Wednesday, March 27, 2024

 

TRẬN PLEIME, 1965

Trần Quốc Cảnh, Trần Đức Hợp (phối hợp)


Lời Giới Thiệu:

Đã hơn 39 năm qua, Quân Sử của VNCH cũng như của Hoa Kỳ đều nói, viết và đưa lên phim ảnh Hollywood về trận đánh lịch sử ở thung lũng Ia-Drang, trên Cao nguyên Trung phần vào tháng 11, năm 1965. Nhưng chưa một ai nói và viết chi tiết chiến thuật “Công Đồn Đả Viện” của quân Cộng Sản Bắc Việt, trong trận phục kích đoàn quân tiếp viện của ta, gồm Trung đoàn 3 Thiết Giáp (sau đổi là Thiết đoàn 8 Kỵ Binh) và tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, làm mũi nhọn đi giải vây cho tiền đồn Plei Me đang bị vây hãm, cách thành phố Plei Ku khoảng 40 Km về hướng Nam.

Khi đó, quân ta đang rơi vào một cái bẫy sập to lớn hơn, do hơn một Trung đoàn (+) quân chính quy CSBV đang giăng ra để chờ đón con mồi từ từ bước vào vùng tử địa trên Tỉnh Lộ 6C, nối liền từ Plei Ku đến Plei Me.

***

Bài này được viết ra do kinh nghiệm bản thân và nhiều lần được nghe chính các quân nhân binh chủng BĐQ, thuộc Tiểu đoàn 21 còn sống kể lại. Lúc đó, họ chỉ là những Trung Đội Trưởng của các Đại Đội thuộc Tiểu Đòan 21, và là những Sĩ quan rất trẻ, mới tốt nghiệp từ Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Khoá 19 Nguyễn Trãi. Họ cũng là những người bạn thân thiết, đã nhiều lần vào sanh ra tử tại các chiến trường nổi tiếng của vùng 2 Chiến Thuật, nơi đã được gọi là “Em Plei Ku má đỏ môi hồng” trong bản nhạc nổi tiếng bất hủ của nhạc sĩ Phạm Duy, phổ theo thơ của Vũ Hữu Định.

A. Tình Hình Tổng Quát:

Khóa 19 Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ra trường cuối năm 1964, đúng lúc các trận chiến bùng nổ dữ dội khắp 4 vùng chiến thuật với chiến dịch Đồng Khởi của địch. Chúng tôi: Thiếu uý Trần Quốc Cảnh, Huỳnh Kim Tắc, Hoàng Văn Chu được bổ xung về Tiểu đoàn 21/ BĐQ và Thiếu Uý Tăng Bửu Tuyền, Nguyễn Xuân Riện, Hiệp, Nguyễn văn Thu về Tiểu đoàn 22/ BĐQ. Hậu cứ của 2 Tiểu đoàn nằm sát liền nhau, trên ngọn đồi trọc cạnh Biển Hồ, cách thành phố Plei Ku 15 Km về hướng Bắc.

Tại vùng 4 Chiến Thuật, có những chiến thắng lẫy lừng của TĐ 42/ BĐQ “Cọp Ba Đầu Rằn” và TĐ 44/ BĐQ “Cọp Đen” với chiến thuật Trực Thăng Vận, nhảy trên đầu địch đánh xuống, khiến địch bị bất ngờ không kịp trở tay. Tại vùng 1 Chiến Thuật ,TĐ 39/ BĐQ bị thiệt hại nặng trong trận Ba Gia, nhưng TĐ 37/ BĐQ chiến thắng lớn trong trận Thạch Trụ. TĐ 2/ TQLC bị địch phục kích tại tại QL 1, 15 Km phía Bắc Thành phố Huế, TĐT Lê Hằng Minh tử thương, TĐ bị thiệt hại khá nặng.

1965 - Chuyển quân đến Pleime

Tại vùng 3 Chiến thuật, địch đã tổ chức đơn vị cấp Trung đoàn, bao vây, khuấy rối Ấp Chiến Lược Bình Giả, dụ quân ta vào trận liệt đã được điều nghiên và bố trí kỹ càng, phục kích quân tăng viện, giải cứu. TĐ 4/ TQLC đã bị thiệt hại nặng nề và Thủ Khoa Khoá 19 VBĐL Lê Thành Kháng là một trong vài người bạn cùng khoá đã hy sinh sớm nhất. Kế tiếp, địch bao vây trại LLĐB Đồng Xòai, lại với chiến thuật “Công Đồn Đả Viện”, đã dụ TĐ 7/ Nhảy dù VN vào đồn điền cao su, và với quân số gấp bội bao vây tiêu diệt. Người bạn cùng khoá 19 là Đoàn Phương Hải, cũng đã bị thương nặng.

Kể từ đây, lực lượng Tổng Trừ Bị (ND-TQLC) của ta mới rút kinh nghiệm, chỉ hành quân cấp Chiến đoàn gồm từ 2, 3 Tiểu đòan trở lên.

Tại vùng 2 Chiến Thuật, với rừng núi mênh mông, giáp ranh với biên giới Cam Pu Chia và Lào, có lợi thế cho địch thiết lập mật khu, kho tiếp liệu, tập trung, ẩn dấu quân và lấy rừng núi chế ngự đồng bằng.

Trong thời gian này, địch đã có ý định dứt điểm Miền Nam, cùng lúc gây ra do sự chia rẽ của các vụ đảo chánh liên tiếp. Trước hết, các toán tập kết ra Bắc năm 1954 là thành phần tiền phong được xâm nhập trở lại Liên Khu 5 cũ (Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên) móc nối gia đình, thiết lập cơ sở nằm vùng, tình báo và tiếp tế.

Tiếp theo đó, các Trung đoàn chính quy CSBV lần lượt xâm nhập theo đường mòn HCM dọc theo biên giới Lào, Việt, Miên di chuyển mất khoảng 2 tháng leo đèo, vượt suối. Tướng Chu Huy Mân đã xâm nhập từ năm 1964 trách nhiệm vùng Đà Nẵng, Chu Lai, sau đó trách nhiệm mặt trận B3 Cao Nguyên Trung Phần, bản doanh đóng tại Plei Bong Klo trong nội địa Lào, cách biên giới 10 Km về phía Tây. Chu Huy Mân đã bị Pháp bắt giam tại Kon Tum trong Chiến dịch Việt Pháp, là Chính Ủy của Sư đòan 316 trong trận đánh Điện Biên Phủ năm 1954. Vào tháng 3/ 1965 Trung Đoàn 42 Bộ Binh biệt lập dưới sự chỉ huy của Trung Tá Lại Văn Chu, trách nhiệm vùng Kon Tum, gồm ngã ba biên giới Việt, Miên, Lào với Tân Cảnh, Dakto, Daksut, đã phát giác các lực lượng CSBV xâm nhập của địch.

TĐ 21/ BĐQ được tăng phái cho Trung Đoàn 42 BB/ Biệt lập, đã giao tranh ác liệt với một Trung Đoàn CSBV trong 2 ngày, 2 đêm trong rừng núi, không được tiếp viện, tải thương, tiếp tế đạn dược, đồ ăn, nước uống, vì núi non chập chùng, rừng rậm nguyên sinh, ban ngày chỉ thấy ánh mặt trời le lói qua tàng lá cây. Cuối cùng TĐ 21/ BĐQ phải rút lui trong đêm tối, bỏ lại các đồng đội đã tử thương và cả bị thương nặng không thể đi được, vì không thể khiêng, vác theo trong đêm tối mịt mùng. Quân ta chỉ bám lưng nhau lên núi xuống đèo mà đi cho khỏi lạc và chung quanh lại bị địch quân bao vây, xả súng bắn tới tấp khi nghe tiếng di chuyển của quân ta. Người bạn thân của chúng tôi, Thiếu úy Hoàng Văn Chu đã tham dự trận chiến đầu tiên trong đời binh nghiệp, và cũng là trận cuối cùng của anh. Xác anh đã được bọc bằng chiếc áo mưa poncho, thay cho da ngựa, “phút chốc anh đã trở thành người thiên cổ…”.

Tình báo của ta được báo đó là Trung đoàn 101 CSBV, chỉ huy bởi một Trung đoàn trưởng, đã 15 năm chỉ huy Trung đoàn và đã tham dự trận đánh Điện Biên Phủ năm 1954. Sau đó được biết là Thượng tá Nguyễn hữu An, Tư lệnh phó B3 của Tướng Chu Huy Mân, và là Trung đoàn trưởng dưới quyền Tướng Mân trong trận ĐBP, đã chiếm Bộ chỉ huy của Tướng Pháp De Castries trên cứ điểm Eliane 1.

Điểm đặc biệt được khám phá trong trận chiến này là vũ khí của địch được trang bị tối tân, gồm đại liên có bánh xe kéo tay, thượng liên gắn đạn nồi, AK 47 tự động, và CKC (súng trường báng đỏ ) có gắn lưỡi lê gấp, dính liền với súng, và súng hỏa tiễn chống chiến xa B 40. Còn vũ khí trang bị của ta toàn là vũ khí cũ của thời Đệ Nhị Thế Chiến, như Đại liên M 30, Trung liên Bar, Thompson, Carbin M1, Garant M1 bán tự động (bắn phát một) súng phóng lựu mới M79. Súng AR15 (tiền thân của M.16), trước đó được trang bị để trắc nghiệm, sau đó đã bị thu hồi lại.

Tháng 5/ 1965, Trung đòan 32 CSBV (trước là TĐ 101) đã tiến sâu hơn vào nội địa Quân Khu 2, tính cắt trục tiếp tế giao thông trên Quốc lộ 19 trên đèo Mang Giang, nối liền Plei Ku và Quy Nhơn. TĐ 22 /BĐQ đã giao chiến và thu được một số súng tối tân của địch. Tháng 8 / 1965, địch lại công đồn, bao vây trại LLĐB Đức Cơ trên QL 19, sát biên giới Cao Miên. Hai Tiểu đoàn Nhảy dù được trực thăng vận giải vây xung quanh tra, nhưng địch đã rút qua biên giới. Trong trận này có Thiếu Tá Norman Schwarzkopf là Cố vấn cho Trung Tá Ngô Quang Trưởng chỉ huy Chiến đoàn Nhảy dù. Trong thời gian này Trung đòan 33 CSBV mới xâm nhập, và áp lực của địch càng gia tăng mạnh mẽ ở vùng rừng núi Cao Nguyên.

Pleime

Một Chiến đoàn của ta được thành lập: Trung đòan (-) gồm Thiết Giáp M41, Thiết Vận Xa M113 dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Trọng Luật và một chiến đoàn TQLC dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Thành Yên và TĐ 21 / BĐQ với Đại Úy Nguyễn Văn Sách (khóa 9 Đặc Biệt Đà Lạt) làm Tiểu Đoàn Trưởng, là lực lượng tiếp cứu trại LLĐB Đức Cơ di chuyển bằng đường bộ trên QL 19.

Chiến thuật Công Đồn Đả viện lại được địch áp dụng, nhưng đã bị quân ta đánh bại và bị không quân của ta truy kích, địch quân đã rút bỏ chạy qua biên giới. Trên các Quốc lộ và trục giao thông chính như đường 14, 19, 21, đều bị cắt đứt và phá rối liên tục. Mọi tiếp tế bằng đường bộ trở nên khó khăn, phải chuyên chở, tiếp vận bằng phi cơ. Ý định của địch ngày càng hiện rõ, họ xử dụng chiến thuật “Vết dầu loang” , hay “Tầm ăn dâu”,”lấy rừng núi chế ngự đồng bằng”, “lấy nông thôn bao vây thành thị”, tiả dần, tỉa mòn lực lượng của ta và sau đó tiến công dứt điểm.

