Thursday, August 10, 2023

CHIẾN DỊCH TÁNH LINH - HOÀI ĐỨC TỪ THÁNG 12 NĂM 1974 ĐẾN THÁNG 3 NĂM 1975.

Lời nói đầu: Thời gian qua, chúng ta đã biết về trận đánh tại làng Võ Đắt, cũng là quận lỵ của quận Hoài Đức thuộc tỉnh Bình Tuy vào cuối năm 1974 đến tháng 3 1975 theo bài viết của các cựu thiếu tá Lê Phi Ô, tiểu đoàn trưởng của TĐ 344 ĐPQ thuộc tiểu khu Bình Tuy, hay cựu thiếu tá Nguyễn Hữu Chế tiểu đoàn trưởng của TĐ 2/43 sđ 18 bộ binh hay cựu pháo thủ Nguyễn Hữu Nhân và Nguyễn Phát Tài thuộc sđ 18 bộ binh. 

Các tác giả trên có nhắc tới việc tham chiến của liên đoàn (LĐ) 7 BĐQ tiến quân theo tỉnh lộ (TL) 333 để tiếp viện cho chi khu Hoài Đức; hay TĐ 2/43 của sđ 18, do thiếu tá Chế chỉ huy, vào giờ chót đã được trực thăng vận để giải cứu chi khu này trước khi bị tràn ngập. Nhưng theo bài viết sau đây của cựu đại tá Le Gro thuộc Phòng Tùy viên Quốc Phòng DAO thì trong trận này còn có hai TĐ của trung đoàn 48 sđ 18 tiến quân theo TL này để tiếp viện cho Hoài Đức. 

Do đại tá Le Gro là một sq cao cấp của cơ quan DAO, hàng ngày làm việc với Phòng 2, Phòng 3 và Trung tâm Hành quân của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, nên tôi nghĩ bài viết của ông giúp chúng ta có cái nhìn toàn cảnh và đầy đủ hơn về chiến dịch này.

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 135-136 của quyển Từ Ngưng Bắn Đến Đầu Hàng của ông.

                           

"Bình Tuy-Long Khánh

Bộ tổng tham mưu QLVNCH và tư lịnh của quân đoàn III đã biết một cách khá chính xác rằng trung đoàn 33 csbv dự định tấn công quận lỵ Hoài Đức tỉnh Bình Tuy và trung đoàn tân lập 812 csbv, gồm các TĐ của tỉnh Lâm Đồng kế cận, sẽ tấn công quận lỵ Tánh Linh cùng tỉnh. Hơn nữa họ đã ước tính đúng đắn rằng trung đoàn 274 csbv cũng sẽ tham chiến. (Vì cuối tháng 11/1974, trong một cuộc chạm súng nhỏ ở đông bắc Xuân Lộc, họ đã tịch thu một tài liệu cho thấy đối phương sẽ tấn công Gia Rai và triệt hạ các tiền đồn dọc tỉnh lộ 333 và trung đoàn 812 csbv sẽ hỗ trợ những cuộc tấn công này -- trang 135, sách đã dẫn). Nói thêm: theo bản đồ đính kèm, xã Gia Rai là một căn cứ quân sự lớn ở bên trái tỉnh lộ 333, cách QL-1 khoảng 5km, có hai sân bay, đường xe lửa xuyên Việt đi ngang căn cứ, đi thêm 18 km sẽ gặp xã Võ Đắt -- người dịch). Một bộ tư lịnh mới cấp sđ của csbv đã được thành lập để điều khiển cuộc hành quân (HQ) này. Do thiếu thông tin nên lúc đầu QLVNCH đã đặt tên cho đối thủ mới của mình là sđ quân khu 7, vì sđ này hoạt động trong quân khu 7. Sau đó họ mới biết đó là sđ 6 csbv, chỉ huy ba trung đoàn kể trên, cộng với những đv về tiếp vận - giống như các sđ chính quy khác của csbv. 

 https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/xa_cam_my-6430-1.pdf

Khi quân csbv bắt đầu tấn công, không có các đv chánh quy của QLVNCH tại tỉnh Bình Tuy. Chỉ có các đại đội ĐPQ đã được triển khai ở các làng chánh, và các đv nhỏ hơn của ĐPQ hay nghĩa quân canh giữ các cầu và các trạm kiểm soát dọc tỉnh lộ (TL) 333 và 335 - hai con đường còn xử dụng được của Hoài Đức và Tánh Linh. (Nói thêm: theo bản đồ đính kèm vẽ từ năm 1968, trong khu vực của quận Hoài Đức và Tánh Linh, ngoài hai tỉnh lộ (TL) vừa kể, còn có TL 334 từ Võ Xu chạy về phía đông bắc, và TL 336 chạy từ QL-1 đến quận lỵ Tánh Linh và sau đó đi về phía đông bắc, sau này do mất an ninh nên hai TL này không còn xử dụng. Do vậy muốn đến Tánh Linh, thay vì dùng TL-336 ngắn hơn, người ta phải theo TL-333, chạy từ Ngã Ba Ông Đồn trên QL-1, khi qua khỏi Võ Đắt, đi tiếp TL-334, sau khi tới Võ Xu, sẽ gặp một ngã tư, quẹo phải vào TL-335, đi qua làng Duy Cần để tới quận lỵ Tánh Linh -- người dịch). Dân số ít ỏi của tỉnh này đã tập trung trong những làng dọc theo 2 đường này, thường chạy dọc theo dòng chảy uốn khúc (meander) của sông La Ngà. Bắt nguồn từ những núi cao 5.000 bộ hay 1.424 m nhìn xuống những rừng rậm của khu tứ giác (quadrant) này của tỉnh Bình Tuy, sông La Ngà đã chảy xuyên qua vựa lúa này của tỉnh. (Nói thêm: theo bản đồ đính kèm, dù khu vực này ko phải là đồng bằng như châu thổ sông Cửu Long, nhưng lại trồng nhiều lúa, phần lớn ở phía bắc của sông La Ngà, nên được dân địa phương gọi là Bắc Ruộng -- người dịch). Hai quận lỵ, Tánh Linh ở phía đông và Hoài Đức ở phía tây của tỉnh đều có sân bay. Một ngôi làng rất lớn của tỉnh là Võ Xu, khoảng giữa hai quận lỵ này. (Nói thêm: Dựa vào bản đồ đính kèm, làng Võ Xu ở dọc theo tỉnh lộ 334, và phía tây nam của nó là làng Võ Đắt, ở dọc theo tỉnh lộ 333, trước đây từng là ấp chiến lược (ACL), được lập ra thời tổng thống Diệm vì dân làng sống tập trung dọc theo các tỉnh lộ, và các khu xóm trong làng giống như bàn cờ. -- người dịch). 

Bản đồ xã Võ Su quận Tánh Linh tỉnh Bình Tuy: https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/tanh_linh-6531-3.pdf

Bản đồ xã Võ Đắt quận Hoài Đức tỉnh Bình Tuy: https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/dinh_quan-6431-2.pdf

Trung đoàn 812 csbv đã tấn công Tánh Linh ngày 8/12/1974. Yểm trợ bởi TĐ 130 pháo binh, một TĐ đặc công và ba TĐ bộ binh, họ đã tấn công chi khu, vị trí pháo binh trên đồi kế chi khu, và những làng giữa Tánh Linh và Võ Xu. Ngày kế, trung đoàn csbv này đã chiếm hai khẩu 105 ly ở Tánh Linh và những làng chung quanh, và kiểm soát tỉnh lộ 335  giữa Võ Xu và Tánh Linh.

Quân đoàn III VNCH đã ra lịnh sđ 18 bộ binh, với liên đoàn 7 BĐQ tăng phái, từ Xuân Lộc tăng cường cho ĐPQ của Bình Tuy. Khi TĐ 32 BĐQ lọt vào ổ phục kích đã giăng sẵn dọc TL 333 và bị thiệt hại nặng, điều này cho thấy trung đoàn 33 csbv đã áp dụng chiến thuật công đồn đã viện. Sau đó TĐ 1 và 2 của trung đoàn 48 sđ 18 bộ binh đã tăng cường cho nỗ lực này khi được lịnh tiến quân theo TL 333 và chẳng bao lâu đụng nặng ở bắc Gia Ray. Những ngày sau đó TĐ 85 BĐQ đã tham gia chiến đoàn này, bây giờ gồm có hai TĐ bộ binh và hai TĐ BĐQ, nhưng các đv BĐQ, dẫn đầu của chiến đoàn này, ko thể vượt qua khỏi làng Gia Huynh, ở 16 km nam của Hoài Đức. Vì Trung đoàn 33 csbv, với hầm hào vững chắc, đào dọc theo TL 333, đã được yểm trợ mạnh mẻ với cối và pháo binh.

