We're folding up.’"
  • Captain James W. McNeely of Norwich, Connecticut, Advisory Team 70, HQ, MACV Advisers,
    MACV was a cavalry platoon leader and on his second tour of duty in Vietnam. In addition to six children, he left behind his wife who was pregnant with twins at the time.
  • First Lieutenant Carl A. Gray of Morganton, North Carolina, Advisory Team 70, HQ, MACV Advisers, MACV attended Laotian Language school in Washington, D.C. in 1965 before deploying to Vietnam as a Special Forces volunteer.
  • Sergeant First Class Phillip J. Vander Weg of Wayland, Michigan, Advisory Team 70, HQ, MACV Advisers, MACV had been a member of the U.S. Army Parachute Team, the "Golden Knights." He left behind his wife and three children.
  • Sergeant William H. Crisman of Detroit, Michigan, Advisory Team 70, HQ, MACV Advisers, MACV had enlisted in the Army four years earlier. He had been in Vietnam just five weeks before being killed. He left behind his wife and a son.
  • Private First Class John M. Grasso, Jr. of New Britain, Connecticut, Public Affairs Office, HQ,
    MACV Advisers, MACV was a radio operator.
  • Private First Class Lester J. Kersten of Chicago, Illinois, Advisory Team 70, HQ, MACV Advisers, MACV was also a radio operator.

As it turned out, the attackers were a well-trained reinforced NVA regiment. While made up primarily of VC, the regiment was comprised of seasoned combat veterans supplied with the latest Soviet weapons. The South Vietnamese troops, on the other hand, were trained to fight meager numbers of relatively unskilled, irregular troops and were equipped with World War II U.S. Army surplus. To say they were outmatched was an understatement.

All seven American advisers are memorialized together on Panel 3E, Lines 115-116 of the Vietnam Veterans Memorial in Washington, D.C.1


=========

Rangers Find Dead Regiment

Associated Press photographer Horst Faas accompanied South Vietnamese reinforcements to the scene of a savage Communist attack on a rubber plantation 45 miles from Saigon. Here is his report.

BY HORST FAAS

DAU TIENG, Vietnam-(AP) South Vietnam's 7th Regiment died at 8 a.m. Saturday.

    It died on the sprawling Michelin rubber plantation after trying desperately to fight off hordes of Communist soldiers charging in waves through the rubber trees.

    Most of the Vietnamese troopers, with their American advisers, fought to the last bullet.

    The senior U.S. adviser to the slain regimental commander was found Sunday sprawled dead beside a foxhole. At 7 a.m. Saturday he had radioed a nearby Ranger battalion adviser: "My radio operator has just been killed, and we can't hold out much longer unless we get air strikes immediately. Put the strikes right among us, that's where the Communists are."

    A few minutes later the adviser, his voice still calm, called, "I'll have to get out of here. We're folding up."

    He didn't make it.

****

    A VIETNAMESE machine gunner was sprawled in his foxhole, spent shells up to his knees. The Viet Cong had shot off the barrel of his weapon, then killed him with a bullet through the brain.

    Some of the regiment tried to give up, but were rounded up and massacred by the Reds, a wounded U.S. adviser reported.

    The dead lay scattered among fallen branches and in the deep foxholes they had dug in the four days they had been in the area.

    Most of the dead had been killed with bullets in the head and neck.

    There were no Communist bodies. The Viet Cong had dragged their dead and wounded away.

    The Vietnamese Rangers who had come to help fight no longer were looking for any enemy. They were looking for their comrades. By early afternoon they had gathered up 100 bodies. There were many more.

VanderwegPJ01e.jpg


FOUGHT TILL THE END - A Vietnamese machine gunner lies dead in his foxhole with hundreds of shells surrounding him. The knee-deep spent shells are silent proof that he fought to his death when Viet Cong overran his position at the Michelin Rubber Plantation, 45 miles northwest of Saigon. The battleground was retaken today and over a hundred corpses recovered.

AP Wire Photo Nov. 1965

Mom's Letter Told Fallen GI Of Christmas He'll Miss


MICHELIN RUBBER PLANTATION, VIETNAM.-(AP)

    The pages of the letter fluttered among the debris of battle.

    Nearby, lying half out of a foxhole, was the body of a young American Army sergeant. His tall body was crumpled in the shadow of the trees, his arms flung out.

    The letter had been scattered by the Viet Cong who killed him and many Vietnamese soldiers Saturday in a bloody two hours on the plantation. The Viet Cong had gone through the wallets of all the men and had taken their money and valuables.

    They had left the letter behind.

    It was from the sergeant's mother.

    "Dear Sarge," she wrote affectionately. She spoke of the plans she made for Christmas. She did not expect him home, she wrote, because he had several months left to serve in Vietnam.

    But she knew he would be interested in Christmas back home.

    Then she turned to more serious matters,

"We read your letters, and we understand how difficult it is over there.

"There's a great group of mothers and wives and children in the United States this year who won't have their loved ones home for Christmas. But oh, how we think of you,"

    His mother discussed the demonstrations in the United States against American involvement in Vietnam.

"Many people at home seem to be against what you are doing, but we know you are doing good.

"We pray you'll achieve what is right over there. I want to assure you this Christmastime that your mother and your family are completely behind you all the way.

"But we don't have to tell you that, do we? You already know."