Ngày 19/ 10/ 1965 lúc 11:30 đêm, địch phát khởi trại LLĐB Plei Me, cách thành phố Plei Ku 40 Km về phía Nam.

1/ – Lực Lượng Địch:

Trung Đòan 32 CSBV với 3 Tiểu đoàn 344, 635 và 966 doThiếu tá Mã Văn Minh làm Trung Đoàn Trưởng.

Trung Đoàn 33 CSBV của Thượng Tá Nguyễn Hữu An chỉ huy tổng quát.

Một Tìểu Đoàn súng cối 60, 82, và 120 mm.

Một Tiểu Đoàn súng phòng không 12.7 mm

Một Tiểu Đoàn địa phương H. 15.

Trung Đoàn 66 CSBV, với 3 Tiểu đoàn 7, 8 và 9 do Trung Tá La Ngọc Châu đang xâm nhập trên đường mòn HCM và đụng độ với Tiểu Đòan 1 thuộc Lữ Đòan 7 của Sư Đòan 1st, Không Kỵ Hoa Kỳ tại chân rặng núi Chu Prong, trong thung lũng Ia Drang (tên con suối) ngày 14 , 15 và 16 tháng 11 năm 1965.

Trận chiến Ia-Drang

2/ – Lực Lương Bạn Cánh A:

- Trung Đòan 3 Thiết Giáp (-) gồm 12 chiến xa M41 và 8 thiết vận xa M113.

- Đại đội 1 và 2 thuộc Tiểu Đòan 21 BĐQ, vừa đi bộ mở đường thám sát, vừa tùng thiết (ngồi trên pháo tháp chiến xa M41 và trên nóc Thiết vận xa M113).

Lực Lượng Bạn Cánh B:

- Bộ Chỉ Huy TĐ 21/ BĐQ, Đại đội 3 và Đại đội 4 BĐQ đi theo sau cánh A khoảng 2 km trên trục lộ, với đoàn convoy chở đạn dược tiếp liệu, xăng dầu và nước uống, cùng tiểu đội công binh cùng 2 chiếc Thiết vận xa M113, 2 xe bọc sắt RM8 có gắn đại liên 30 ly bên hông xe và 2 khẩu pháo Howitzers 105 ly.

Lực Lượng Bạn Cánh C:

- Tiểu đòan 1 Bộ Binh, thuộc Trung Đòan 42 Biệt Lập tăng phái đến từ Kon tum và Tân Cảnh do Đại úy Mã văn Nông làm Tiểu đoàn trưởng.

Trừ bị:

- Tiểu đòan 22/ BĐQ do Đại úy Phạm văn Phúc làm Tiểu đoàn trưởng, nằm trừ bị tại phi trường Cù Hanh, Plei Ku, sẵn sàng tiếp ứng bằng Trực thăng vận.

B- BỐ TRÍ TRẬN LIỆT:

Lúc 11:30 đêm 19-10-1965, một tiểu đòan của Trung Đòan 33 CSBV, bao vây tấn công, dùng đặc công và pháo kích vào trại LLĐB Plei Me gồm 12 Cố vấn Hoa Kỳ, một tóan LLĐB/ VN và khoảng 400 dân sự chiến đấu Thượng, sống cùng với vợ con trong trại.

Địch đã bố trí các đại liên, phòng không và súng cối trên các ngọn đồi núi cao quanh trại.

Từ Plei Ku, trước khi chuyển quân, tôi thấy một máy bay khu trục Skyraider A1E của ta bị phòng không 12.7 ly của địch bắn trúng, phi công đã nhảy dù ra và cánh dù màu da cam bay lơ lửng trên bầu trời của trại LLĐB Plei Me.

Ta đã biết chắc là địch lại áp dụng chiến thuật Công Đồn cổ điển, để Đả Viện, nhưng quân ta không còn cách nào khác đành chấp nhận cuộc chơi do phe kia lựa chọn chiến trường. Một Chiến đoàn cứu viện của QĐ 2/ QK II, dưới quyền Tư lệnh của Chuẩn Tướng Vĩnh Lộc được thành lập, gồm Trung đòan Kỵ binh (-) với một Chi đoàn M41 thiết giáp 12 chiếc, một Chi đòan (-) Thiết vận xa M113 gồm 8 chiếc dưới quyền chỉ huy tổng quát của Trung Tá Kỵ binh Nguyễn Trọng Luật (thăng cấp sau trận Đức Cơ tháng 8/1965) Chiến đòan được tăng phái Tiểu Đòan 21 BĐQ và Tiểu Đoàn 1 / 42 Bộ Binh biệt lập và tăng cường 2 khẩu pháo binh 105 ly di chuyển theo đoàn quân.

Đơn vị Thiết giáp và Tiểu Đoàn 21 BĐQ được tập trung tại Phù Mỹ, giao điểm của QL 14 và Tỉnh lộ 6C trong 2 ngày để gom các đơn vị trực thuộc, tiếp vận, pháo binh và chờ Tiểu Đoàn 1/42 Bộ Binh từ Dak To và Tân Cảnh tới.

Địch quân đã nghiên cứu kỹ lưỡng đoạn đường này từ nhiều tuần lễ trước khi khởi sự trận đánh, và khúc đường được lựa chọn để mai phục đoàn quân tiếp viện của ta khi địa thế con đường bị bẻ ngoặt, giống như ở chỗ khúc khuỷ tay (góc cạnh 60 độ) là nơi chặn đầu đoàn quân với các hầm hố , công sự chiến đấu được ngụy trang kín đáo. Một lực lượng khác do Tiểu Đòan 344 CSBV , khoảng 400 người sẽ khoá chặt khúc đuôi của đoàn quân ta, và cùng lúc một lực lượng xung kích của địch bố trí trên các cao địa (20 – 30 m), dùng vận động chiến, với hỏa lực hùng hậu cuả dàn súng chống chiến xa B40, súng cộng đồng SKZ 57, cùng sơn pháo 75 ly và đồng loạt Tiểu liên tự động AK47, từ các hầm hố ngụy trang xung phong, tràn ngập và tiêu diệt lực lượng chính của ta.

Địch với 2 Tiểu đòan thuộc Trung đòan 33 và 2 Tiểu đòan thuộc Trung đoàn 32 làm nỗ lực chính để Đả Viện. Ngoài ra thêm một Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 32 làm lực lượng trừ bị. Đoàn BĐQ đi đầu do Trung Úy Vòng Lập Dzếnh, người Nùng làm Đại Đội Trưởng với Thiếu Úy Huỳnh Kim Tắc, Khoá 19 Đà Lạt, Trung Đội Trưởng/ Trung đội 1/ Đại đội 1/ TĐ21 BĐQ đang ngồi trên Thiết giáp M41 đã nhanh nhẹn xuống xe hạ chiến, và anh đã chỉ huy toàn Trung đội phản công dữ dội. Cộng vào đó hỏa lực cơ hữu của các Đại liên 50 ly từ các Thiết vận xa M113 và đạn chày chống biển người từ các Thiết giáp M41 đã đẩy bật lại sự tiến công và tràn ngập của kẻ địch. Cùng lúc đó Thiếu Úy Ngô Hoàng Gia, Khóa 14 Thủ Đức, Trung Đội Trưởng/ Trung Đội 2/ Đại đội 1/ TĐ 21 BĐQ đang di chuyển bộ trên hai bên đường cũng bị địch với quân số đông gấp bội, nhào ra từ những hầm hố ngụy trang bên cánh phải nhằm tiêu diệt gọn phe ta. Như Triệu Tử Long của Tam Quốc Chí, Thiếu Úy Gia đã cùng Trung đội 2 xung phong tiến lên cận chiến, quyết không cho địch chiếm phần chủ động chiến trường. Đại Đội 2 BĐQ với Trung Úy Võ Vàng khóa 17 Đà Lạt, làm Đại Đội Trưởng và Thiếu Úy Trần Quốc Cảnh, Khóa 19 Đà Lạt Trung Đội Trưởng, tùng thiết M41 đi kế tiếp hàng dọc trên đường đất độc đạo tiến vào Plei Me. Địch quân, với địa thế đồi cao, đã xông ra như thác đổ từ bên cánh trái đòan quân của Đại Đội 2 BĐQ. Ngay lập tức, các chiến sĩ BĐQ đã hạ chiến và phản công quyết liệt, không cho địch quân xung phong tiếp cận các Thiết giáp và Thiết vận xa, cùng lúc đó hỏa lực của các khẩu đại liên 50 ly trên M113 và M41 đã đồng lọat khai hỏa đẩy bật các đợt tấn công liên tục của địch từ trên các đỉnh đồi và các hầm hố ngụy trang dọc con đường tiến quân. Địch đã dùng chiến thuật “biển người ” hay lấy thịt đè người, nhằm chủ động và thanh toán chiến trừơng. Đạn tổ ong từ pháo tháp 76 ly của Thiết giáp M41 đã quật ngã hàng lọat và phá huỷ những hầm hố, công sự chiến đấu kiên cố của địch. Lực lượng BĐQ và Thiết Giáp của cánh A đã bẻ gãy âm mưu Đả viện của Tiểu đòan 635/ Trung đoàn 32 CSBV.

Lực lượng cánh B đi phía sau, trên đường được chỉ huy bởi Thiếu tá Lê văn Tui/ Trung đòan phó Thiết giáp và Đại uý Nguyễn văn Sách, TĐT/ TĐ 21/ BĐQ, và Trung úy Nguyễn văn Huân, TĐP cùng Đại đội 4 do Trung úy Nguyễn Thành Banh, Khóa 16 Đà Lạt làm ĐĐT và Trung úy Nguyễn văn Chính, Xử Lý Thường Vụ ĐĐ 3 đi sau cùng, (thay cho Trung úy Nguyễn văn Tốt đang đi học). Bộ Chỉ Huy Tiểu đòan đã chống trả thật mãnh liệt, sau đó lui xuống cuối đoàn xe để bảo tòan lực lượng, bố trí phòng thủ qua đêm tại một Ấp Chiến Lược với những hầm hố và công sự chiến đấu đã bỏ hoang gần đó, phía sau nơi phục kích 1 km. Quân ta đã đẩy lui nhiều đợt tấn công dữ dội của Tiểu đòan 344 và 966/ Trung đòan 32 CSBV. Trong đêm tối, nhờ máy bay Dakota C47 của Không Quân VNCH thả chiếu sáng liên tục trên bầu trời quanh đồn Ấp Chiến Lược, nên rất rõ ta và địch. Cho đến gần sáng, địch “Chém Vè”, rút lui. Kiểm điểm cánh B bị thiệt hại khỏang 2/3 số xe cộ trong đòan tiếp tế bị cháy và phá hủy bởi B40, SKZ 57, Sơn pháo 75 ly, ngay từ những lúc khởi đầu trận đánh của cánh B. Ngay từ lúc đầu, cuộc tiến quân rất chậm vì Trung đội của Thiếu úy Ngô Hoàng Gia phải đi bộ để lục sóat hai bên đường và lực lượng cánh B đi bộ phía sau có nhiệm vụ bảo vệ đòan xe xăng, dầu, đạn dược, tiếp liệu của đoàn quân và kéo theo sau 2 khẩu pháo binh 105 mm…