Ngày 17/12, làng Duy Cần, giữa làng Võ Xu và quận lỵ Tánh Linh, đã bị tràn ngập bởi trung đoàn 812 csbv, và vài kẻ sống sót của đại đội (đ/đ) 700 ĐPQ đã chạy thoát về quận lỵ Tánh Linh. (Nói thêm: làng Gia Huynh, trên tỉnh lộ 333 và làng Duy Cần, trên tỉnh lộ 335, cũng là các ấp chiến lược cũ.-- người dịch). Dù vẫn nằm trong tay QLVNCH, nhưng các tiền đồn cũng như quận lỵ Hoài Đức và Tánh Linh đang bị pháo kích nặng nề, nên tướng Dư Quốc Đống, TL của QĐ 3 đã ra lịnh cho sđ 18 không nên cố gắng vượt qua Gia Huynh trên TL 333. Với các cuộc tấn công của địch từ Tây Ninh tới Phước Long, ông ko muốn bốn TĐ này của ông bị chia cắt và hủy diệt khi tiếp viện cho Hoài Đức. Trong khi đó, quân csbv đã phá hủy một cây cầu ở nam quận lỵ Hoài Đức (có lẽ là cầu Gia Huynh -- người dịch) và chiếm Võ Xu, và gia tăng tấn công vào quận lỵ Tánh Linh. Sau khi pháo kích 3.000 đạn pháo trong ngày 23 và 24/12, quân csbv đã tấn công 5 đợt, cuối cùng đã tràn ngập phòng tuyến cuối cùng của quận lỵ Tánh Linh vào ngày Giáng Sinh. Trong khi đó, Hoài Đức bị tấn công bởi trung đoàn 274 thuộc sđ 6 csbv. 

Sau khi trung đoàn 274 csbv đã lọt qua một số phòng tuyến của chi khu Hoài Đức và chiếm đầu cầu (foothold) ở rìa đông bắc và tây nam của chi khu, sđ 18 bộ binh VNCH đã lần lượt trực thăng vận TĐ 1 và 2 của trung đoàn 43 vào phía tây và bắc của chi khu và bắt đầu đẩy lui địch ra khỏi chi khu. Trong khi hai TĐ của trung đoàn 48 VNCH vẫn cố thủ ở phía bắc Gia Ray trên TL 333, liên đoàn 7 BĐQ mệt mỏi và rất kiệt sức (deplete) được lịnh rút về tỉnh Bình Dương để dưỡng quân và bổ sung quân số và tái tiếp tế. Vì tất cả các đv trừ bị của sđ 18 bộ binh đều đã tham chiến, bộ tổng tham mưu (BTTM) đã chuyển liên đoàn 4 BĐQ từ Kontum về căn cứ Long Bình để dưỡng quân, bổ sung quân số và tái tiếp tế và được quân đoàn III dùng làm trừ bị.

=====

Nói thêm: Qua bài viết của đại tá Le Gro, ta thấy việc phối trí lực lượng của sđ 6 csbv ở tỉnh Bình Tuy, là nằm trong một kế hoạch lớn hơn của ban lãnh đạo CSBV nhắm cầm chân QLVNCH để đối phương ko thể tiếp cứu lẫn nhau. 

Chẳng hạn như trước khi chi khu Đồng Xoài, còn gọi là Đôn Luân, tỉnh Phước Long bị tấn công vào ngày 13/12/1974, để mở đầu chiến dịch Tánh Linh Hoài Đức, ngày 8/12/1974, trung đoàn 812 csbv đã tấn công chi khu Tánh Linh, vị trí pháo binh trên đồi và các làng giữa Tánh Linh và Võ Xu, để ngăn ko cho quân tiếp viện từ Võ Xu kéo tới Tánh Linh. 

Trong khi đó, trung đoàn 33 csbv có nhiệm vụ đánh quân tăng viện cho Hoài Đức. Quân tăng viện lúc đầu chỉ có hai TĐ BĐQ, nhưng sau khi một TĐ bị phục kích và thiệt hại nặng khiến quân tăng viện lên đến bốn TĐ. Tuy nhiên quân tăng viện cũng ko thể vượt quá Gia Huynh trên TL 333.

Sau khi Tánh Linh đã thất thủ đúng ngày Giáng Sinh 1974, chi khu Hoài Đức bị trung đoàn 274 csbv tấn công. Và sau đó vài giờ, chi khu Định Quán thuộc tỉnh Long Khánh trên QL-20 cũng bị tấn công.

Trong quyển Black April, trên trang 251-252, George Veith đã có những thông tin đáng chú ý như sau: 

"Trong khu vực trách nhiệm của sđ 18 VNCH, sđ 6 csbv đã phối hợp chặc chẻ với sđ 7 csbv trong kế hoạch tấn công các tiền đồn dọc theo các QL-1 và QL-20 (Sài Gòn đi Đà Lạt). Từ 15 đến 18/3/1975, Bắc quân đã tấn công các tiền đồn trên liên tỉnh lộ (LTL) - 2 từ Bà Rịa đi Xuân Lộc. (Nói thêm: sđ 18 bộ binh và Nhảy Dù đã theo đường này khi rút lui khỏi Xuân Lộc tháng 4/75 -- người dịch). Tới ngã ba Tân Phong, họ theo QL-1 tiến về phía đông, tràn ngập một căn cứ quan trọng của sđ 18 ở chân  Núi Chứa Chan*, còn có tên là núi Gia Ray, cao 837 m. (Nói thêm: Theo một hồi ký, căn cứ này bị thiệt hại nặng vì bị đặc công đột nhập -- người dịch).

Ngày 28/3/1975, sđ 6 csbv đã kiểm soát một đoạn 30 dặm hay 48 km trên QL-1 từ Núi Chứa Chan tới Hàm Tân, Bình Tuy. Huyết mạch quan trọng cuối cùng từ SG đến miền Trung đã bị cắt, khiến QLVNCH ko thể dùng QL-1 để tiếp viện cho quân đoàn 2. 

Vài giờ trước khi sđ 7 tấn công Định Quán, trung đoàn 812 csbv đã mở mặt trận thứ ba trên khu vực trách nhiệm của sđ 18 VNCH, khi tấn công làng Võ Đắt, cũng là quận lỵ của quận Hoài Đức Bình Tuy. Những người lính ĐPQ kiên cường (stalwart) của Võ Đắt, dù đã trải qua 30 ngày trong vòng vây của quân csbv, đã đẩy lui các cuộc tấn công liên tiếp của địch trong 3 ngày. Không còn kiên nhẩn với thành tích chiến đấu này của trung đoàn 812, tướng Trần văn Trà ra lịnh phải nhanh chóng dứt điểm chi khu Hoài Đức. Trong những giờ đầu tiên của sáng ngày 20/3, sau một cơn mưa pháo dồn dập, quân của trung đoàn đã xung phong vào chi khu. Sau khi làm chủ trận địa, trung đoàn 812 quay sang tấn công đv VNCH vẫn còn tử thủ trong khu vực, đó là TĐ 3/43, đang chiếm giữ vài cao điểm gần đó. Sau hai ngày chiến đấu, TĐ này được lịnh rút về Xuân Lộc. Thời gian ngắn sau đó, trung đoàn 812 đã bắt tay với một đv trinh sát của sđ 6 csbv. Trung đoàn 812 đã hoàn thành nhiệm vụ, và Hoài Đức đã được đưa vào danh sách những vùng mới "giải phóng", mà trước đó là Tánh Linh. Từ nay họ có nhiệm vụ mới, đó là phối hợp với sđ 7 để quét sạch các đồn bót và cứ điểm của VNCH dọc QL-20 và tấn chiếm tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức".

SJ ngày 12 tháng 8 2023.
Tài Trần



Wednesday, August 9, 2023

 3/ Địa điểm của cuộc hành quân New Life (Đời Mới).

Chuyển ngữ từ sách Blue Lanyard, Green Valley của Lex McAulay

Phía đông của Sài Gòn, Việt Nam, là thung lũng của Sông La Ngà. Cho tới năm 1954, khu vực này hầu như ko có ai sinh sống với rừng rậm bao la và những đồi thấp. Sau Hiệp định Geneva 1954, chấm dứt cuộc chiến dành độc lập giữa nhân dân VN và thực dân Pháp, hàng trăm ngàn người VN do không chấp nhận sống dưới chế độ CS tại miền bắc, đã vượt ranh giới tạm thời giữa 2 miền tại vĩ tuyến 17 để di cư vào nam. Khoảng 30 ngàn trong số họ đã khẩn hoang lập ấp tại thung lũng La Ngà hoang vu này, và sau vài năm lao động khổ nhọc, họ đã tạo một khu vực sản xuất lúa gạo giàu có, đứng hàng THỨ NĂM về năng xuất tại miền nam. (Nói thêm: Theo hồi ký Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh TT Ngô Đình Diệm của Nguyễn Hữu Duệ, tổng thống đã vài lần thăm viếng khu vực này và vì thấy đất đai phì nhiêu, dân cư lại thưa thớt nên ông lập kế hoạch đưa dân từ các tỉnh miền trung - những nơi đất đai khô vằn, đất chật người đông, đến khẩn hoang lập ấp tại khu vực này. Theo bản đồ và hình ảnh đính kèm, ở thung lũng này có vài khu trù mật như Địa Điểm Dinh Điền Khắc Cần hay Dinh Điền Dak Ménou. Theo bản đồ đính kèm, phần lớn vùng phía bắc Sông La Ngà là ruộng lúa. Chung quanh Sông Lăng Quăng Hồ Biển Lạc cũng là ruộng lúa. Khu vực các xã Lạc Tánh, Văn Lê, và Hiếu Tính thuộc quận Tánh Linh cũng là ruộng lúa. -- người dịch).