VanderwegPJ01f.jpg



POSTHUMOUS AWARDS - Mrs. Johanna Vander Weg receives the posthumous awards of the Bronze Star Medal with "V" Device, Purple Heart, and Army Commendation Medal from General Joseph W. Stilwell, commander of the John F. Kennedy Center for Special Warfare. SFC Phillip Vander Weg was killed during the battle of Tri Nam, Viet Nam, last November. Before leaving for Viet Nam, Sgt. Vander Weg was with the Army Parachute Team. Looking on during the ceremony is Maj. James L. Anderson, former commander of the Army team.


U.S. Army Photo by SP5 Cooper


 

Notes from The Virtual Wall

VanderwegPJ01d.jpg


Sergeant First Class Vander Weg had served with the Army's "Golden Knights" parachute demonstration team. He is remembered, together with seven other teammates who died in Vietnam, by the Golden Knights.


The Michelin Rubber Plantation near Dau Tieng was a hotbed of VC and NVA activity. The action in which SFC Vander Weg died involved the VC 272nd Regiment, which overran the South Vietnamese 7th Regiment in the Michelin Plantation.

Although the news reports above make it clear that three US Advisors were killed in the battle - the senior advisor, his radioman, and SFC Vander Weg - it is certain at least four Americans were involved. Other available information indicates SFC Vander Weg "... and an American captain, a lieutenant and a private first class were attached to the 1st Battalion, 7th Regt., 5th South Viet Nam Infantry Division..." The captain was Captain James W. McNeely, and the lieutenant was 1LT Carl A. Gray. Seven US military advisors died in battle on 27 Nov 1965; since this memorial was first published it has become possible to place all seven with the 7th ARVN Infantry Regiment:


MAJ Guy H. McCarey, Tampa, FL

CPT James W. McNeely, Norwich, CT

1LT Carl A. Gray, Morganton, NC

SFC Phillip J. Vander Weg, Wayland, MI

SGT William H. Crisman, Detroit, MI

PFC John M. Grasso, New Britain, CT

PFC Lester J. Kersten, Chicago, IL

https://www.virtualwall.org/dv/VanderwegPJ01a.htm===


 Trận đánh tại làng 13, mà trung đoàn 7 sđ 5 bộ binh VNCH bị thiệt hại nặng - với trung đoàn trưởng và nhiều sq tham mưu tử trận.

=====
Trận đánh tại làng 13 bis Dầu Tiếng
Trung đoàn 7 SĐ 5 BB VNCH ngày 26/11/1965 tổ chức khao quân (mừng chiến thắng trước đó đúng 1 tuần) tại làng 13 bis ở cách Dầu Tiếng, quận Trị Tâm, tỉnh Bình Dương khoảng 3-4 km. Khoảng 2 g sáng ngày 27/11/65, VC đã tấn công nơi đóng quân của trung đoàn, giết chết trên 300 quân nhân các cấp, trong đó có trung đoàn trưởng và các nữ ca sĩ văn nghệ giúp vui.
Trung đội chung sự * của SĐ 5 ngày thứ nhứt chỉ mang lên sân bay Dầu Tiếng (của đồn điền cao su Michelin) 100 túi đựng xác nên ko đủ, ngày hôm sau họ mang thêm 100 túi đựng xác, và 100 poncho nhưng cũng ko đủ đựng xác; cuối cùng phải dùng băng-ca chuyển xác lên máy bay để chở về Sài Gòn.
Vì đã ở ngoài trời nắng hai ngày nên các xác thu nhặt vào ngày thứ hai đã bốc mùi: ông sq phụ trách thu lượm xác về tới nhà đã vất bỏ mọi thứ mặc trên người vào thùng rác. Mùi chuột hay chó chết thế nào thì mùi người chết cũng vậy. (Vì tôi đã nhiều lần ngửi khi còn ở đv tác chiến vì xác để vài ngày ngoài trời nắng, các vết thương sẽ hóa dòi và chảy nước rất thúi!)
* Phụ trách tắm rửa sạch sẽ các xác chết, bỏ vào quan tài để ng nhà đến nhận đem về chôn.
TB. Theo tài liệu của CS thì trận này xảy ra ngày 27/11/65 .
"Ngày 26 tháng 11, trên khu vực phía bắc Dầu Tiếng, chiến đoàn 7 quân đội Sài Gòn dừng lại trú quân dã ngoại ở khu vực Làng Tám. Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 nhận lệnh tập kích chiến đoàn này. Sáng ngày 27 tháng 11, trung đoàn sử dụng cả 3 tiểu đoàn và lực lượng tăng cường hình thành 3 hướng tiến công chiến đoàn 7 trong rừng cao su của đồn điền Mít-sơ-lanh. Trận đánh diễn ra quyết liệt và kéo dài tới quá trưa. Ta tiêu diệt gần hết chiến đoàn 7, sư đoàn 5 quân đội Sài Gòn, bắt 700 tù binh, trong đó có trung tá trung đoàn trưởng, bắn cháy 2 máy bay, thu 220 vũ khí các loại, 22 máy thông tin. Đây là trận then chốt thứ hai thắng lợi, kết thúc chiến dịch"
Hình chụp tại trận làng 13 bis ngày 27/11/65
May be an image of 1 person and text that says 'A Vietnamese litter bearer wears a face mask to keep out the smell as he passes the bodies of .. and Vietnamese soldiers killed in fighting against the Viet Cong at the Michelin rubber plantation, about 45 miles northeast of Saigon, Νον. 27, 1965. More than 100 bodies were recovered after a human wave assault by guerrillas. (AP Photo/Horst Faas)'
Like
Comment
Share