* Thiếu úy Trần Quốc Cảnh đã kể lại như sau:

Khoảng 3 giờ chiều, lực lượng tiền đạo cánh A từ trên một đồi cao đi xuống thung lũng (lòng chảo hay hình dáng chiếc yên ngựa), để tiến lên một cao đỉnh phía trước thì bị lực lượng chặn đầu của địch dùng vũ khí cộng đồng và cá nhân bắn xối xả. Quân ta đã lọt vào thế bị động, tiến không được và lùi cũng không xong, mà dàn quân sang phải, trái thì bị rừng cây ngăn trở. Địch từ những hầm hố cố định dùng vận động chiến tìm cách tiến sát quân ta, nhưng bị hỏa lực của Thiết giáp dùng đạn chầy, chống biển người và đại liên 50 cùng BĐQ đã hạ chiến càn quét. Địch đã bị ngăn chặn không thể tiến sát để tràn ngập quân ta… Trong lúc giao tranh, trời còn sáng, tôi nhìn lại đòan quân trên đồi cao phía sau, thấy những đám khói đen bốc cao, tiếng súng nhỏ phía sau ít nghe thấy có lẽ khoảng cách khá xa (2 km), và đang ở dưới thung lũng thấp, và đạn đại bác và đại liên nổ ròn rã sát bên. Sau đó, trời bắt đầu xập tối và tôi cảm thấy nếu cứ nằm dọc theo đường đất một hàng dọc như vậy suốt đêm thì quá nguy hiểm vì không có phòng thủ diện địa chiều sâu. Hơn nữa, nếu địch tiến sát, trộn trấu, không thể phân biệt được ai là bạn, địch, và quân ta dễ bắn lầm quân ta, hoặc địch không bắn (vì tiếng nổ của AK47 ròn vang, khác với tiếng nổ lẹt đẹt của Carbin M1 của ta), chỉ tung lựu đạn thì biết địch ở đâu mà phản ứng. Thật là “Tiến Thối Lưỡng Nan”….

* Thiếu úy Ngô Hòang Gia đã kể lại như sau:

Trong lúc đầu, khi mới vừa bị phục kích, Trung đội 2/ ĐĐ 1/ TĐ 21 BĐQ do Thiếu úy Ngô Hoàng Gia đã anh dũng dàn hàng ngang, xung phong thẳng vào cận chiến với địch. Mỗi chiến sĩ BĐQ, kể cả hiệu thính viên là một chiến sĩ trên hàng đầu mặt trận. Cuộc cận chiến chỉ kéo dài khoảng hơn một tiếng đồng hồ thì bóng tối đã ngả xuống, cản trở tầm nhìn xa và sự nhận xét tổng quát xung quanh. Trung đội 2 tiếp tục duy trì đội hình cho đến gần khuya thì lần lượt tập họp thành từng nhóm nhỏ, dựa vào nhau hoặc những cây lớn để bảo vệ lẫn nhau. Đến khi trời sáng, kiểm điểm lại Trung đội, Thiếu úy Ngô Hòang Gia nhận thấy chỉ có 2 chiến sĩ đã hy sinh và 3 chiến sĩ bị thương.

Tại Đại đội 2 BĐQ, Thiếu úy Trần Quốc Cảnh tìm cách liên lạc với ĐĐT Võ Vàng và các Trung đội bạn để tập họp, nhưng mọi cố gắng đều không thực hiện được vì đêm tối biết đâu mà tìm. Vả lại, nhiệm vụ chính là phải bảo vệ cận phòng cho chiến xa mà mình tùng thiết. Phản ứng cấp thời khiến tôi đi kiếm một sĩ quan Thiết giáp gần nhất, sau đó gặp một Chuẩn úy tên Tuyển trắng trẻo, to con, đẹp trai và bàn với nhau gom được 6 chiếc thiết giáp M41 tiến lên sườn đồi bên cánh trái của trục tiến quân, làm chu vi phòng thủ qua đêm, vói 23 chiến sĩ BĐQ mà tôi gom lại được. Các bụi cây rậm rạp xung quanh được thiết giáp cán xẹp hết để làm vị trí đóng quân, khai quang xạ trường và để cho địch khỏi tiến sát vị trí phòng thủ. Sau khi thiết giáp bố trí vòng tròn xong, các chiến sĩ BĐQ đã đào hố phòng thủ giữa khỏang cách của 2 chiến xa để ngăn chặn không cho địch tràn lọt vào khỏang trống. Mọi người đều ngồi trong hố suốt đêm, hướng súng ra ngoài, sẵn sàng nổ súng nếu phát hiện bất cứ ai di chuyển và gây tiếng động bên ngoài, do đạp hay đụng phải cây cối gẫy đổ xung quanh. Trong đêm, bất ngờ nghe tiếng người di chuyển, một chiến sĩ thiết giáp gác giặc trên pháo tháp la vừa đủ nghe: “Ai …” Yên lặng ….”Ai …” nữa.

Địch có lẽ đang dưới đường đất tiến lên trên đồi do quân ta phòng thủ. Tôi ngồi dưới hố chung với hiệu thính viên mang máy truyền tin PRC-10, giận điên người vì sự thiếu kinh nghiệm của người lính thiết giáp.

Giữa đêm tối im lặng, tôi la lên thật lớn, nhiều lần: “Bắn đi…”, “Bắn đi….” Mà người lính đó vẫn không bắn. Tiếp theo đó tôi nghe tiếng quân địch la to: “Lực lượng mạnh …” , sau đó B40 hoặc B41 nổ rền khắp nơi, cùng tiểu liên AK47 và thượng liên nổ ròn tứ phía. Lúc đó, đại liên 50 của ta mới khai hỏa và 6 chiếc thiết giáp M41 nổ máy di chuyển xịch tới, xịch lui để tránh đạn chống chiến xa. BĐQ chúng tôi đang ngồi dưới hố giao chiến, không sợ bị địch bắn, mà chỉ sợ thiết giáp phe ta đè nát , do đó tất cả đều nhảy lên khỏi hố cá nhân , di chuyển tiến và lùi theo sự di chuyển của thiết giáp. Sau lúc giao tranh, mặt trận trở lại yên tĩnh, chúng tôi lại nhảy xuống hố phòng thủ như cũ, sẵn sàng ứng chiến…. Một lúc sau, tôi đang ngồi trong hố với hiệu thính viên, vô tình quay ra sau lưng, nhìn vào bên trong chu vi phòng thủ, thấy một bóng đen mờ mờ (vì ngồi dưới hố nhìn lên trời, cây cối và bụi rậm đã khai quang hồi chiều) đang lần mò đi sau lưng chiếc thiết giáp kế bên… Đúng là: “Số mày Bà dắt ” hoặc linh tính đã khiến tôi hỏi nhỏ cho hắn đủ nghe: ” Ai…? “. Hắn trả lời: ” Bộ binh ” , có lẽ đó là mật khẩu của địch để nhận nhau trong đêm tối. Tôi nhớ lại, có một tiểu đoàn Bộ Binh , thuộc Trung đoàn 42 Biệt lập đi hành quân chung, có lẽ đi cánh nào khác mà suốt cuộc hành quân tôi chưa bao giờ thấy lính Bộ Binh của đơn vị đó. Tôi nghĩ có lẽ đơn vị hắn bị đánh, và chạy lạc sang cánh BĐQ chăng? Tôi nói với hắn: “Đây là BĐQ, Không phải Bộ Binh, đi chỗ khác chơi…!!! Hắn vội trả lời: “Dạ , dạ…” và đi ngược lại vào trong chu vi phòng thủ.

Tôi chợt nghĩ đêm tối thế này làm sao hắn kiếm được đơn vị Bộ Binh của hắn. Tôi bèn nói: “Đêm tối làm sao mà về đơn vị được,thôi nằm sau lưng tôi, sáng đi kiếm sau”. Hắn: “Dạ , dạ…” và nằm xuống sau lưng tôi. Tôi vẫn ở dưới hố, chong súng ra ngoài. Đơn vị BĐQ thời đó được trang bị súng cá nhân Carbin M1 bán tự động (bắn phát một). Tôi ngoại giao với LLĐB / VN xin được báng súng gấp và bộ máy cò bắn tự động, trong khi đó Dân sự chiến đấu Thượng đã được trang bị Carbin M2 tự động (thấy mà tủi thân, mặc dù BĐQ là lực lượng trừ bị và ưu tú của Quân đoàn.) Té ra trong lúc xung phong, tên địch đã chạy lọt vào trong chu vi phòng thủ của quân ta và lúng túng kẹt lại, trong lúc đồng bọn đã tẩu tán hết. Đã rờ rẫm thiết giáp, và nay lại biết rõ là BĐQ , muốn thoát ra khỏang trống giữa hai thiết giáp lại đụng quân ta ở giữa . Có lẽ hắn đã ” Hồn xiêu , phách lạc ” , sợ qúa nên thần kinh trở thành tê liệt, lò mò đi tìm lối thoát. Tôi chợt quay lại phía sau, đã thấy hắn nằm kế bên, nay lại thấy hắn đứng lên bỏ đi. Do linh tính, tôi bước ra khỏi hố, tay trái cầm thân súng Carbin báng gấp, tay phải nắm vào lưng quần hắn, trên hai bàn tay hắn .” Trời ơi , lưu đạn chầy!!!!” . Tôi chết sững như Từ Hải chết đứng, tay phải vẫn nắm chặt 2 bàn tay hắn trên lưng quần. Hắn đang tháo lựu đạn chầy ra, nhưng có lẽ run qúa nên chưa tháo kịp. Tôi hoàn hồn trở lại, tay trái cầm thân súng Carbin kéo ra phía sau vì sợ hắn giật cây súng, dọa hắ : ” Mày mà động đậy là tao bắn”. Tôi rất muốn lùi tay ra sau về chỗ lẩy cò và cho hắn về thăm ông bà, nhưng làm sao buông dần thân súng để lùi tay được. Ngoài ra khóa an toàn chưa mở thì cũng vô ích. Tên hiệu thính viên cùng chung dưới hố phòng thủ với tôi cũng không biết gì hết. Tôi gọi nhỏ tên hắn, hắn bước ra khỏi hố và tôi nói với hắn: “Tên này là VC, trói hắn lại”. Hắn lúng túng mãi mới kiếm ra giây trói 2 cánh tay tên địch ra sau lưng và trói chân, đặt nằm sau lưng và cạnh phía sau thiết giáp. Lúc đó, tôi trở thành lính gác giặc bên ngoài và gác tên tù binh bên trong. Chỉ có tôi và hiệu thính viên biết việc này và tôi không nói cho ai biết hết, vì không biết trận chiến còn tiếp diễn ra sao, nếu nói ra làm mọi người hốt hoảng thêm, không ích lợi gì . Tờ mờ sáng, mặt trời chưa mọc, sương mù còn nhiều, một chiến sĩ BĐQ của tôi đi tới, có lẽ kiếm tôi và tôi chỉ tên VC bị trói nằm đó. Hắn nhảy lùi lại, la hoảng lên: “Giết hắn đi”. Tôi chỉ phì cười. Sau đó tôi gọi Chuẩn úy Tuyển của thiết giáp chui từ trên pháo tháp M41 đi xuống và chỉ cho hắn tên VC nằm sát cạnh thiết giáp. Hắn giật bắn người và la hoảng lên: ” Giết hắn đi …” vì tên địch nằm kế bên cả đêm mà thiết giáp không biết gì hết.