Khu vực trồng lúa này nằm dọc theo Sông La Ngà có chiều rộng từ đông sang tây khoảng 32 km và từ bắc xuống nam khoảng 18 km. Sông này xuất phát từ núi rừng hiểm trở ở phía đông và có dòng chảy uốn khúc, có chỗ như cùi chỏ, chảy xuyên qua thung lũng theo chiều đông nam lên tây bắc, trước khi quay về phía nam vào khu nhiều đồi núi, nơi mà nó trở thành ranh giới giữa tỉnh Long Khánh và Bình Tuy. Khoảng 15 phố thị và làng nằm trên các sườn đồi, nối với nhau bởi những con đường ko thuận tiện lắm cho lưu thông (vì đường xấu và thường xuyên bị quấy phá bởi du kích cs). 

Vì các làng và phố thị này nằm ở rìa những núi đồi, bao phủ bởi rừng rậm, chúng là nơi lý tưởng dễ bị khống chế bởi du kích quân.

Một số làng có chiều dài 2 tới 3 km nhưng những làng khác, dân sống tập trung hơn; nhưng việc các làng này nằm rải rác dọc theo các đường vừa rất xấu, vừa đi ngang khu vực hoạt động của du kích, khiến cho việc bảo vệ các làng là điều ko khả thi. Kết quả là những kẻ võ trang, ý nói CS, từ rừng núi đã khống chế dân làng.

Năm 1963, VC đã bắt đầu hoạt động ở thung lũng La Ngà, và lấy 1/2 hoa màu. Năm 1964, chúng lấy toàn bộ.

VC đã áp dụng những phương thức và kỹ thuật của chiến tranh cách mạng CS. Trước nhứt, những cuộc họp rất khiêm tốn (low key) được tổ chức trong đó dân làng được nghe về những sai lầm hay tội ác mà người CS cho là 'đã gây ra bởi các viên chức địa phương', và làm thế nào VC, luôn luôn tự nhận mình là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, sẽ sửa chữa những sai lầm hay tội ác này và đời sống người dân sẽ tốt đẹp hơn sau khi 'giải phóng'. Các tổ chức và ủy ban được thành lập và chẳng bao lâu mọi khía cạnh của sống hàng ngày của làng đã bị kiểm soát bởi Mặt Trận.

Từ từ bàn tay sắt của cách mạng đã lộ rõ. Mọi di chuyển khỏi làng đều bị kiểm soát và các cá nhân đi tới những ngôi chợ gần đó, để bán rau quả hay sản phẩm của họ, đều bị cấm; Mặt Trận mua mọi thứ, với giá do họ qui định. Mọi ý kiến nào khác với chủ trương hay chánh sách của Mặt Trận đều bị cấm; biểu tình hay bất đồng chánh kiến sẽ bị trừng phạt.

            

Các quân nhân và dân làng ko rõ tên họ tại Khu Trù Mật/Khu Dinh Điền Võ Đắt (Unidentified Military Members and Villagers at Vo Dat Agroville). Có lẽ chụp năm 1966.

Ngoài việc chăm lo cho thửa ruộng hay vườn cây của mình, mọi người đều được yêu cầu đóng góp thêm nữa cho cách mạng. Công sức này ko được trả lương, và nếu ai ko thể đóng góp, một thành viên trong gia đình được yêu cầu làm điều đó.

Một ví dụ (VD) về điều này là vào ngày 14 tháng 10 năm 1965, khi 700 người đã tập họp để di chuyển từ Võ Xu tới rừng núi, với lương thực với vật dụng cá nhân của mình, trong vòng 1 tháng. Họ đã bị cưỡng bách khiêng vác đạn dược và tiếp liệu của VC từ căn cứ này tới căn cứ khác. 

4. Trong khi đó, trên bình diện quốc gia, chính quyền Sài Gòn đã chao đảo giữa các khủng hoảng chính trị. Chính phủ (CP) cứng rắn chống cộng của tổng thống Ngô đình Diệm thì tham nhũng ở mọi từng lớp, đã thông qua những đạo luật hà khắc cấm đoán phần lớn các giải trí công cộng phổ thông, do vậy cuối cùng đã xa rời với phần lớn quần chúng. CP này đã bị lật đổ tháng 11 1963, trong đó Diệm và người em đã bị giết bởi những kẻ chiến thắng. Tiếp theo đó là một loạt những đảo chánh bởi những viên tướng nhiều tham vọng nhưng bất tài (incompetent) và tham nhũng. Do các tướng lãnh và bộ tham mưu của họ tập trung vào việc tranh dành quyền lực (focuss on plots and intrigue) tại SG, cuộc chiến đấu tại các tỉnh chống lại lực lượng cách mạng của CS ngày càng xấu đi.

. . . 

Vào đầu năm 1965, QLVNCH, gọi tắt là ARVN - đã bị thua khắp nơi. Trong khi các trung đoàn chủ lực của vc có mặt trong các trận đánh lớn, các sđ chính quy của bắc VN đã xâm nhập qua ngã Lào và Cambodia vào nam VN.

. . .

Đối diện với sụp đổ hiển nhiên trong cuộc tranh đấu cho nền dân chủ tại nam VN, Mỹ đã cam kết đưa lực lượng võ trang để hỗ trợ CP này, dù cho họ tham nhũng và bất tài. Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Đại Hàn Dân Quốc, Phi Luật Tân và nhiều nước dân chủ khác đã gửi quân và các toán dân sự để giúp nam VN. 

Sự trợ giúp từ nước ngoài và tập thể này, được gọi là Lực lượng Yểm trợ Quân sự của Thế giới Tự do, viết tắt là FWMAF, hay "Thế giới Tự do". Dù hơn 30 nước tham dự, nhưng chỉ có 6 nước gửi quân, đó là Úc, Tân Tây Lan, Đại Hàn, Trung Hoa Dân Quốc và Thái Lan.

Lữ đoàn 173 Nhảy Dù (biệt lập) 

Vào năm 1965, lữ đoàn (LĐ) này có 2 TĐ bộ binh - TĐ 1 và 2 của trung đoàn 503 nhảy dù - với 2 pháo đội 105 ly; chi đoàn D/16 thiết kỵ, tương đương một đại đội xe M-113; chi đoàn E/17 thiết kỵ, với các xe jeep trang bị đại bác ko giật 106 ly và các xe chống tăng tự hành, có tên Spats, cũng trang bị 106 ly; và một TĐ tiếp vận để giúp LĐ hoạt động như một đv biệt lập (separate), thay vì là cơ hữu của một sđ. 

Từ tháng 6 1965, LĐ 173 và các đv của Úc và Tân Tây lan đã hành quân khắp Vùng 3 Chiến Thuật quanh Sài Gòn. Qua đó họ đã nhận thấy: sức mạnh của địch đã bị phóng đại bởi chính quyền địa phương; các trung đoàn VC đã tránh đụng độ; và việc bảo mật về hành quân của các đối tác VNCH có nhiều sơ hở.

Khi LĐ này tới khu vực hành quân, họ thấy rằng VC đã biết trước khi phần lớn các đv rút đi chỗ khác và dân chúng đã được đối phương chỉ dẫn cách đối phó với binh lính nước ngoài trong khu vực hành quân.

12/100

Ngày 19/11, bộ tham mưu của tướng Williamson

.. . . 

====

17/100. Lữ đoàn 173 nhảy dù Mỹ đã  báo cáo với cấp trên như sau 'chúng tôi đã thi hành một kế hoạch táo bạo che phủ trong bí mật. Đáp ứng với các tin tình báo về hoạt động gia tăng của VC trong khu vực hành quân (HQ) và các chỉ báo rằng kế hoạch HQ ngày 29/10/1966 đã hình như bị lộ (compromise), một kế hoạch đã được thiết kế (formulate) để bảo đảm việc thành lập một căn cứ vững mạnh ở sân bay Võ Đắt, trước khi có bất cứ giai đoạn nào của cuộc HQ. Kế hoạch này chỉ được phổ biến rất hạn chế (dissiminate) vào giờ chót đến những ai cần-phải-biết (need-to-know).'

Lúc 7 am, phân nửa của TĐ 2/503 của lữ đoàn 173 nhảy dù được chỡ tới Xuân Lộc, để chuẩn bị đổ quân xuống Võ Đắt, nhưng sương mù quá nhiều, khiến trể 25 phút so với dự định. Việc đổ quân có máy bay ném bom bảo vệ và lính xuống đất vài phút sau 9 am. Không có ném bom hay pháo binh dọn bãi. Toán tiền tiêu của TĐ 2/503 lục soát phi đạo để tìm kiếm mìn bẫy và bảo vệ sân bay cho phần còn lại của lữ đoàn đến. Cả TĐ xuống hết lúc 9.45 am, và lúc 10.10 am, lữ đoàn đã bắt đầu đổ quân, khi chiếc C-130 bốn động cơ đầu tiên đáp xuống phi đạo. 

Xuất phát từ chiếc C-130 này, các chuyên viên của không quân Mỹ đã nhanh chóng lập một trung tâm điều không trên phi đạo, vì lúc đó hàng đoàn trực thăng, vận tải cơ C-130 và những chiếc Buffalo 2 động cơ cũng kéo tới. Nói thêm: Chiếc này thuộc loại STOL, cất và hạ cánh trên đường băng ngắn, do hãng De Havilland Canada sản xuất, xem hình, phi hành đoàn 3 người, chỡ 41 binh sĩ hay 24 băng ca hay 8.200 kí. Chiếc DHC-5 Buffalo đã thay thế chiếc DHC-4 Caribou, rất thông dụng tại VN, cũng do De Havilland sản xuất, ở chỗ tải trọng của chiếc Buffalo gấp 2 lần chiếc Caribou, dùng động cơ tuốc-bin cánh quạt hay turboprop, thay vì động cơ piston như Caribou. Được đưa vào xử dụng từ 1965, so với 1961 của Caribou, lúc đầu bởi không quân Canada, sau bởi không quân Mỹ. -- người dịch). Toán điều hòa không lưu này đã làm việc rất tốt vì có lúc có tới 15 chiếc UH-1 đổ xuống theo hàng một dọc theo phi đạo cùng lúc đó các loại vận tải cơ như C-130 hay Buffalo lên xuống. 

Lúc 9 am cùng ngày, TĐ 1 của quân đội hoàng gia Úc, viết tắt là 1RAR được chỡ tới khu trực thăng của sân bay Biên Hòa, có tên gọi "Hố Rắn", để được bốc vào Võ Đắt. Sở dĩ có tên gọi như vậy vì phi đội trực thăng Mỹ đồn trú tại đây có tên hiệu "The Rattlers" (Rắn rung chuông) với hình con rắn chuông chuẩn bị tấn công được vẽ trên máy bay, rất quen thuộc với những đv đã được nó chỡ. 

Sân bay cũ của Pháp tại Biên Hòa đã là nơi đồn trú của các đv trực thăng Mỹ và một phi đạo kép dài 3.000 mét đã được xây dựng ở đó. Sân bay này được dùng bởi không quân Mỹ và VNCH.

. . .

Trời trong và tầm nhìn tuyệt vời. Các người lính bộ binh Úc, đeo dây ba-chạc TAB, mang nặng ba-lô, trên đó có vũ khí, đạn dược, lương thực, nước uống, quần áo để thay đổi, đồ ngủ, máy truyền tin, pin, đạn cối, bàn tiếp hậu (base-plate), rốc-két để phá hầm, cuộn dây điện thoại, và những thứ cần thiết cho cuộc hQ, đã trèo vào lòng xe và đứng vịn vào thành xe để được chỡ ra bãi đậu trực thăng. 

Ngay khi các xe tới bãi đậu, trực thăng bắt đầu nổ máy và lính Úc trèo lên. Đợt đầu có hai đại đội và hướng về phía đông tới Bình Tuy. 

Có tổng cộng 62 chiếc chỡ quân loại UH-1D do hãng Bell sản xuất, được biết với tên gọi "Huey"; mỗi chiếc chỡ 6 binh sĩ Úc, như vậy đợt này có 372 người. Các trực thăng võ trang hay 'gunship' trang bị đại liên M-60, rốc-két và phóng lựu, ý nói M-79, ở mủi và bên hông của trực thăng. Các trực thăng chỡ quân ko có những trang bị này, nên gọi là "slick".

Dù quân Mỹ từ 1962 đã dùng UH-1B làm gunship tại Nam VN và các phim truyền hình trình chiếu tại Mỹ và Úc từ 1964 đã cho thấy điều đó, nhưng chính sách của Úc vẫn ko võ trang cho trực thăng Úc. 

Từ xa về phía nam, cánh đồng tương đối bằng phẳng bắt đầu hiện rõ trước mắt lính Úc, với thỉnh thoảng những cụm đồi thấp, và xa hơn nữa là bờ biển, với biển bạc và hình dạng của bán đảo Vũng Tàu và gần đó núi đồi Long Hải và Núi Dinh. Họ sẽ quen dần với phong cảnh này với các cuộc HQ sau này. 

. . .

Trong bầu trời trong suốt buổi sáng, từ khoảng cách vài km, những người lính Úc đã có thể thấy một đám mây lớn gồm bụi đỏ và khói do lân-tinh trắng tạo ra bởi không kích xuống một đồi gần Võ Đắt. Có một làn bụi đỏ (red haze) ở cạnh đồi, nhưng ko ai biết đó là gì. 

19/100. Phi đạo ở Võ Đắt là đất đỏ, đất tạo ra từ phún thạch núi lửa. Khi hàng chục trực thăng đáp xuống đất, một đám mây bụi đỏ khổng lồ bốc lên. Đây chính là làn bụi đỏ mà họ đã thấy từ xa. 

Monday, August 7, 2023

 

Army Reporter information
for 173 ABN

For date 651211


173 ABN was a US Army unit
Primary service involved, US Army
Operation NEW LIFE-65
Binh Tuy Province, III Corps, South Vietnam
Location, Vo Dat
Description: 173rd Airborne Brigade in Operation New Life 65 Vo Dat (173rd IO) - Since being deployed to this rich, rice producing valley, the 173rd Airborne Brigade and attached elements have scored heavily against the local element of the Viet Cong, and initiated a large scale civic action program with unprecedented speed. Operation NEW LIFE 65 commenced with the 2/503d Infantry making a heliborne assault on the Vo Dat airstrip. The paratroopers rapidly secured this vital facility and minutes later, follow-up elements arrived by Air Force C-130 Hercules transports and Army helicopters. At sunset, the Vo Dat area was ringing with the thunder of American artillery as the infantry moved into positions for the night. With lightning speed the infantry cleared and secured the road south from Bo Dat for a distance of approximately 15 kilometers. This signaled the start of a multi-battalion road convoy from Bien Hoa to Vo Dat. Although several bridges had been damaged or destroyed by the VC between Ghia Rey and Vo Dat, the engineers quickly prepared earth fill bridges and the convoy moved into the object area without further incident. Meanwhile, the Vo Dat airstrip, working at full capacity, was receiving resupply missions and other flights at the rate of one landing or takeoff every six minutes. The newly accepted Army transport plane, the CV-7, is being used extensively in support of the operation. Protection of the rice harvest in the Vo Dat area is the foremost mission of the 173rd in NEW LIFE 65. Civic action projects have involved the cooperation of four nations; Australia, the Philippines, Korea, and the U.S. in food distribution and medical assistance. The soldiers have repaired numerous roads and buildings.

The source for this information was Paper copy supplied by Jim Oden


Additional information is available on CD-ROM.

Please send additions or corrections to: Gary Roush Email address: webmaster@vhpa.org


Return to panel index

Return to Helicopter Pilot KIA index

Return to VHPA Home Page

Copyright © 1998 - 2023 Vietnam Helicopter Pilots Association

Last updated 10/29/1999

Date posted on this site: 05/13/2023

https://www.vhpa.org/KIA/panel/battle/65121102.HTM

 

Thursday, December 23, 2010

MỘT VÀI HÌNH ẢNH DO LÍNH MỸ CHỤP TRONG NĂM 1965-66 TẠI LONG KHÁNH 
CHỜ ĐỢI KHÁM BỊNH VÀ LẢNH QUẦN ÁO - DO THÂN NHÂN CỦA LÍNH MỸ Ở CC WULZBURG, ĐỨC THU THẬP VÀ GỬI ĐẾN.


TP XUÂN LỘC 1966 CHỤP QUA CỬA KIẾNG XE JEEP

TRẠM KIẾM SOÁT (NẰM BÊN NGOÀI XUÂN LỘC) NÀY, CHO BIẾT ĐOẠN ĐƯỜNG, 49 KM ĐI TỚI BIÊN HÒA, RẤT NGUY HIỂM. KHU VỰC NÀY ĐƯỢC BIẾT CÓ NHIỀU HOẠT ĐỘNG CỦA CS. ĐÂY LÀ ĐỊA ĐIỂM CỦA MỘT TRONG TRẬN ĐÁNH  CUỐI CÙNG VÀO 1975 NƠI MÀ HÀNG NGÀN BS HAI BÊN BỎ MẠNG. 

NẰM BÊN CÁC QUÀ TẶNG DÀNH CHO NẠN NHÂN CHIẾN CUỘC SAU TRẬN VÕ XU 1966 GỒM GẠO, DẦU ĂN, VÀ HẠT GIỐNG. 

TÙ BINH CS CHỜ TẢN THƯƠNG SAU TRẬN VÕ XU 1966.
TRẺ EM MỒCÔI MỪNG GIANG SINH 1965
LÍNH MỸ PHÁT KẸO NHÂN GIANG SINH 1965
TRẺ EM LÚC NÀO CỦNG HỒN NHIÊN
DÊ LEO LÊN MÁI NHÀ CỦA TOÁN CỐ VẤN 87 CỦA MỸ TẠI XUÂN LỘC.