Lúc đầu tên tù binh rất sợ sệt vì ai cũng đòi giết, nhưng sau thấy tôi đối xử tử tế, cho ăn, uống, hút thuốc (mặc dầu tay vẫn bị trói),thăm hỏi tình hình, quê quán.. Tôi còn nhớ tên hắn là Trung và mặt mày hắn tươi tắn, sáng rỡ, cười nói thành thật những gì tôi hỏi vì biết chắc là thoát chết. Sau đó hắn xin nới lỏng dây trói, xin tháo dây trói và hứa sẽ không bao giờ bỏ chạy. Thấy hắn hiền lành và tội nghiệp, tôi cho thaó dây trói chân. Cũng may cho tôi là súng của hắn đã bị mất trong lúc giao tranh, nếu không thì mạng của tôi cũng nguy rồi, đâu còn dịp kể lại kỷ niệm này cho các bạn nghe … Sáng hôm đó, tôi cho lính lục soát xung quanh thâu lượm súng của ta và địch gom thành bó và báo cho M113 tới chở đi cùng tù binh, vì trên lại có lệnh tiến quân. Súng ống tịch thu qúa nặng làm sao mà khiêng vác nổi trên đường hành quân.

Cùng lúc đó, có một chuyện vừa đau thương và vừa tức cười là có một số chiến sĩ BĐQ của tôi bị tử thương, tôi ra lệnh cho một binh sĩ dưới quyền lấy poncho (áo mưa, làm lều, bọc xác) gói bọc xác các đồng đội tử thương lại. Có lẽ lính mới, nên không dám rờ tử thi. Tôi quắc mắt, làm nghiêm ra lệnh: “Hắn có đánh , có cắn mày đâu mà mày sợ cái gì chớ? Mày mà không lo cho bạn bè, đồng đội thì tới lượt mày, không ai lo cho mày đâu ..” Nghe nói vậy, hắn sợ cho bản thân, đi làm ngay lập tức. Tôi thấy vậy cười thầm trong bụng, nhưng lòng đầy xót xa… Lính BĐQ sống mạnh, sống hùng nhưng không sống lâu. Đạn tránh người chứ người làm sao tránh được đạn. Người ta ai cũng chết, không chết trước thì chết sau cũng thế thôi, nhưng sống, chết có ý nghĩa và được mọi người thương mến thì mới là trọn vẹn.

Ngay buổi chiều gần tối, trong ngày đầu giao tranh, một đoàn trực thăng UH1B của 1 st CAV chở Tiểu đoàn 22/ BĐQ do Đại úy Phạm văn Phúc làm Tiểu đoàn trưởng bay thấp sát ngọn cây tăng viện bên cánh trái, 2 Km phía Nam hướng tiến quân của TĐ 21 BĐQ và Thiết giáp. (bên hướng rặng núi Chu Ho). Vì trời tối TĐ 22/ BĐQ đã án binh bất động, phòng thủ qua đêm, tuy có nghe tiếng quân CSBV di chuyển, nhưng không giao chiến với quân địch vì tầm tác xạ qúa xa, nên chỉ gọi pháo binh bắn tập trung vào những điểm có hướng địch di chuyển. Cánh B di chuyển cùng đoàn convoy tiếp liệu đã bị thiệt hại nặng vì địch phục kích và vận động chiến nhiều đợt với quân số đông gấp bội. Địch đã tràn ra như thác lũ, trong khi quân ta di chuyển trên đường trải dài ra mấy cây số với 2 cây đại bác 105 mm và đoàn quân xa tiếp vận (Xăng, dầu cho chiến xa, đạn dược, thực phẩm, nước uống…) Hai khẩu đại bác và đoàn quân xa hoàn toàn bị phá huỷ, địch đã làm chủ và thanh toán chiến trường trong đêm tối. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 21BĐQ với Đại đội 3 và 4 còn lại lùi dần về phía sau 1 Km và phòng thủ qua đêm tại một Ấp Chiến Lược của ta đã bỏ hoang từ trước. Tại cánh A, địch và ta đánh trộn trấu, không thể phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù, súng cá nhân và lựu đạn gần như không sử dụng được vì dễ bắn lầm bạn, làm lộ vị trí, nên chỉ rờ quân phục của nhau và xử dụng lưỡi lê đánh cận chiến trong đêm tối…

Cho đến lúc gần sáng, bộ phận còn sống sót của 3 tiểu đoàn 344, 635, và 966 của Trung đoàn 32 CSBV đã rời bỏ chiến trường, kéo rút về căn cứ đóng tại rặng núi Chu Prong, sát gần biên giới Cam Pu Chia. Một số bị thương nặng đã đựơc khiêng, vác đến một bệnh viện dã chiến, với một vài nhà thấp làm bằng cây rừng và rơm rạ sơ sài chỉ cách trại LLĐB Plei Me khoảng 15 Km theo đường chim bay về hướng Tây Nam. Bệnh viện dã chiến này, sau đó đã bị sư đoàn Không Kỵ 1 st CAV Hoa kỳ tình cờ tìm ra và phá hủy, khi họ dò theo những đám tàn quân rải rác, theo đường rút lui thấy từ trên phi cơ. Đến sáng ngày 25-10-1965, sau khi đã thu dọn chiến trường và tải thương, Tiểu đoàn 21 BĐQ và lực lượng Thiết giáp, Thiết vận xa đã tiếp tục tiến về hướng trại Plei Me, giải tỏa xung quanh, chấm dứt sự vây hãm “Công đồn” của quân CSBV Giai đọan I kể như thành công và chấm dứt. Trên lộ trình rút quân trở lại Plei Ku, chúng tôi được một đơn vị nhỏ của TQLC bảo vệ an ninh trục lộ. Một kỷ niệm nhỏ khác là trong máy truyền tin PRC 10 của tôi có tiếng nói lanh lảnh, sắc bén, chanh chua, đanh đá của một cô gái Bắc Kỳ thuộc Mặt trận B3 (Mật khu, Bộ chỉ huy) kêu ra rả: ” ơn Tây gọi Đồng Đăng, trả lời”. Danh hiệu truyền tin toàn những địa danh miền Bắc. Nghe mãi điếc cả con ráy. Máu tiếu lâm của tôi lại nổi lên, hơn nữa cũng muốn cô ta ra khỏi tần số nội bộ của tôi, bèn nói với cô: “Đồng Đăng nó chết đã lâu rồi, thôi đừng gọi hắn nữa, nghe hoài .., khổ lắm…, nói mãi…” Tôi nghĩ cô ta nghe như vậy cũng phải phì cười, nhưng lệnh là lệnh, cô ta vẫn kêu ra rả như chim cuốc kêu mùa hè. Tài liệu bắt được của địch, khai thác tù binh và sau khi chiến tranh VN chấm dứt, Trung Tá Harold Moore đã đi gặp Tướng Võ Nguyên Giáp, Chu Huy Mân và Nguyễn Hữu An để thâu thập tài liệu trận chiến để viết cuốn hồi ký “We were soldiers once,… and young” được biết Trung đoàn 33 bị tổn thất 40 % , trong đó có 2 trong 3 Tiểu đoàn trưởng bị tử thương. Một Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 33 bao vây căn cứ Plei Me chỉ còn lại khoảng một Đại đội. Tất cả 18 khẩu vũ khí phòng không 12.7 mm và 11 khẩu súng cối của tiểu đoàn súng nặng đều bị hủy diệt. Riêng Trung đoàn 32 bị thiệt hại nặng nề khi giao tranh với Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 7, thuộc Sư đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ trong giai đọan II của chiến dịch và sau đó đụng độ với Nhảy dù VN dưới quyền chỉ huy của Trung tá Ngô Quang Trưởng, và Thiếu tá cố vấn Norman Schwarzkoff. Trung đoàn 32 đã bị thiệt hại nặng nề và tháo chạy qua biên giới Cam Pu Chia.

PHẦN KẾT:

Mặc dù quân số của địch đông hơn, chủ động trong trận Đả viện, ưu thế về vũ khí tối tân hơn, địa thế thuận lợi để phục kích đoàn xe, nhưng quân ta vẫn hoàn thành nhiệm vụ là giải vây cho tiền đồn Plei Me, bẻ gãy kế hoạch cắt đôi Cao nguyên của kẻ địch.

Do cuốn sách và phim ảnh ” We were soldiers …and young ” của Tướng Horold Moore về trận chiến ở thung lũng Ia Drang của Tiểu đòan 1, Lữ đoàn 7 thuộc Sư đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ và một số tài liệu viết rất mơ hồ và quá tổng quát về trận đánh Công Đồn Đả Viện Plei Me giữa QLVNCH và lực lượng CSBV mới xâm nhập. Rút tỉa kinh nghiệm chiến trường trong năm 1965, ta có thể suy đoán được mục tiêu chiến lược của CSBV là cắt đôi Miền Nam ra làm hai, tạo sự khủng hoảng, rối loạn. Để đạt mục tiêu trên, CSBV đã áp dụng chiến thuật chủ yếu “Công Đồn – Đả Viện” để tiêu diệt hoặc gây thiệt hại nặng cho lực lượng xung kích, tổng trừ bị như Nhảy dù, TQLC và BĐQ của ta, giống như đánh rắn phải đập khúc đầu trước, còn phần thân và đuôi sẽ tự động tan rã. 39 năm sau trận chiến Plei Me mà tôi đã được tham dự và 29 năm sau tháng Tư đen, thực tâm tôi muốn quên đi những di lụy đau buồn của cuộc chiến ủy nhiệm và vì ” Nhất Tướng công thành vạn cốt khô”. Nhưng người em trai của tôi cứ thúc dục để xác minh những thiếu sót và để các thế hệ sau hiểu rõ thêm một khía cạnh của cuộc chiến “Huynh Đệ tương tàn” , nên tôi xin phép được góp vài lời sơ, ý thiển vậy.