QĐ MỸ VÀ VNCH ĐEM QUÀ GIÁNG SINH 1965 ĐẾN TRẠI MỒ CÔI, CHỨA KHOẢNG 50 EM, CỦA CHA TRỌNG Ở XUÂN LỘC.
CÁC NỮ TU PHỤC VỤ TẠI VIỆN MỒ CÔI CỦA CHA TRỌNG VÀ NHÀ THỜ KI-TÔ VUA /CHRIST THE KING CHURCH, ĐÓN MỪNG GIÁNG SINH 1965 BÊN CẠNH THỰC PHẨM VÀ QUẦN ÁO, TẶNG BỞI GIA ĐÌNH CỦA CÁC BS MỸ.





1 LÀNG QUÊ GẦN TÁNH LINH 

1 PHỤ NỮ LÀM NGHỀ "GIẢI TRÍ" CHO LÍNH MỸ  TẠI VÙNG QUÊ HẺO LÁNH NÀY 

TOÁN DÂN Y MỸ CHUẨN BỊ KHÁM BỊNH NGƯỜI GIÀ, PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM 

NƠI Ở CỦA 1 BS VIỆT NAM BẢO VỆ TOÁN CỐ VẤN MỸ 87 Ở XUÂN LỘC 
PHÁT GẠO , DẦU ĂN VÀ HẠT GIỐNG CHO NẠN NHÂN CHIẾN CUỘC SAU TRẬN VÕ XU 1966 .

LÀNG CHIẾN ĐẤU VÕ XU , VỚI ĐẠI BÁC ĐẶT GIỬA LÀNG 

 TẤM BẢN CỦA TOÁN 87 CỦA MACV CỐ VẤN CHO SĐ 10 BB  VNCH, TIỀN THÂN CỦA SĐ 18. TRÊN BẢN TA THẤY TRUNG ĐOÀN 43 ĐÓNG TẠI BIÊN HÒA, TRUNG ĐOÀN 48 Ở PHƯỚC TUY, TRUNG ĐOÀN 51 Ở BÌNH TUY. TRUNG ĐOÀN 52 CÓ LẼ ĐÓNG Ở THỊ XÃ XUÂN LỘC. 
CHỊ GIỮ EM KHI BA MÁ RA ĐỒNG LÀM VIỆC

LÍNH MỸ NẤU THỊT TRÂU 

Monday, July 31, 2023

 

THĂM LẠI MẬT KHU LÊ HỒNG PHONG ÐỂ THƯƠNG NHỚ BẠN BÈ MỘT THỜI CHINH CHIẾN CŨ

             Trên con đường thiên lý, ra khỏi Phan Thiết chừng 20 cây số về hướng bắc sẽ gặp núi Tà Dôn sát lộ và từ đó nhìn về hường biển, chỉ thấy mênh mông trời xanh cát trắng, tuyệt nhiên không có một chút gió dù rằng đại dương nằm cách không xa là mấy. Ðối với người Bình Thuận thì không ai xa lạ gì với cát, vì cát có mặt ở rất nhiều nơi trên quê hường miển biển mặn từ Cà Ná vào tới Phù My nhưng chính tại vùng này, cái mà khởi đầu từ năm 1945 trong chín năm toàn dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp, cho tới những ngày cuối tháng 4-1975 trong cuộc chiến của người miền Nam, ngăn chận làn sóng đỏ cọng sản quốc tế, do Bắc Việt gây ra, thì không ai xa lạ gì với cái được gọi là mật khu Lê Hồng Phong.
 
            Ở đây, cát đã làm khổ con người vì cảnh khô hạn tận tuyệt đến nổi các nhà khoa học đã phải gọi đó là một trạng thái kỳ lạ nhất của vật chất, mang tham vọng kinh khủng là chinh phục con người, như một khúc biển tấu hoà âm bất tận, giống như cái hạnh phúc vô thường hay niềm đau không sao nói được của những người dân bị kẹt lại trong thiên đường này từ 1955-1975. Ðây là một vùng đất chết, đã được VC tuyên truyền là khu giải phóng, trong đó ngoài cái đói rách kinh thiên động địa do thiên nhiên và chiến tranh sắp đặt, còn có nổi vùi dập đọa đày trọn vẹn bởi những chủ trương chính sách triệt để sắt máu của VC trong việc không để bất cứ ai chạy lọt ra vùng tề.
 
             Trước năm 1975 ngưới dưới phố ngoại trừ là lính, ít ai dám hay héo lánh tới cõi thiên đàng này, nơi đã được nhà thơ Nguyễn bắc Sơn, một người lính từng vào khu Lê viết :
“..tướng giỏi cầm quân trăm trận thắng
còn ngại hành quân động Thái An
cát lún bãi mìn rừng lưới nhện
mùa khô thiếu nước lính hoang mang..”
(Mật khu Lê hồng Phong-NBS).
 
            Sau ngày ngưng bắn, người dân ở đây nghèo vẫn đói,vì đất đai cứ tiếp tục bị cát sa mạc hoá cho nên chỉ trồng được dưa và dừa, trong khi đó thì thiên hạ bốn phương nưòm nượp kéo về Hòn Hồng, Hòn Rơm để thụ hưởng tiện nghi vật chất tại những nơi chốn y như cảnh thiên đàng hạ giới, được nhà nước liên danh với Tây Nhật và Việt cờ yêu nước XHCN bỏ tiền xây dựng kiếm lời. Câu chuyện người dân có nước mà phải mua nước nghe sao thảm thiết quá chừng, nhât là đối với những người từng bị bắt theo VC , khiến cho bao nhiêu ngàn người đã phải nằm xuống, làm cỏ lót đường cho thiên hạ vượt qua núi cát về phố lên cầm quyền trị nước. Nhưng dưới cái thiên đàng xã nghĩa trong 35 năm qua, với họ thì nên gọi đó là nổi bất hạnh hay may mắn ? khi những người khu Lê ngày nay tuy được sống nhưng đâu có được hồi sinh trong thế giới văn minh của loài người đang diễn ra từng phút giây tại Phan Thiết.
 
1-VỀ THĂM MẬT KHU LÊ HỒNG PHONG, SAU NGÀY NGƯNG BẮN :
 
            Theo tài liệu từ Ðại Nam Nhất Thống Chí của Sử quán Triều Nguyễn và Ðịa bạ tỉnh Bình Thuận được lập ra từ đời vua Minh Mạng, do quan Hộ bộ Ðào tri Phú làm đạt điền, thì mật khu Lê Hồng Phong của tỉnh Bình Thuận, khai sinh từ đầu năm 1945 cho tới cuối tháng 4-1975, nằm trọn trong Tổng Vĩnh An, huyện Hòa Ða, phủ Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận xưa, lúc đó có 35 làng gồm 30 thôn, 5 xã, chiếm một diện tích 2171 mẫu 652 sào. Nhưng đất thực canh không có là bao, vì phần lớn đất đai toàn động cát, núi đồi thấp, rừng thưa và nhiều khe lạch , có thể gọi là hoang phế, ngoại trừ một phần nhỏ đất ở rìa các xã Khánh Thiện, Thiện Nghiệp, Thiện Khánh trong vùng Vị Nê, nhờ có nước nhĩ nên còn có thể lập vườn trồng đa số là dừa, trầu cau và vài loại cây ăn trái. Thời VNCH (1955-1975), mật khu nằm trong hai xã Lương Sơn và Nhơn Thiện thuộc quân Hoà Ða, các xã xôi đậu Long Phú, Hoà Vinh, Tùy Hòa ( Thiện Giáo) và Thiện Nghiệp (Hải Long).
 
             Riêng VC thì chia khu Lê thành 7 xã giải phóng, dù rằng toàn vùng có dân số chưa tới ngàn người, xã không có làng mạc, thôn ổ và cuộc sống vì hầu hết dân chúng bị lùa theo các đơn vị địa phương , du kích, tiểu đoàn 480,482 và trung đoàn chính qui 812 Bắc Việt của khu 7 VC. Sau ngày ngưng bắn 1975, mật khu gộp lại thành hai xã : Hồng Phong và Hoà Thắng thuộc huyện Bắc Bình.
 
            Ðây là một vùng đất coi như khô hạn nhất VN, nằm cao hơn mặt biển từ 150-200m nên không thể đào giếng được, dù có dùng khoang máy với các mũi khoang có độ dài từ 50-90m vẫn vô hiệu, cộng thêm là độ bốc hơi nước do sức nóng từ các động cát trùng điệp gây ra, cao hơn lượng nước mưa 1200 mm của khu vực này. Trừ xã Hoà Thắng sát biển lại may mắn có được nước ngọt từ hai bầu Ông và bầu Bà, còn lại thì toàn đồi cát và những mảng rừng trống mọc toàn các loại cây lá kim như ở các sa mạc tại Phi Châu, Mông Cổ, Ả Rập.. có điều các nơi đó trời còn cho dầu bán đồi lấy gạo và nước, còn ở đây chỉ có cát để trồng dừa, dưa và khoai mì nhưng rất cằn cổi, giống như con người.
 