 NHÀ BÀ NỮ - TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH CỦA MỘT PHONG CÁCH LÀM PHIM ĐỘC HẠI


Đối với một ngành công nghiệp nhiều rủi ro như điện ảnh, học hỏi, "bắt chước" công thức của một phim cháy vé để "nhân bản" những phim na ná là một hiện tượng phổ biến. Sẽ không có gì để nói nếu như bộ phim cháy vé F1 là một phim tốt, như trường hợp phim road trip Tèo em của Charlie Nguyễn từng làm dấy lên một làn sóng phim hài hành trình F2 "ăn theo" trên màn ảnh Việt. Tuy nhiên, không phải phim cháy vé nào cũng là phim tốt, ngược lại, có khi nó còn là một bộ phim "độc hại". Nhà bà Nữ của Trấn Thành mùa phim Tết năm nay là một điển hình.
Là một phim cháy vé, liên tục phá vỡ những kỉ lục của điện ảnh Việt, Nhà bà Nữ, tất nhiên, có rất nhiều ưu điểm. Những ưu điểm ấy - các nhà báo, nhà phê bình và một lượng lớn khán giả đã ngợi khen rầm rộ xuyên Tết, nên tôi chẳng cần phải nói thêm. Tôi chỉ nói về một số điều bất ổn trong cách làm phim của phim này, với hy vọng Nhà bà Nữ không trở thành một F1 độc hại của điện ảnh Việt - một nền điện ảnh vẫn còn bấy yếu.
1. Bản tóm tắt nghẹt thở của một web drama dông dài
Xem xong Nhà bà Nữ, tôi có cảm giác mình vừa xem xong một chiếc clip review phim trên Facebook Watch (thực chất là tóm tắt phim từ 120 phút xuống còn 14 phút kèm với giọng thuyết minh của chị google và nhạc nền tèn ten tén tèn ten tén đầy đau tim). Không biết trào lưu review phim nhan nhản trên mạng xã hội có phải là nguyên nhân khiến Trấn Thành có thêm cảm hứng làm phim theo phong cách chạy như ăn cướp này hay không...
Câu chuyện của Nhà bà Nữ là một câu chuyện cũ, nhưng vẫn rất hợp thời, và sẽ là câu chuyện dai dẳng trong mọi gia đình Việt: một bà ngoại xì tin thương cháu, một bà mẹ đơn thân độc hại, hai đứa con gái nông nổi - với motif "đi thật xa để trở về", “vấp ngã để trưởng thành”, "gia đình là số một". Một câu chuyện như thế, nếu kể điềm đạm, tinh tế, Trấn Thành rất có thể đã làm được một "phim tốt nghiệp" ra trò cho việc tự học đạo diễn. Nhưng rất tiếc, để thực sự trở thành đạo diễn điện ảnh, anh còn phải học nhiều. Mà quan trọng nhất là học tiết chế.
Mạch phim của Nhà bà Nữ nhanh đến ná thở, cứ như là gộp 5 tập web drama lại thành 1 file rồi bấm tốc độ phát x 3,14 vậy. Đó là hệ quả của một kịch bản ôm đồm theo lối chương hồi mà chuyện gì cũng phải kể: kiểu như tháng 7 con Nhi còn chuyên cần bưng bánh canh cho bà Nữ rồi tháng 8 con Nhi đi sinh nhật con Lan quen được thằng John, tháng 9 hai đứa bồ nhau, tháng 10 hẹn hò liên tục, tháng 11 con Nhi có bầu, tháng 12 con Nhi bị phát hiện có bầu, bỏ nhà đi; rồi tháng 1, 2, 3 năm sau con Nhi với thằng John khởi nghiệp rồi sạt nghiệp; tháng 4,5 mâu thuẫn, cãi lộn; tháng 6 sảy thai - xù nhau; nhiều tháng sau con Nhi trưởng thành đủ sức truyền kinh nghiệm cho thế hệ trẻ vật vã vào đời.
Câu chuyện con Nhi vào đời đã lê thê, công thức rồi. Mà bên lề câu chuyện chính đó, những nhân vật khác cũng có những câu chuyện phụ rườm rà: chuyện bà Nữ vì sao mà nuôi mối hận đàn ông; chuyện lục đục mày tao giữa vợ chồng con Như thằng Nhuận; chuyện nhà thằng John với một ông bố độc hại chẳng khác gì version nam của bà Nữ; rồi chuyện yêu đơn phương bà Nữ của ông Liêm tổ trưởng, chuyện của tiktoker thị phi Lê Minh Hổ…
Với một kịch bản đời thường trong nhà ngoài phố nhiều đường dây, mối nối như thế; Trấn Thành đang quay lại truyền hình hóa phim điện ảnh; tước mất ở thể loại này những khoảng lặng suy tư, những “khoảng trống” hữu ý, những ước lệ giàu sức khái quát… Cách kể chuyện tỉ mỉ, ôm đồm này của anh độc hại vì nó tiếp tục nuông chiều kiểu thưởng thức phim “chương hồi”, dễ hiểu, tập trung vào câu chuyện hơn tâm lý nhân vật, đưa thị hiếu thẩm mĩ của một bộ phận khán giả xuống thấp hơn.
2. Lạm dụng voice - over để thao túng tâm lí khán giả
Từ lâu, voice – over (tiếng ngoài hình) đã là một trong những phương tiện biểu đạt của điện ảnh, bằng cách để cho người dẫn chuyện hoặc người bình luận lên tiếng: kể hoặc giải thích rõ hơn về một chi tiết, tình tiết trong phim. Tuy nhiên, dùng voice – over thường là chuyện “cực chẳng đã”, vì nó ít nhiều cho thấy sự bất lực của đạo diễn trong “diễn đạt” bằng hình ảnh. Để lấy ví dụ cho việc “diễn đạt” bằng hình ảnh, tôi sẽ minh họa bằng cảnh đầu phim bộ phim kinh điển Mắt nhắm hờ (Eyes wide shut) của đạo diễn kiệt xuất Stanley Kubrick, đây là một cảnh cực kì đơn giản nhưng giàu chất tự sự đến mức trở thành một case study điển hình. Nhân vật người chồng của Tom Cruise đi vào toilet để soi gương, điều chỉnh lại nơ thắt của bộ suit dự tiệc, trong lúc nhân vật người vợ của Nicole Kidman đang thản nhiên đi vệ sinh, lau chùi, kéo quần, ấn nước, và cửa toilet mở toang. Chỉ một cảnh tuềnh toàng, ít dụng công, Stanley Kubrick đã khắc họa thật sinh động trạng thái uể oải, loãng nhạt, hờ hững của cuộc hôn nhân này, mà chẳng cần đến giọng voice – over nào oang oang, đại loại “Tôi và vợ tôi đã lấy nhau gần mười năm, gần đây chúng tôi đã chẳng còn chung chăn gối, chúng tôi đi vệ sinh cũng chẳng cần đóng cửa”…
Tôi nghĩ, một người thông minh như Trấn Thành không thể không biết cả tác dụng lẫn tác hại của voice – over, nhưng anh vẫn lạm dụng chúng nhiều đến mức tôi nghĩ diễn viên Huỳnh Uyển Ân (vai con Nhi) phải đi thu voice tới mấy ngày để lồng vô phim. Cứ sơ hở là con Nhi lại nói: đầu phim thì nó giới thiệu từng thành viên trong nhà nó, bao gồm cả chính nó, đầy tận tụy (cho dù nó không nói thì ai cũng biết, vì hình ảnh ngồn ngộn của bánh canh cua, livestream kem trộn, sòng tiến lên, xóm lao động…); giữa phim thì nó thuyết minh về bi kịch của từng người trong nhà nó, bao gồm cả nó; rồi cuối phim tự nó rút ra bài học, đúc kết triết lý, cho cả nó, gia đình nó và cả rạp phim. Con Nhi nói nhiều tới mức tôi ước gì có cái remote để bấm mute, mà quên mất là mình đang ở rạp, và đang coi phim rạp chớ không phải đang coi đá banh có Tạ Biên Cương.
Cớ sao Trấn Thành lại cho con Nhi nói nhiều như vậy? Thực ra năng lực kể chuyện bằng hình ảnh của anh không hề yếu kém, bằng chứng là Nhà bà Nữ vẫn có những thước phim giàu chất tự sự: cảnh bầy cua bò ngang như cái nết ngang ngạnh của người nhà bà Nữ; cảnh bà ngoại Ngọc Ngà mở Audio Phật Pháp nghe “Ai chửi mắng thì ta giả điếc…”; cảnh cãi lộn vì nồi lẩu thiếu bò wagyu của Nhi và John… Thế nên nguyên nhân cho chuyện lạm dụng voice – over của Trấn Thành chỉ có một: nó thể hiện ẩn ức, khát khao được dạy dỗ người xem của Trấn Thành. Đây là một căn bệnh trầm kha của anh, từ dẫn chương trình đến làm giám khảo gameshow, diễn viên, biên kịch rồi đến đạo diễn; lúc nào anh cũng tranh thủ “dạy” mọi người nghệ thuật sống, nghệ thuật yêu, nghệ thuật làm việc, thậm chí cả nghệ thuật làm cha làm mẹ. Anh tận tụy dạy qua bao chương trình, như một giáo viên yêu nghề, dẫu cho anh không có kĩ năng sư phạm, và khán giả cũng không phải là học trò của anh. Thế nên, khi làm phim, chuyện anh tiếp tục triết lí, giáo điều cũng không có gì là lạ. Thời điểm anh làm Bố già, may mà có Vũ Ngọc Đãng kiềm anh lại, nên xem khá dễ chịu và cảm động; còn với Nhà bà Nữ lần này, anh nhảy chồm chồm vào trong phim mượn giọng con Nhi để tiếp tục tâm huyết sư phạm.
Thật ra ở điểm này, tôi thấy thương Trấn Thành nhiều hơn ghét. Sự nói nhiều thành tật, sự ham thuyết giảng của anh trước hết là do đặc trưng nghề nghiệp. Và sâu hơn, nó xuất phát từ tình thương, sự nhiệt huyết của anh với con người và cuộc sống. Dù làm MC, giám khảo, hay làm phim, Trấn Thành đều mong muốn mang đến những giá trị, bài học, cảm hứng tích cực cho khán giả. Với Bố già và Nhà bà Nữ, Trấn Thành thậm chí còn có tham vọng chữa lành những tổn thương sâu sắc thâm căn cố đế trong mỗi gia đình Việt, để lên án một lối dạy con độc hại, thương con độc hại, hy sinh độc hại – tất yếu sẽ dẫn đến những đứa con méo mó, lệch lạc. Rõ ràng, trong bối cảnh giáo dục truyền thống đang bộc lộ nhiều hạn chế như hiện nay, những bộ phim của Trấn Thành đã cảnh tỉnh nhiều phụ huynh, nhiều người trẻ về những sai lầm trong ứng xử, để hướng tới những mô hình giáo dục gia đình tiến bộ hơn.
Nhưng tình thương dễ khiến ta mù quáng. Chính vì Trấn Thành quá dạt dào tình thương nên anh đã nôn nóng đặt mình ở vị thế cao hơn khán giả để nói thật to cho khán giả biết họ phải sống như thế nào, dạy con ra sao, yêu thương như thế nào cho đúng cách. Thay vì để cho khán giả tự “đọc” ra những thông điệp kín đáo, tinh tế, thuyết phục; Trấn Thành để con Nhi đọc luôn cho nó lẹ. Như vậy, chính anh lại tự biến mình thành một nhà giáo dục độc tài, áp đặt, thao túng tâm lý người khác, ép họ phải chấp nhận nghĩa duy nhất của tác phẩm, cấm được hiểu khác. Rõ là kẻ tổn thương lại muốn trị liệu tổn thương cho người khác. Tuyên truyền về giáo dục cởi mở, khai phóng bằng một câu chuyện áp đặt, đơn nghĩa, Trấn Thành vẫn quẩn quanh trong mớ triết lý gượng ép của chính mình.
Tôi không biết khi làm Nhà bà Nữ, liệu Trấn Thành có chịu ảnh hưởng chút nào của vở kịch nổi tiếng Ngôi nhà không có đàn ông (tác giả Ngọc Linh) hay không, mà cốt truyện, hệ thống nhân vật rất tương đồng, cách đặt tên phim cũng na ná. Nếu thực sự anh được gợi cảm hứng từ vở kịch này thì sự học hỏi của anh là một sự học hỏi khá vụng về. Câu chuyện của Ngôi nhà không có đàn ông tinh gọn, nhân vật được xây dựng có chiều sâu tư tưởng nên dẫu cho nội dung rất luận đề thì rời khỏi sân khấu, khán giả vẫn thỏa mãn và tự nguyện đón nhận bao thông điệp cởi mở về tình yêu, tình cảm gia đình, lòng bao dung… Còn với Nhà bà Nữ, người xem như đứa học trò bị nhồi nhét văn mẫu, ấm ức không dám hiểu khác bài học mà đạo diễn bắt nhân vật Nhi giảng đều đều suốt phim. Thật tiếc cho Trấn Thành, nếu như không nôn nóng, không sồn sồn đến mức ô dề, cắt bớt voice – over đi, để câu chuyện hiện lên xanh tươi, sống động, đa nghĩa, thì dễ chịu biết bao nhiêu.
3. Không hề giúp diễn viên thăng hạng diễn xuất
Vốn là một ngôi sao có sức ảnh hưởng lớn trong showbiz, và có một tâm hồn khao khát kết giao, Trấn Thành đi đến đâu là kéo bạn bè, người nhà mình đến đó. Từ gameshow, talkshow đến show truyền hình thực tế; từ web drama đến phim điện ảnh; nơi đâu có Trấn Thành, nơi đó có thầy anh, bạn anh, vợ anh, em gái anh, hàng xóm của anh. Điều này dễ khiến người ta nghĩ rằng: cứ chơi với Trấn Thành là có địa vị, là được anh nâng đỡ. Tuy nhiên, tôi lại thấy tham vọng kiểm soát, áp đặt nơi Trấn Thành dễ khiến anh “dìm hàng” thân quyến của mình, hơn là nâng đỡ tài năng của họ. Trong Nhà bà Nữ, điều đó khá dễ thấy.
Trước hết là Lê Giang, một diễn viên hài duyên dáng, có kĩ năng diễn xuất khá ổn. Dù việc lạm dụng phẫu thuật thẩm mĩ khiến khuôn mặt chị không còn mấy linh hoạt, nhưng nét hồn nhiên, tràn trề nhựa sống nơi chị khiến chị diễn rất mùi những vai phụ nữ lao động phốp pháp, chân chất, mặn mòi, như vai dì Lệ thợ may trong Bố già chẳng hạn. Nhưng ở Nhà bà Nữ, Trấn Thành không hề giúp Lê Giang phát huy những thế mạnh đặc trưng của mình, anh triệt tiêu khả năng diễn xuất bằng hình thể, bằng ánh mắt, nét mặt của Lê Giang, chỉ để cho chị chửi, chửi, chửi và chửi. Anh triệt tiêu khả năng sáng tạo của người diễn viên khi để cho họ phải thoại quá nhiều, không còn chỗ cho một ánh mắt thất thần, một cái thở dài, một cái đấm tay vào lưng cho đỡ cái nhức mỏi của tuổi già thức khuya dậy sớm. Nên nhân vật bà Nữ của Lê Giang không hề có chiều sâu. Bà thiếu những phút ngồi nghe cái áp lực đè nặng trên vai: gánh một bà mẹ già ham vui và đàn con báo đời; bà thiếu những phút nhớ con, chờ con, lo lắng cho con gái đang bụng mang dạ chửa; thiếu những khát khao ôm ấp, vỗ về của một người đàn ông. Nên bà Nữ trở nên thật xa lạ với khán giả, bà là một nhân vật minh họa rất kém thuyết phục. Tôi đã mong chờ Lê Giang kéo lại chút hy vọng cho mình ở đoạn bà Nữ gặp John ở bệnh viện, lúc Nhi sảy thai. Nhưng không, bà lại lao vào gào thét, đánh đập John đến mức khiến tôi muốn trào ngược dạ dày. Không phải người mẹ bình dân, ít học, thô vụng nào cũng đau đớn ồn ào và nông nổi như vậy.
Uyển Ân thì mới vào nghề, nên chưa nói được gì nhiều. Nhưng vì có theo dõi cô bé này trong Bố già bản web drama nên tôi cũng thấy em chưa thực sự bật sáng với vai Nhi, dẫu cho vai này Trấn Thành viết riêng cho em. Ở vai Nhi, mọi thứ đều lưng chừng, lửng lửng: sự ấm ức vừa vừa với mẹ, tình yêu vừa vừa với John, khát vọng lập nghiệp vừa vừa, sự hỗn láo, ích kỉ cũng chỉ ở mức vừa vừa. Có lẽ, việc là em gái Trấn Thành rất dễ khiến Uyển Ân thui chột diễn xuất, nếu chỉ quen đóng dạng vai nạn nhân của bạo hành gia đình; và bị triệt tiêu quyền sáng tạo trong các vai diễn do bị thuần phục bởi anh trai. Song Luân cũng tương tự luôn, vốn là trai đẹp và nhạt, không được đánh giá cao về diễn xuất, ở phim này, Luân cũng vẫn bảo toàn sự nhạt cố hữu, mà may mắn là khá hợp với sự nhạt của nhân vật John.
Những vai diễn còn lại của Ngọc Giàu, Việt Anh, Công Ninh, Khả Như, hay của chính Trấn Thành thì khá vừa vặn và duyên dáng. Ngọc Giàu, Việt Anh, Công Ninh đều là những diễn viên lớn, nên Trấn Thành không đủ sức thao túng họ; vai của Khả Như ổn nhưng chưa có đất diễn để cô được trưng trổ hết khả năng; còn vai Nhuận của Trấn Thành cũng chỉ ở dừng ở mức tròn vai.
Vậy nên, việc chơi chung với Trấn Thành, dường như mới chỉ giúp các diễn viên, ca sĩ có cơ hội, có cát sê, có danh vọng, chứ không thể giúp họ thăng hạng tài năng. Ngược lại, đôi khi mối quan hệ này còn là cái bẫy khiến họ bị triệt tiêu cá tính, năng lực, dưới nguồn năng lượng của Trấn Thành. Thân thôi, đừng thân quá!
4. Kết
Lạ lùng là tôi đã “chê” Nhà bà Nữ bằng tất cả nhiệt huyết và tình cảm dành cho Trấn Thành. Tôi theo dõi Trấn Thành từ khi anh mới chập chững thi Én vàng, cuộc thi tìm người dẫn chương trình truyền hình của HTV. Dần dần chứng kiến anh trở thành một ngôi sao đa năng của showbiz Việt. Anh sở hữu nhiều yếu tố để trở thành một nhân vật lớn ở mọi lĩnh vực mình theo đuổi, bao gồm cả điện ảnh. Vậy nên, nếu những người có sức ảnh hưởng như anh không chịu tiết chế và thay đổi, nghệ thuật đại chúng sẽ càng đi xuống.
Nhà phê bình điện ảnh Lê Hồng Lâm bênh vực triết lí bình dân và sự nghiên cứu thị hiếu khán giả đại chúng kĩ lưỡng của ekip Trấn Thành. Theo anh, để thắng ở phòng vé, nhà làm phim cần nghiên cứu chiêu thức của Trấn Thành. Nhưng tôi muốn nói thêm, giữ phẩm chất nghệ thuật của tác phẩm là sự giữ chân khán giả tử tế và hiệu quả nhất.