            Về thú cầm chỉ độc nhất có dông là sống được trong cát. Vì nước quý như vậy, nên người dân ở đây có câu chuyện tếu là sính lễ mà đàng gái đòi đàng trai, đó là nước. Hiện nay qua các kế hoạch kiếm nước như khoan giếng, tới Bầu Trắng gánh nước về uống coi như thất bai. Từ đầu năm 1999, cơ quan UNICEF của Liên Hiệp Quốc đã cho dân tại đây vay vốn để đúc lu chứa nước mưa bằng xi măng theo kiểu Thái Lan, giá 1 cái là 250.000 tiền Hồ, tương đương 15 US, có dung tích 2m3/1 cái và gia đình có 6 người thì được cấp 5 lu. Ở đây mùa mưa bắt đầu từ tháng 7-11, nước mưa nếu có mưa chỉ dùng được trong hai tháng, còn thời gian nắng hạn vẫn phải mua nước từ các nơi khác chở tới, với giá 1 đôi 40 lít là 5000 tiền Hồ. Thôi thì có như vậy còn hơn không, và người dân ở đây cũng chỉ mong được như thế để bớt đi nổi nhọc nhằn phải đi xa trên 20 km gánh về một đôi nước hay quanh năm phải mua nước từ nơi khác chở tới, trong lúc túi tiền kiếm được rất khiêm tốn qua các thu hoạch nhỏ nhoi và cằn còm từ dừa, dưa cùng khoai mì mà thôi.
 
2-MẬT KHU LÊ HỒNG PHONG, THÀNH CÂY VÁCH CÁT CỦA VC :
 
            Theo các hồ sơ mật của Liên Xô, Pháp , Trung Cộng vừa được giải mật, thì Lê hồng Phong tên thật là Lê Huy Doản cùng với các bí danh khác như Hải An, Chayan và Litvinov, sinh năm 1902 tại Hưng Thông, Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An. Ðầu tiên Phong dấn thân vào con đường cứu nước trong mặt trận VNQPH do cụ Phan bội Châu lãnh đạo. Chính lý do này, nên mới đây CS Hà Nội bảo Phong là bạn của Liệt Sĩ Phạm Hồng Thái, người đã ném bom Sa Ðiện tại Quảng Ðông năm 1924, để ám sát Toàn Quyền Pháp tại Ðông Dương là Merlin, khi Y đang buôn bán xương máu VN tại đây. Phong cũng được cụ Phan Bội Châu giới thiệu vào học trường Sĩ quan Hoàng Phố của THQDD nhưng sau đó phản bội bỏ theo Hồ, gia nhập Tâm Tâm Xã, một tổ chức của đảng CSQT do Hồ tùng Mậu và Lê Hồng Sơn lập tại Quảng Châu năm 1923, trước khi Lý Thuỵ ( Hồ Chí Minh) và Lâm Ðức Thụ bán đứng cụ PBC cho mật thám Pháp tại Thượng Hải để chia nhau tiền thưởng. Do trên Phong được sang Liên Xô học ở viện thợ thuyền phương đông duới bí danh Litvinov.
 
             Theo các tài liệu của Hứa Hoành và Chánh Ðạo, thì Hồ đã nhường Nguyễn Thị Minh Khai, một nử đảng viên cọng sản quốc tế đầu tiên, cùng Hồ học tại đây, để Phong lấy làm vợ. Bà này là chị ruột của Nguyễn thị Quang Thái vợ lớn của Võ nguyên Giáp, cũng là một đảng viên cọng sản bị Pháp bắt giam và đã chết thảm trong ngục năm 1942. Năm 1934, Lê hồng Phong nhận lệnh của Liên Xô, thành lập đảng CS Ðông Dương tại Thượng Hải, sau đó tại Mạc tư Khoa vào năm 1935 trong kỳ Ðại Hội 7 được bầu làm Uỷ viên dự khuyết trong ban chấp hành CSQT.
 
             Tháng 1-1940 về VN hoạt động, bị Pháp bắt tại Phan Thiết và chết ở Côn Ðảo năm 1942 còn vợ là Nguyễn thị Minh Khai cũng bị Pháp xử bắn tháng 8-1941 ở Hóc Môn, mà theo Hứa Hoành viết là do chính Hồ chí Minh đã chỉ điểm cho mật thám bắt, mục đích tiêu diệt hết cái đám cọng sản Nam Kỳ, để đảng bộ miền bắc nắm trọn quyền lảnh đạo.
 
            Do trên VC Bình Thuận mới đặt tên chiến khu tại địa phương là Lê hồng Phong. Xưa nay vào khu có nhiều đường. Trên quốc lộ số 1, có thể theo lối từ Sông Lũy hướng bắc hay men theo sườn núi Tà Dôn, nằm trong ranh giữa hai xã Long Phú (Thiện Giáo) và Nhơn Thiện ( Hòa Ða), thường được gọi là Cây Táo, ngả ba nhà ga Long Thạnh và đường nối QL1 với liên tỉnh lộ 8 gặp nhau tại huyện lỵ Ma Lâm ( Thiện Giáo). Ðây cũng là nơi trước năm 1970 từng xãy ra các cuộc đụng độ đãm máu giữa VC và các lực lượng Mỹ Việt, song song các vụ đặt mìn, đóng thuế xe đó, bộ hành xuôi ngược trên QL1. Cũng chốn này, nhà văn quân đội nổi tiếng của miền Nam là Y UYÊN, tên thật là Nguyễn văn Uy, sinh tại Bắc Việt, sĩ quan QLVNCH thuộc Tiểu Khu Bình Thuận, đã tử trận ngày 8-1-1969 tại đồn Nora ( Long Phú). Lúc sinh thời, Y Uyên có nhiều tác phẩm giá trị đã xuất bản như Bảo khô (1966), Tượng đá sườn non (1966), Quê nhà (1967), Ngựa tía (1968) và Ðuốc sậy (1969).. Riêng về hướng biển, trên tỉnh lộ 28 Phan Thiết-Mũi Né, đến xã tị nạn Thiện Nghiệp, rẽ theo đường vào Bàu Me, Bàu Tàn, Bàu Sen.. Xa hơn là Thạch Long tới Hòn Rơm, Hòn Hồng nằm trong xã Hoà Thắng, cửa khẩu giao thường và tiếp vận từ bên ngoài cho VC trong vùng.
 
            Kể lại chuyện mật khu Lê trong thời chiến tranh 1955-1975, không thể không nói tới chiến công của Trại Lực lượng đặc biệt Phi Hổ, trong đó nhà thơ Nguyễn bắc Sơn cũng đã có thời gian theo đơn vị này nhiều lần hành quân tại đây. Qua tài liệu của Trung Tá LLDB Trịnh văn Viễn hiện nay ở Texas Hoa Kỳ, từng là chỉ huy trưởng trại Phi Hổ thì trại này nằm trong xã Chợ Lầu cách thị trấn Sông Mao, một nơi có mỹ danh là Chợ Lớn Mới, vang danh một thời trước năm 1975 :
 
‘ mai ta đụng trận ta còn sống,
về ghé Sông Mao phá phách chơi
chia sớt nổi sầu cùng gái điếm
đốt tiền mua vội một ngày vui..”
( Mật khu LHP-NBS).
 
            Trại Phi Hổ nguyên là hậu cứ củ của Trung đoàn 42 bộ binh, đối mặt với mật khu Lê Hồng Phong VC. Tháng 2-1962, đại uý Trịnh văn Viễn, chỉ huy toán B3/LLDB đến công tác trong vùng, giữa lúc tình hình an ninh khu vực tồi tệ đến mức VC dám về các xã đông dân trong vùng hằng đêm để hát xướng, tuyên truyền và thu thuế, mặc dù tại đây có các đơn vị Bảo An-Dân vệ và Trung tâm huấn luyện Bảo An tại Sông Mao. Ðể ứng phó với tình hình, trại đã thành lập các đơn vị dân sự chiến đấu, ăn lương Mỹ, không có số quân do các thanh niên trong vùng, kể cả Phan Thiết tình nguyện,lên tới 1 tiểu đoàn , hành quân dưới sự hướng dẫn của toán B/LLDB.
 
             Sau này tiểu đoàn DS chiến đấu trại Phi Hổ được chính Bộ trưởng QP.Hoa Kỳ là Mc.Namara khi đến thăm Ấp chiến lược Lương Sơn, đã gọi đó là TD1 Nhảy dù LLDB do Ðại uý Trịnh văn Viễn chỉ huy tổng quát. Cũng kể từ đó, trại Phi Hổ trở thành tử thần của mật khu Lê, thường xuyên tổ chức các cuộc hành quân thám sát, nhảy dù ngay chính trong lòng đất địch, gây bất an và thương vong thường xuyên cho các đơn vị VC trong vùng. Ngoài ra Trại còn phối hợp với Tỉnh Trưởng Bình Thuận lúc đó là Trung Tá Nguyễn quốc Hoàng, tổ chức thành lập các Trung đội DSCD tại các xã trong quận Phan Lý Chàm, Hoà Ða do Hoa Kỳ trả lương để họ tự bảo vệ các ấp chiến lược.
 