HẠ NGUYÊN 
See less

Monday, March 25, 2024

Saturday, March 23, 2024




Những người lính NQ là những chiến sĩ hữu hiệu nhứt của quân đội Nam VN -- Christopher Gaylor, một sĩ quan pháo binh Mỹ. Nguồn: Vietnam veteran's forgotten photos unveiled after 47 years | Daily Mail Online

* Bảo lửa là chữ mà tướng CS Văn tiến Dũng đã dùng cho trận đánh vào thị xã Ban Mê Thuột (BMT) ngày 10.3.75, mở màn cho chiến dịch 275 của csbv. Trận đánh này đã bắt đầu cho sự sụp đổ dây chuyển của các tỉnh thành thuộc quân khu 2, 1, 3 và 4 VNCH trong tháng 3 và 4 năm 1975.

- Trong chiến đấu, tinh thần của người lính bằng BA LẦN sức mạnh của đơn vị. Không có trung đoàn tồi, chỉ có đại tá tồi -- Hoàng đế Napoléon.


LỜI NÓI ĐẦU: trước ngày 30.4.75, một số không ít người trong quân đội VNCH và ngoài dân, thường có tâm lý coi thường lực lượng ĐPQ/NQ vì hai lực lượng này trang bị và huấn luyện không đầy đủ như các đv chủ lực (như Nhảy Dù, TQLC, BĐQ, các sđ bộ binh hay liên đoàn 81 biệt kích dù). Họ thường hoạt động trong tiểu khu, hay đóng quân gần nhà, giữ cầu hay các căn cứ quân sự hay sân bay. (Nói thêm: Trước ngày 30.4.1975, có nhiều TĐ ĐPQ thiện chiến được tăng phái cho tiểu khu khác -- người dịch). Tuy nhiên, trong trận Ban Mê Thuột (BMT), trận đánh mở màn cho Chiến dịch 275 của csbv, có những đv như ĐPQ giữ quận lỵ Đức Lập, dù bị tấn công nặng nề từ 5:55g ngày 9.3.75, đã cầm cự tới 8:30g ngày 10.3.75 mới thất thủ. Có đv như đại đội 2 của TĐ 225 ĐPQ giữ đồi 559 ở tây của BMT và ĐPQ ở BCH tiểu khu Darlac ở gần ngã sáu ở trung tâm thị xã, xem bản đồ, đã đẩy lui nhiều cuộc xung phong của quân csbv từ sáng sớm ngày 10.3.75, gây nhiều thiệt hại cho đối phương. Tính tới tối 10.3.75, dù quân csbv đã chiếm trung tâm thị xã, đại đội này vẫn cố thủ ở đồi 559, và đại đội 4 của TĐ 242 vẫn còn cầm cự ở kho đạn Mai Hắc Đế. Đại đội 4 của TĐ 243 ĐPQ vẫn giữ đồi 491 ở nam thị xã. Riêng tại phía tây sân bay Phụng Dực, tàn quân của BCH tiểu khu và một số đv BĐQ vẫn còn chiến đấu. Và còn nhiều ví dụ khác về tinh thần chiến đấu của ĐPQ/NQ ở tỉnh Darlac và Quảng Đức trong thời gian này.

Sau đây là chuyển ngữ từ trang 149 đến 152 của quyển Từ Ngưng Bắn Đến Đầu Hàng của ĐT Le Gro của Phòng Tùy viên Quốc phòng DAO tại VN. 

====

"Tỉnh lộ 487 uốn khúc xuyên qua núi rừng ở tây nam của tỉnh Phú Bổn, chạy từ Cheo Reo, tỉnh lỵ của tỉnh, đến Buôn Blech, một nơi trên QL-14 cách Ban Mê Thuột (BMT) khoảng 60 km về phía bắc. Buôn Blech cũng là quận lỵ của quận Thuần Mẫn, đã bị Bắc quân tấn công ngày 8 tháng 3, mở đầu cho Chiến dịch 275 của CSBV. Các đv của trung đoàn (tr.đ.) 9, sđ 320 csbv, đã tấn công BCH chi khu Thuần Mẫn và đại đội 23 trinh sát khiến các đv này rút lui. Trong khi đó, trung đoàn (tr.đ.) 45 VNCH trên QL14 gần Thuần Mẫn cũng báo cáo chạm địch. Trận đánh tiếp tục suốt ngày 8.3, nhưng cuối cùng QL-14 đã bị cắt bởi tr.đ. 9, sđ 320 csbv. 

Ngày 9 tháng 3, sđ 10 csbv đã đồng loạt tấn công khắp tỉnh Quảng Đức. Ở quận lỵ Kiến Đức quân csbv đã bị BĐQ đẩy lui, và ĐPQ ở quận lỵ Đức Lập, cũng thuộc tỉnh Quảng Đức, dưới quyền chỉ huy của trung tá Nguyễn cao Vực, vẫn giữ vững phòng tuyến. (Nói thêm: Theo hồi ký Cuộc rút quân khỏi Quảng Đức của cựu thiếu tá pháo binh Trần văn Bường, cách Đức Lập về phía tây khoảng 8 km có căn cứ Núi Lửa, có trung đội pháo binh 105 ly của trung úy Nguyễn văn Quý, được bảo vệ bởi đại đội chỉ huy của TĐ 261 ĐPQ của thiếu tá Bùi Ngọc Long, cũng bị pháo khủng khiếp và thất thủ cùng ngày. Căn cứ Núi Lửa nằm giữa Đức Lập và Dak Song -- người dịch). 

Nhưng ở phía nam Đức Lập, tại ngã ba Dak Song, pháo kích ồ ạt và các đợt xung phong của csbv đã đẩy lui TĐ 2/53 thuộc sđ 23 bộ binh khỏi vị trí và Dak Song thất thủ vào buổi trưa. (Nói thêm: Theo hồi ký của cựu thiếu tá Trần văn Bường thì: Sáng ngày 9.3.75, tại ngã ba Dak Song do TĐ 2/53 trấn giữ, chỉ huy bởi đại úy Nguyễn Tiên (khóa 11 Thủ Đức, vừa thay thế thiếu tá Võ đức Lai), có 1 trung đội pháo 105 ly đóng chung, "không thấy đấm đá gì hết, nhưng không hiểu tại sao chúng tôi không liên lạc với họ được"... Do đó ông tìm cách đáp xuống căn cứ Dak Song, nhưng bị nhiều loạt pháo của đối phương khiến trực thăng phải lập tức cất cánh. Từ đó về sau đến khi rút bỏ Quảng Đức, ông đã ko thể liên lạc với cánh quân này -- người dịch).  

Vào lúc này, tướng Phú đã nhận thức rằng tỉnh Darlac, trong đó có thị xã BMT, mới là chiến trường chánh và ông cần gấp viện binh. Ông đã yêu cầu bộ tổng tham mưu (BTTM) gửi thêm một liên đoàn BĐQ nhưng bị từ chối; BTTM chỉ còn ít quân trừ bị, trong khi đe dọa đối với Sài Gòn (SG) và Tây Ninh ngày càng tăng. Không thể xin viện binh từ BTTM, tướng Phú đã rút hai TĐ 72 và 96 BĐQ thuộc liên đoàn 21 BĐQ, chỉ huy bởi trung tá Lê Quý Dậu, từ đèo Chu Pao và Kontum và trực thăng vận họ về Buôn Hô, từ đây họ được xe GMC chở về BMT ở 35 km về phía nam. Ông cũng ra lịnh cho đại đội 45 trinh sát, đang ở Bản Đon, phía tây của BMT phải về BMT. 

Theo tường trình của tướng Dũng, lúc 0200 g Hà Nội của sáng ngày 10/3: "Cuộc tấn công vào BMT đã mở đầu với các đv đặc công đánh sân bay Phụng Dực và sân bay L-19. Pháo binh tầm xa đã bắt đầu phá hủy các mục tiêu quân sự tại BMT. Từ một điểm cách BMT 40 km, các đv xe tăng của chúng tôi đã nổ máy, ủi sập các cây đã cắt trước phân nửa, hướng về BMT. Trên sông Sre Póc hay Krong, các cầu phao đã được nhanh chóng ráp nối, trong khi các xe tank, thiết vận xa, súng phòng không và súng chống tăng chờ chực vượt sông. Rừng núi Tây Nguyên đã rung lắc trong một cơn bảo lửa."

Trong sáng sớm của ngày 10.3, đạn đại bác và hỏa tiển đã rơi như mưa xuống thị xã BMT, và đạn cối cũng rơi vào sân bay Phụng Dực. Sau khi dứt pháo , bộ binh và đặc công CSBV đã tấn công kho đạn Mai hắc Đế ở tây của thị xã; và đại đội 2 của TĐ 225 ĐPQ đóng trên đồi 559 ở tây bắc của thị xã, và BCH tiểu khu Darlac. Các cuộc tấn công này đều bị đẩy lui với thiệt hại nặng cho Bắc quân. Ngay trước 4 g sáng, TĐ 3/53 của sđ 23 ở sân bay Phụng Dực, bị tấn công dữ dội, và xe tăng csbv xuất hiện ở tây bắc thị xã. 


Trong khi đó, các cuộc tấn công ở Quảng Đức vẫn tiếp tục khi TĐ 259 ĐPQ đã đẩy lui (fight off) địch trên tỉnh lộ (TL) 12 giữa Dak Song và Đức Lập và BĐQ vẫn giữ vững trận địa tại quận lỵ Kiến Đức và tỉnh lỵ Gia Nghĩa. Tuy nhiên ngày 15/3, quân phòng thủ ở Kiến Đức,  quá kiệt sức, đã bị tràn ngập.
... 
Vào giữa sáng ngày 10.3, các đại đv của sđ 320 csbv đã xâm nhập BMT. Trận đánh ác liệt đã xảy ra ở khu vực phía nam của BMT gần tư dinh của tỉnh trưởng, BCH tiểu khu, và BTL sđ 23 bộ binh. Năm xe tăng T-54 đã bị phá hủy hay hư hại gần BTL sđ 23, nhưng một quả bom thay vì rớt xuống xe tăng CS, đã đánh sập trung tâm hành quân của sđ 23, khiến mọi chỉ huy và liên lạc đều gián đoạn. Hai xe tăng T-54 đã bị phá hủy gần sân bay thị xã, ý nói sân bay L-19. Quân phòng thủ tại đây, dù ít ỏi, đã anh dũng đẩy lui nhiều đợt xung phong và cố thủ tại tháp điều khiển không lưu, nhưng cố gắng của tướng Phú nhằm trực thăng vận hai TĐ ĐPQ từ Bản Don, ở phía tây BMT vào thị xã đã ko thực hiện được do hỏa lực mạnh mẻ của địch. Do đó hai TĐ này đã chuyển hướng về Buôn Hô, cũng đang bị tấn công bằng súng cối ngày 10.3. Trận đánh tại sân bay L-19 đã phá hủy tám máy bay của sđ 6 không quân, một trực thăng CH-47 Chinook, một quan sát cơ O-1 hay L-19, và sáu trực thăng UH-1. Bốn trong bảy chiếc UH-1 thuộc sđ 2 không quân đã bị phá hủy trên mặt đất, nhưng ba chiếc khác, dù bị hư hại đã cất cánh dưới hỏa lực mạnh mẻ của địch. Kho đạn Mai Hắc Đế, ở tây nam thị xã đã bị tràn ngập; 10 ngàn đạn 105 ly bị phá hủy, và hai đại bác 105 ly bị mất.
Tại sân bay Phụng Dực ở phía đông BMT, TĐ 3/53 bộ binh đã bắt hai tù binh, và họ khai rằng họ thuộc tr.đ. 25 độc lập và tđ 401 đặc công. Trong khi đó, tại BMT, quân csbv cũng bắt được tù binh. Hai thành viên của Ủy ban quốc tế về giám sát và kiểm soát đình chiến (ICCS) gồm một người Iran và một Indonesia trú ẩn tại ông Paul Struharic, đại diện của tòa lãnh sự Mỹ tại tỉnh Darlac. Tám nhân viên dân sự ngoại quốc bao gồm các người truyền đạo, và gia đình của họ ở nhà của Struharic khi Bắc quân xông vào nhà bắt họ. Sau đó họ bị giam ở Đức Cơ, và cuối cùng được thả.
Vào tối ngày 10.3, quân csbv đã chiếm được trung tâm của thị xã, trong khi đó, một số đv bộ binh, thiết giáp, và ĐPQ VNCH vẫn còn cố thủ ở phía đông, tây và nam thị xã. Đại đội 2 của TĐ 225 ĐPQ, đã kể ở trên, vẫn cố thủ ở đồi 559, và đại đội 4 của TĐ 242 ĐPQ vẫn còn chiến đấu ở kho đạn Mai Hắc Đế. Tại một đồn điền cà phê ở tây của thị xã, phần lớn chiến sĩ của TĐ 1/53 bộ binh, BCH và chi đoàn 3/8 thiết kỵ, vẫn còn giữ vững phòng tuyến. Đại đội 4 của TĐ 243 ĐPQ vẫn còn cố thủ ở đồi 491 ở nam thị xã. Các đv nhỏ của trung đoàn 53 và ĐPQ vẫn còn chiến đấu trong thị xã, nhưng trận chiến ác liệt nhứt xảy ra tại sân bay Phụng Dực. Tại đây, một BCH tiền phương của sđ 23 và BCH trung đoàn 53 và chi đoàn 3/8 thiết kỵ đã hợp đồng chiến đấu. Một số tàn quân của BCH tiểu khu và vài đv BĐQ chiến đấu ở tây của sân bay Phụng Dực. Nói thêm: sân bay Phụng Dực nguyên là một trại LLĐB Mỹ, hệ thống công sự rất vững chắc nên đã cầm cự lâu dài -- người dịch.
Chiến sự rất ác liệt đã tiếp tục ngày 11.3. Quân phòng thủ ước lượng hạ 400 địch, thu 50 súng, và phá hủy 13 xe tăng; trung đoàn 53 báo cáo bị tấn công bằng súng phun lửa. Những ổ kháng cự lẻ tẻ trong thị xã vẫn còn, dù đại tá tỉnh trưởng Nguyễn Trọng Luật, bị bắt sống.
Tại tỉnh Pleiku, liên đoàn 4 BĐQ không đạt thắng lợi trong trận chiến ác liệt gần Cầu 23 trên QL19 và căn cứ hỏa lực (CCHL) 93 vì tr.đ. 95 B đã phản công dữ dội trong hai ngày 11-12/3/75. Nhiều trận đánh nhỏ xảy ra ở phần còn lại trong tỉnh. Ngoại vi của thị xã Pleiku bị tấn công bằng cối, BTL quân đoàn 2 bị hư hại nhẹ do trúng hỏa tiển 122 ly; và ba máy bay A-37 và kho xăng và kho chứa phụ tùng máy bay ở sân bay Pleiku bị phá hủy bởi hỏa tiển 122 ly. 
Những biến cố đầy bất hạnh này ở quân khu 2 đã biến thành một bước ngoặc trong chiến tranh VN, khi TT Thiệu đã có một quyết định mà sau đó đã gây nhiều tác hại cho QLVNCH và tạo cơ hội tốt cho đối phương. Để bảo toàn quân khu 3 và 4, ông nghĩ rằng phải tái chiếm BMT, mặc dù có thể bỏ Kontum và Pleiku. Vì không thể gặp tướng Phú tại Pleiku quá nguy hiểm, các cố vấn đã khuyên ông gặp tướng Phú tại Cam Ranh, nam của Nha Trang, vào ngày 14.3.
Ngày 12.3, tướng Phú thông báo mọi chiến đấu có tổ chức bên trong thị xã BMT đã chấm dứt. Liên đoàn () 21 BĐQ đã tập hợp tàn quân của hai TĐ 72 và 96 gần sân bay Phụng Dực, và tr.đ. 45 VNCH, chỉ huy bởi ĐT Phùng văn Quang, đã được trực thăng vận tới quận Phước An, phía đông thị xã, trên QL21. Ngày kế, sau khi sđ 320 cũng cố thành quả của họ tại BMT, trận đánh Phụng Dực tiếp tục. Nhận thức tình hình nguy ngập ở cao nguyên, bộ tổng tham mưu (BTTM) đã gửi LĐ 7 BĐQ do ĐT Nguyễn kim Tây chỉ huy, lực lượng trừ bị cuối cùng, từ SG đến Pleiku để thay thế tr.đ. 44 bộ binh (chỉ huy bởi trung tá Ngô văn Xuân, hiện định cư tại San Jose -- người dịch), hầu tr.đ. này có thể tham chiến ở BMT
Tình hình tại Darlac ngày càng xấu đi. Làng Quảng Nhiêu ở bắc BMT đã bị tràn ngập, cũng như làng Buôn Hô trên QL-14. Quân Nam VN bỏ Bản Don, ở tây BMT và rút các đv ĐPQ còn lại. Kế hoạch di chuyển cả trung đoàn 44 khỏi phía tây Pleiku về tiếp cứu BMT không thể thực hiện vì thiếu trực thăng, khiến chỉ có BCH tr.đ. 44 và một TĐ bộ binh tới được Phước An. 
Ngày 14.3, tướng Phú đã lập tại Phước An một lực lượng đặc nhiệm, dưới quyền chỉ huy của chuẩn tướng Lê trung Tường, TL của sđ 23. Bao gồm tr.đ. 45 bộ binh, một TĐ và BCH của tr.đ. 44 bộ binh, và một TĐ của LĐ 21 BĐQ. Kế hoạch là tấn công về phía tây dọc QL21 để bắt tay với quân phòng thủ ở sân bay Phụng Dực, gồm TĐ 3/53, đã chiến đấu liên tục 4 ngày, và tàn quân của TĐ 1/53, đã rút lui từ phía tây thị xã và tàn quân của hai TĐ 72 và 96 BĐQ. 
Cuộc phản công này được yểm trợ về tiếp liệu từ Nha Trang. Một lực lượng đặc nhiệm khác gồm năm TĐ ĐPQ của tỉnh Khánh Hòa được lịnh thông thương con đường giữa Nha Trang và Khánh Dương.
... 
Khi cuộc phản công của sđ 23 từ Phước An đã bắt đầu ngày 15.3, thì tinh thần chiến đấu của tr.đ. 53 tại Phụng Dực lại bắt đầu giao động: họ chiến đấu ko ngừng nghỉ từ nhiều ngày dưới hỏa lực của pháo binh và tấn công liên tục của tr.đ. 25 csbv. SĐ 316, vừa mới di chuyển bí mật từ miền bắc, đã sẵn sàng tấn công trung đoàn 53 và BĐQ đã kiệt sức.
Để chận sđ 23 phản công từ Phước An, tướng Dũng ra lịnh cho sđ 10 rời Quảng Đức. SĐ 10 đã chạm súng với tiền quân của tr.đ. 45 và chận họ ở sông Ea Nhiae, trước khi tr.đ. 45 bắt tay theo kế hoạch với tr.đ. 53 cách họ 10 km. TĐ 2/45, đã tan rả trong trận ác chiến này và cuộc phản công của VNCH đã trở thành cuộc rút chạy. Tướng Tường, TL của sđ, bị thương nhẹ vào ngày 10.3, đã tự ý di tản và giao quyền chỉ huy cho đại tá Đức của lực lượng đặc nhiệm.
Ở phía đông phòng tuyến của sđ 23 tại Phước An, đpq của Khánh Hòa đã gặp kháng cự mạnh mẻ của địch tại quận lỵ Khánh Dương. Chiến đấu để dành cao điểm khống chế ql-21, ĐPQ đã bắt được một số cán binh của tr.đ. 25 độc lập, đám bộ đội này hình như đã xuyên qua phòng tuyến của sđ 23 tại Phước An sau khi ko thể đánh bật trung đoàn 53 tại Phụng Dực. 
Cuộc tấn công của bắc quân tại Darlac đã tái tục, dẫn đầu bởi sư đoàn 10 csbv. Họ tiến theo QL-21, đẩy lực lượng đặc nhiệm của sđ 23 về hướng đông, lúc đầu về Phước An, kế đó vượt qua đồi Chu Cúc gần ranh giới Darlac và Khánh Hòa. Cuối cùng, BTL của sđ 23 chuyển về Khánh Dương để thu nhặt tàn binh của sđ 23 lần lượt trình diện. Trong khi đó, ko được tiếp tế, tàn quân của tđ 3/53, ngày 18.3 đã rút khỏi sân bay Phụng Dực và bắt đầu rút lui trong sức tàn lực kiệt và nguy hiểm (tortuous) về hướng đông. Ngày 21.3, tàn quân của sđ 23 được bốc về Cam Ranh. Vào lúc này, địch vẫn còn giữ cao điểm ở trong và chung quanh quận lỵ Khánh Dương trên QL-21, dù hai TĐ 2 và 3 của tr.đ. 40 sđ 22 được chuyển từ tỉnh Bình Định để tăng cường cho cuộc phản công. Lữ đoàn 3 Dù, rút từ Quảng Nam theo lịnh của TT để làm trừ bị tại SG, giờ chót đổ bộ lên Nha Trang và chuyển gấp về Khánh Dương để ngăn cản bước tiến của sđ 10 csbv. Mọi người đều thấy, trách nhiệm trước mắt của QK 2 là tập hợp lại các đv đã quá kiệt sức vì chiến đấu (battered), hoàn tất việc di tản từ Kontum và Pleiku về đồng bằng, và ngăn chận bắc quân trên QL-21 tại Khánh Dương. Cuộc phản công để tái chiếm BMT sẽ phải chờ./.