             Ðặc biệt nhất là tại xã Lương Son, đông dân, trù phú nằm ngay trên QL1, đối mặt vơi khu Lê, trại Phi Hổ đã tổ chức được một LL/DSCD trong đó có 1 trung đội nử biệt kích LLDB, chính lực lượng này đã góp công lớn trong việc tiêu diệt nguồn nước uống của mật khu, làm cho các đại đội địa phương VC phải rút đi nơi khác, chỉ lưu lại một trung đội hoạt động nghi binh mà thôi. Trước ngày binh biến 1-11-1963, trại Phi Hổ và TK Bình Thuận đã tổ chức một cuộc hành quân vào mật khu Lê, vưà tiêu diệt VC cũng đồng thời giải thoát số đồng bào còn bi kềm kẹt trong vùng. Tháng 3-1964, các toán LLDB hoạt động tại trại Phi Hổ được lệnh chuyển giao nhiệm vụ lại cho tiểu khu Bình Thuận, và mặt thật như ta biết là vùng này, ngoại trừ xã chiến lược Lương Sơn với sự hiện diện của TD-DSCD còn có an ninh, tất cả vùng từ Cây Táo tới Sông Lữy, Chợ Lầu rồi Vĩnh Hảo-Cà Ná trên QL1 trước năm 1970, đều là đất của CS , mặc dù sau khi LLDB rút, đã có các Trung đoàn 43 BB/Biệt lập hành quân. Sau đó là các Trung đoàn 44,53 BB và Thiết đoàn 8 kỵ binh của SD23 BB, kể thêm lực lượng Nhảy dù Hoa kỳ. Tình hình an ninh thật sự có được tại khu Lê và toàn tỉnh , bắt đầu năm 1970 khi đại tá Ngô tấn Nghĩa, trưởng phòng 2/QD2 về nhậm chức, cho tới lúc kết thúc chiến tranh vào cuối tháng 4-1975.
 
3-BẦU TRẮNG, CON DÔNG VÀ CÁ MÒI TRONG KHU LÊ :
 
            Nói tới mật khu Lê Hồng Phong, những VC về thành sau năm 1975 thường hay nói tới chuyện cá mòi của Bình Thuận. Ai cũng biết cá mòi cũng như cá nục và tất cả thủy sản trong vùng biển mặn là một ân điển trân quý của trời đất dành cho quê hương, giống như gổ súc, khoáng sản trên ngàn, khiến cho Bình Thuận nổi danh khắp nước trước đây cho tới thời VNCH là chốn rừng tiền biển bạc, nơi làm chơi ăn thiệt.
 
             Cá mòi trước năm 1954 đạt sản lượng mỗi năm từ 17.000 ố20.000 tấn. Ðang làm ăn ngon lành, không biết tự dưng biến mất hết ngoại trừ một số nhỏ còn lẩn quẩn sinh sống trong vùng biển cấm tại Hòn Rơm. Sau này các nhà khoa học giải thích, sở dĩ có hiện trạng trên vì cá mòi vốn sợ tiếng động, mà tại biển Bình Thuận từ 1955 về sau, ngành ngư nghiệp phát triển với các ngư thuyền toàn gắn động cơ, thay thế thuyền buồm xưa, cho nên cá mòi sợ di cư nơi khác, còn Hòn Hồng, Hòn Rơm thì không có ai léo hánh, vì vậy một số cá mòi về đây lập nghiệp .
 
            Về con dông, thổ ngởi của khu Lê, nay trong thiên đàng xã nghĩa cũng đã leo lên một địa vị lớn, chẳng những tại các nhà hàng ăn uống kháp vùng du lịch Cà Ná, Hòn Rơm, Mũi Né, Rạng, Ðồi Dương và thành phố Phan Thiết mà còn tiến nhanh tiến mạnh tới tận Nha Trang, Ðà Nẳng, Hà Nội và nhất là thành Hồ, với hổn danh KHỦNG LONG, được trân quý chẳng những là dân sành điệu địa phương mà còn có nhiều Tây Tà, Nhật Hàn và Việt Kiều khắp chốn. Khủng Long được bày bán quy mô trong đại tưu lầu Rồng Xanh trên đường Võ văn Tần gì đó ở Sài Gòn, với nào là dông nướng mọi, dông lột da chiên dòn,xào lăn.. Ðối với dân thành thị chưa quen, khi nhìn con dông còn sống ngọ nguậy , quả tình cũng ngán rợn nhưng bảo đãm đã nếm thử một lần thì tới già vẫn không quên vị ngọt đậm đà và dòn chắc của từng thớ thịt trắng ngần. Trước năm 1975 người ít và đủ đầy nên dông có hằng hà sa số tại các quận Bắc Bình Thuận nhưng đông đúc nhất là tại khu Lê, nơi có rừng cây thấp và sa mạc cát. Mùa nóng, dông ẩn trú kỷ dưới hang sâu chờ thời cho tới khi đầu mùa mưa vừa thắm đất, đủ làm cho cỏ chết hồi sinh, cũng là lúc nhà họ dông hoạt động, săn mồi , tỏ tình và trửng giởn. Theo từ điển thế giới động vật , thì Dông đực đặc biệt có tới hai món ăn chơi và Dông mái thì sinh nở vào khoảng thời gian mùng năm tháng năm, mỗi lần từ 4-10 trứng , dưới các hang sâu trên 1m. Dông ăn cây cỏ và các loại côn trùng như dế, cào cào, mối.. Dông đực còn gọi là dông thiềm thường nặng trên nửa ký, da có nhiều sọc đủ màu, còn con cái có nhiều chấm màu vàng, nhẹ hơn dông đực. Bắt dông cũng có nhiều cách nhưng thông thường thì đào hang, bẩy, cắm câu và đặt vòng gút. Thịt dông ăn ngon, hiền và các thợ nhậu có thể chế biến được nhiều món cũng rất khoái khẩu như bằm chiên chả, xào lăn, chiên bơ,nấu cà ri, trộn gỏi, nướng chao.. còn lính hay những người địa phương thì đơn giản hơn với món canh dông lá me non, dông xào đậu rồng, đậu ván, bông bí,mướp.. ăn cũng rất ngon miệng.Ngoài ra thịt dông nướng ,kẹp rau thơm chấm nước mắm nhĩ chanh ớt, cũng là thứ đưa cay đáng giá của lính trận hành quân trong lúc xa thành.
 
            Vào khu Lê đâu quên được BẦU ÔNG-BẦU BÀ,nằm cách QL1 tại Lương Sơn chừng 20 km, bao quanh bởi các động cát trắng cao vút. Theo bản đồ do Pháp ấn hành năm 1924 thì Bầu có tên là BÃI ÐỘNG nhưng dân chúng xưa nay vẫn quen gọi là Bầu Trắng hay hồ Ba Ðộng vì nằm giữa ba động cát lớn , thuộc thôn Bình Nhơn, tổng Vĩnh An, huyện Hòa Ða, phủ Hàm Thuận, giáp ranh với xã Hưng Nhơn, thôn Long Sơn và biển Ðông . Hiện nay sau thời gian dài bị cát xâm thực, diện tích hai bầu đã bị thu hẹp rất nhiều, chứ không còn giống như đã mô tả trong tài liệu Ðại Nam Nhất Thống Chí năm xưa ‘ Bầu Ông nhỏ hơn Bầu Bà, có chu vi 8 dặm, còn Bầu Bà rộng 12 dặm, hai bầu nằm cách nhau một đụn cát’. Trước có miểu thờ Bà Chuá động ngày nay đã biến mất, chỉ còn lại dấu vết cái nền mà thôi. Nước trong hai bầu ngọt và quanh năm mực nước không hao hụt, cân bằng hình như có mạch thông thương từ hai đáy. Ðối với Bầu Trắng, xưa nay vẫn có nhiều bí mật mà con người chưa giải thích nổi, chẳng hạn xuất xứ của bầu từ đâu mà có, là sông chết, biển cạn hay hồ tự nhiên ? và cuối cùng vì sao mà có vùng nước xoáy trên bờ biển Bình Nhơn, nay gọi là Hoà Thắng. Vũng nước này rất sâu, rộng tới 4m, từ trong lòng đất tuôn ra biển, được dân trong vùng gọi là CỬA LẤP của một con sông, đã bị cát động vùi dập, mà dấu vết còn lại là hai Bầu nước ngọt. Tại đây nhờ sự hiện diện của nước,nên có sự sống và cây xanh, dân quanh vùng ngoài nguồn nước, hải sản trong hồ còn trồng nhiều dưa hấu để ăn và bán hột. Ngoài ra còn có SEN mọc phủ kín hai mặt hồ, vì vậy người ta cũng gọi Bầu Trắng là Bầu Sen. Cây sen có tên khoa học là Nelumbium speciosum willd, có xuất xứ tại Ấn Ðộ, thuộc loại thủy sinh từ lá, bông, hạt và củ đều ăn được. Sen là một biểu tượng thiêng liêng trong các đại tôn giáo cuả Châu Á nhất là Phật giáo. Theo William viết năm 1998, thì đói với nhà Phật, sen được coi là biểu tượng cao quý nhất của sự tinh khiết, hoà bình, từ bi và vĩnh hằng vì :
“ trong đầm gì đẹp bằng sen
gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn..”
(ca dao VN)
 
            Cho nên hoa sen được sử dụng nhiều nhất trong các loại hoa, dành cho mọi lễ hội của người Chấu Á, còn củ sen lại bán chạy trên thị trường. Tại Âu,Phi Mỹ và Úc châu, người ta dùng Sen để trang trí hơn làm thực phẩm, riêng các nước Trung cộng, Ðài Loan, Nhật, Ðại Hàn , Ấn Ðộ.. còn xử dụng sen làm y dược, chế biến các món tiềm thuốc bắc.. Tại VN ngày nay, Ðồng Tháp và Bình Thuận trồng nhiều sen và mỗi năm bán sang Nhật hơn 3 tấn củ sen muối, với giá cao nhất trên thị trường tính theo CIF là 343 yen/1 kg.
 