Chuyển ngữ từ trang 149 - 152 của sách từ ngưng bắn đến đầu hàng của ĐT Le Gro của cơ quan DAO tại VNCH. 
San Jose ngày 26.3.2024
Tài Trần

 BẢN ĐỒ TỈNH ĐỊNH TƯỜNG TRƯỚC 1975 

Đây là một tỉnh - mà tiểu đoàn 2/10 sư đoàn 7 bộ binh VNCH, mà tôi phục vụ - đã hành quân nhiều nơi trong tỉnh này. Và ngày 11/03/1975, tiểu đoàn tôi, đã tan hàng khi lọt vào ổ phục kích, giữa ban ngày, trên đường tiếp cứu cho đồn Ngã Sáu, đã thất thủ đêm trước.

Trên bản đồ, bạn thấy tỉnh lộ đi từ quốc lộ 4, ngang qua làng Cái Nứa và dẫn tới quận lỵ Hậu Mỹ. Trước đây, nơi này là khu trù mật (agroville) Hậu Mỹ, thành lập từ thời cố TT Ngô đình Diệm để định cư những ng công giáo di cư 1954. Người CS đã nhiều lần tấn công khu này và sau này, lúc chúng tôi đi qua chỉ còn trơ trọi khung sườn thép (có lẽ là phần còn lại của nhà lồng chợ hay ngôi giáo đường ?). Chúng tôi đã đi lại trên hương lộ này 2-3 lần và lần chót là để giải cứu cho đồn Ngã Sáu. Ngày hôm đó, chúng tôi được đoàn xe quân vận đổ xuống gần làng Cái Nứa; chúng tôi đi bộ một quảng và sau đó vượt qua con kinh, nằm bên trái của TL này. TĐ chia làm ba mủi, tiến về hướng tây; địa thế rất trống trải, lúa đã được gặt, ruộng chỉ xâm xấp nước. Và TĐ tôi đã lọt vào ổ phục kích của mấy trung đoàn CSBV và gần như bị tan hàng. Sau đó, TĐ về Đồng tâm "hấp lại" và hành quân lai rai cho tới ngày 30/4/75. Tôi đã có vài bài nói về trận này trên blog này, trong đó có bài của một SQ của CSBV tham gia trận đánh đồn Ngả Sáu .

===

Bản đồ vùng Cẩm Sơn và Bàn Long, tỉnh Định tường

Người viết bài này đã nhiều lần hành quân ở khu vực này. Đây là vùng mà trước 1975 có địa danh là "Ba Dừa", là thủ đô trái cây của cả tỉnh Định tường , cung cấp cho Sài gòn. Vì vậy mà người cs lúc đó đã quyết tâm bám giữ mảnh đất này kể cả chịu đựng các đợt oanh tạc của B-52. Trước đây, máy bay này chỉ oanh tạc các nơi dân cư thưa thớt của vùng 1, 2 và 3 chiến thuật. Thế mà do vùng này chịu áp lực mạnh của địch nên B-52 được xử dụng. Ta thấy con sông Sầm Giang nối xã Vĩnh Kim, quận Sầm Giang với xã Long Trung, quận Cai Lậy. Ngày xưa, lính tráng của tđ tôi khi thấy xe từ QL 4 quẹo phải vào quận Sầm Giang đều buồn, vì vùng nầy đối phương rất lì lợm, quyết tâm bám đất. Tóm lại, đây là vùng đất dữ dằn, lính tráng của hai bên đã chết rất nhiều vì mảnh đất phì nhiêu, đầy hoa thơm trái ngọt này. Có 1 lần tđ hành quân vào vùng này (hình như là xã Long Trung). Khi dừng quân là trời tối mịt, sáng dậy tôi mới biết là mình đã đóng quân trong 1 vườn cây ăn trái đang chín rộ: đầu võng này cột vào 1 cây mận, đầu kia cột vào 1 cây dâu. Tôi đã có một buổi ăn sáng toàn là trái cây. Tóm lại, trước đây, ở đây có dân, nay chiến tranh về, họ phải ra các quận lỵ (như Cai Lậy, Cái Bè hay Sầm Giang) an ninh hơn để sống. Còn xã nào, ít nguy hiểm hơn thì chỉ có người già, đàn bà và trẻ em ở lại. Hỏi đàn ông đi đâu, họ chỉ vào 1 tấm hình trên bàn thờ và nói đã đi lính Cộng Hòa? đã chết rồi. Nhà nào củng có hầm tăng-xê/trancée (hầm trú ẩn, đào âm xuống đất, trên che đậy bởi 1 lớp đất dầy để chịu đựng được pháo).

Theo website của tỉnh ủy Tiền Giang thì: " . . .tỉnh Mỹ Tho là một trọng điểm của khu 8 trong cuộc tiến công và nổi dậy năm 1972. Vì vậy từ cuối năm 1971, bộ chỉ huy tiền phương của quân khu 8 đã xuống chiến trường Mỹ Tho để trực tiếp chỉ đạo. Đầu năm 1972, bộ chỉ huy tiền phương quân khu chuyển sang xã Long Trung huyện Cai Lậy nam. Căn cứ tỉnh ủy Mỹ Tho từ xã Long Trung chuyển sang xã Long Tiên tiếp tục chỉ đạo chuẩn bị cho các cuộc tiến công và nổi dậy trong tỉnh. . . "

Nhận xét: như các bạn đã thấy, các xã "dữ dằn" hầu như nằm trong quận Cai Lậy, một số ít thuộc Sầm Giang hay Cái Bè. Các quận còn lại như Giáo Đức, Bến Tranh, Chợ Gạo hay Châu Thành thì rất an ninh. TĐ tôi ít khi hành quân ở các quận này vì ở đấy địa thế trống trải, phần lớn trồng lúa, ko có vườn tược sum sê rậm rạp như 3 quận kể trên. Người cs phải dựa vào địa hình để sinh tồn và chiến đấu.

====


 MỸ = 41 = 5

THIỆN = 45155 = 20 = 2

KINH = 

BẰNG = 2153 = 11

LĂNG = 3153 = 12 = 3

 Một số ảnh của tỉnh Định Tường.

Like
Comment
Share