            Tại Bầu Trắng còn một món cũng không thể quên được , đó là món CHÁO TIỀU HOÀ THẮNG, nôm na là cháo Quãng Ðông của dân địa phương, quen dùng đãi bạn bè thập phương khi tới thăm khu Lê. Cháo nấu bằng các loại cá nhỏ như cá chỉ, cá trích hay cá ngân vừa đánh xong còn tươi, lạng hai bên lấy thịt, còn đầu và xương bỏ, đem ướp gia vị. Nồi cháo được nấu bằng lửa liu riu, không đặc mà cũng không lỏng quá và lúc nào cũng phải ở độ nóng. Bàn tiệc đơn sơ gồm có cá ướp, một tô đựng hành lá thái nhỏ, một chén tiêu bột, dĩa rau thơm, chén nước mắm nhĩ chanh ớt và nồi cháo trắng bốc khói nghi ngút. Cách ăn cũng giản dị, gắp cá tươi ướp bỏ vào chén, thêm hành, tiêu bột rồi múc cháo nóng đổ vào,nếu cần thì thêm chút nước mắm, cọng rau thơm, thế là vừa ăn vừa thổi, thỉnh thoảng nốc vào ngụm rượu nếp nguyên si tại bản địa, để khật khà quên tạm cuộc sống và kiếp người lận đận lao đao trong thời đại đô la và chứng khoán. Theo lời kể thì món cháo tiều này có xuất xứ từ các thương buôn người Hoa Nam, lưu lạc tới đây từ thế kỷ thứ XVIII trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh. Về sau do nhu cầu phát triển làm ăn, một số lớn đã dời về các đô thị nhưng cũng để lại một số hậu duệ và chính những người này tiếp tục phát huy cũng như lưu giữ món ăn của tổ tiên để lại.
 
4-RẠNG, MŨI NÉ, HÒN RƠM : CỬA NGỎ VÀO KHU LÊ :
 
            Ðường ra Rạng, Mũi Né, Hòn Rơm vào khu Lê ngày nay đã đổi khác , không còn là những thôn xóm chài lưới năm nao từ Rạng tới Mũi Né, êm đềm núp mình dưới rặng dưà xanh ven biển. Tất cả đã lột xác hoàn toàn kể cà con đường cái quan từ Phú Hài về Vị Nê luôn hành hạ con người vì cát. Bắt đầu từ tháng 3-1998, đường được mở rộng từ Phan Thiết ra tới tận khu du lịch Hòn Rơm. Trên bờ biển Hoà Thắng, nước luôn trong xanh in bóng núi màu hồng rất hùng vĩ, đứng sát mé nước, làm thành nhiều bãi bờ qua những cái tên ngộ nghĩnh như Bãi Ốc sóng biển lăn tăn, Bãi Xếp cây cồi bạt ngàn, Bãi Ghềnh bạc đầu sóng nước, Bãi Dơi đầy bóng dơi bay và xa xa Hòn Nghệ nhìn giống như thần Kim quy đang lặn hụp trên Ðông Hải trùng trùng. Ðường về thôn xưa rất đẹp, nhờ nguồn vốn của tây tà nên phẳng lỳ láng coáng, mở rộng có kè tại các động cát từ Rạng về Mũi Né, ven biển qua các di tích và thắng cảnh hửu tình như núi Cố, Bạch Hổ, đồi Bà Nài, Tháp Chàm Phố Hải, Lầu ông Hoàng, khu lăng mộ Nguyễn Thông, Ðá ông Ðiạ.
 
            .Chen lẫn trong màu xanh của biển, màu vàng trắng của cát là lớp lụa màu thiên thanh của những vườn cây trái, đồi chuối, rừng dừa.. gần như che mát lối đi và đặc biệt tạo thành một vương quốc cho các loài chim se sẽ, cu xanh ,sáo sành. Tại đây còn có loài Sóc xám, thú rừng trên lưng có sọc, ăn chuối, dừa, trái cây, sống từng cặp trên chọt ngọn dửa cao lắt lẽo, có nhiều tại thôn giữa xứ Rạng, khó ai bắt được dù bị treo giá cao, gần 1 triệu tiền hồ/1cặp. Còn Mũi Né trước năm 1975 là huyện lỵ Hải Long, xưa chỉ là một làng đánh cá nhưng phong cảnh lại rất hữu tình, từ ghềnh đá lên tới những núi cát lúc nào cũng muốn đẩy hết con người ra biển, để tự mình độc tài, độc đảng. Riêng Hòn Rơm trước năm 1975 thuộc vùng oanh kích tự do, chỉ mới được biết tới từ tháng 10-1995 khi VN có hiện tượng nhật thực hoàn toàn tại Tà Dôn và Mũi Né. Hòn Rơm trước thuộc Bình Nhơn, sau là Hoà Thắng, cách xã Thạch Long vài cây số, là cửa khẩu quan trọng để chuyển hàng tiếp tế từ Bắc Việt vào khu Lê cho cán binh bằng đường biển. Cát và đất núi ở đây đều màu đỏ làm cho con suối nhỏ cũng có tên là Suối Hồng.
 
             Hòn Rơm thật ra chỉ là một ngọn đồi thấp, nằm chơ vơ giữa một đồi cát nhô sâu ra biển, mùa mưa có chút nước làm cho cây cỏ hồi sinh, trái lại trong mùa nắng gắt, cỏ cây tàn lụn xác xơ, biến thành màu vàng , xa nhìn giống như đụn rơm khổng lồ, nên mới thành cái tên Hòn Rơm hay Hòn Hồng. Từ sau năm 1996, Mũi Né rồi Hòn Rơm bước vào kỷ nguyên mới của ngành du lịch. Cũng kể từ đó dôc theo con đường từ dốc lầu ông Hoàng ra tới Hòn Rơm mọc đầy các làng và khu du lịch từ giá bình dân tới hạng siêu sao đúng cở và món đặc sản du lịch trên cát” loại xe 2 bánh hay xe vùng Vịnh” khiến thiên hạ tứ phương ùn ùn kéo về du lịch. Tất cả tuỳ theo tiền, cao nhất cả trăm đô/1 ngày , còn bình dân thể thao thì ngủ lều ngoài bãi giá chừng 50.000 tiền hồ/1 ngày. Ngoài tiền ăn, ngủ và tắm biển, rong chơi trên cát, còn có tiền ăn nhậu hải sản quý như ốc, tôm, cua, cá và dông, tuy không giống ai nhưng mắc mõ dể sợ. Nay Bình Thuận lại mới thêm một món ăn mới “ MỰC MỘT NẮNG “, vì không còn mực tươi để mà ăn. Trước năm 1975, người Phan Thiết-Bình Thuận ăn mực khác bây giờ. mực tươi bắt được chỉ cần nhúng sơ chút nước sôi hay bỏ hấp trên nồi cơm nóng lá ăn ngay, đó là ngoài biển. Còn về nhà hay trên bến, mực chỉ cần làm sạch hắp sơ, rồi chấm với mắm gừng hay mù tạt.. Theo Nguyễn thị Huệ, chủ vựa cung cấp món “MỰC MỘT NẮNG” lớn nhất tại Phan thiết hiện nay, thì mực phải tươi và tuỳ loại, chẳng hạn như MỰC ỐNG chỉ phơi khô, MỰC NANG xuất khẩu để chế biến món Sasimi của Nhật, còn MỰC LÁ mới chính là nguyên liệu làm mực một nắng, món ăn thời thượng ngày nay tại Phan Thiết-Bình Thuận. Xuất xứ món ăn này là chủ nhân Quán Cây Bàng ở Rạng, chuyên bán các đặc sản của Phan Thiết như gõi cá mai, cá suốt, cháu hàu.. Mực một nắng được chế biến từ mực tươi mới dánh về, làm sạch rửa qua nước lợ rồi đem sấy ở nhiệt độ 43 độ C chừng 4-5 giờ, rồi bỏ vào tủ đá, hoặc đem phơi nắng phơi sương một đêm, mục đích làm cho con mực vẫn còn tươi.
 
             Hởi ơi mực một nắng hay gì gì chăng nữa đang xãy ra tại quê hương ngày nay cũng chẳng qua là một khúc tận tuyệt của xứ biển, bởi trong đó có chứa cái mặn mòi của biển, cái sương giá máu mắt cũa ngư dân và nổi vất vả trùng trùng mà kiếp người dân biển nghèo cực đã gánh chịu tự bao đời.
 
            Sinh và lớn lên tại Phan Thiết bao nhiêu ngày, rồi phải xa quê hương không hẹn ngày trở lại, thì làm sao ai chẳng nhớ và càng nhớ hơn lúc nữa đêm ngồi vơ vẫn nghĩ tới những bạn bè đã nằm xuống tại đây trước năm 1975 hay sau này khi vượt ngục VC tại Lương Sơn ..
 
 
Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 4-2010
Mường Giang