Monday, April 20, 2020

Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Đồ Ngu
Chủ Nhật, 10 Tháng Hai 20197:02 CH
DoCaoTri
( HNPĐ ) A. Như lời mở đầu trong một truyện ngắn trước đây, tôi đã giới thiệu ông Thày khai tâm cho Đồ , đó là ông Ba hớt tóc thời còn nhỏ. Học trò vốn phục Thày. Ngày ấy, ông Ba, đối với Đồ tôi, là một quyển tự điển sống. Nhưng thôi, hãy gác lại chuyện “trí tuệ. .”. sang một bên cái đã. .
Ngày xưa ấy. Cứ vào mỗi buổi trưa những ngày nghỉ, Bố tôi thường bắt tôi nhổ tóc sâu , khi thấy Ông bắt đầu ngáy, tôi cẩn thận cất những sợi tóc sâu vào cái hộp thiếc ( Để dành cho lần nhổ sau…) Rồi vù chạy ra “ Tiệm ông Ba”. Lúc nào không có khách, ông Ba luyện cho tôi đánh cờ. . .
Sau mấy tháng, thấy cách đánh cờ của tôi không mấy sắc nước. Ông phán: Những người đánh cờ dở, thường chỉ lăm lăm ăn, chứ không thích dùng mưu. Đó là tệ hại của bạo lực, một sự thoái hóa của tri thức. . ( Mãi sau này tôi mới hiểu câu ông dùng với tôi hôm ấy).
Vài tháng tiếp theo, lối đánh cờ của tôi vẫn thế, lúc nào cũng thích công chứ không chịu thủ, thích vác quân để chiếu tướng chứ không biết cái nguy diệt quốc đã sát đến bên thành. . . Ông lại bảo: Phàm quân dễ bị ăn nhất là con Tốt, con này vừa có số đông, lại chỉ là quân lót đường. ( Ông chép miệng) thời loạn ly này, ai chả phải ra chiến trường. Cậu có đi học tất sẽ phải đi làm quan , hãy nhớ lời tôi, đừng thí chốt. . .Tội nghiệp lắm !
B. Trước đây, mỗi lần viết truyện ngắn hay truyện ký, tôi thường nhắc đến ông Tướng Đỗ Cao Trí. Tôi luôn khâm phục ông Tướng này vì ông vốn có cái Đức ( Tôi viết hoa) của một người cầm quân.
Chuyện như sau:
Ở mặt trận Svayrieng, Tiểu đoàn Đồ tôi thuộc Chiến đoàn 333. 2 cánh kia, một của Biệt động quân và một của Sư đoàn 18. Cánh quân Chiến đoàn 333 bị địch chặn lại ở phía Đông thị trấn Bravet. Số tử thương của Tiểu đoàn tôi đã lên đến hàng chục. . .
Trời đã nhá nhem tối. Chiếc trực thăng chở Tướng Trí vừa đáp xuống phía sau của ngôi chùa dùng làm Bộ chỉ huy của Tiểu đoàn tôi. Thấy Đại tá Lều Thọ Cường Trung đoàn trưởng Trung đoàn 46, ông hỏi ngay:
- 2 ngày chạm địch, tổn thất của ông là bao nhiêu?
- Trình Trung tướng 36. Trong đó có 4 sĩ quan, ..
Ông Tướng bỗng vung cây can. Giọng tức giận:
- Lần sau, ông chỉ cần trả lời tôi là tổn thất bao nhiêu thôi nhé! quan hay lính cũng thế mà thôi! ( Ngừng một chút, ông dịu giọng) Kế hoạch của Đại tá ngày mai làm sao? Thôi, khỏi cần nói, tôi thấy Đại tá đang dồn quân để ngày mai dứt điểm phải không? Đại tá chỉ cần trả lời tôi là: Sau khi ông chiếm được Svay-rieng này, ông sẽ tổn thất thêm bao nhiêu quân sô nữa. . ?
Đại tá Cường ú ớ. . .
Tướng Trí chỉ vào bản đồ:
- Đêm nay, có thằng Biệt Cách đến thế chỗ cho ông, ông cho chuyển các nỗ lực của ông đến bờ sông Onkslar, quân địch tất sẽ tháo chạy về phía ấy. . .
Ông Tướng nói xong quay ngoắt trở ra , ông không đi bằng lối vào mà đi thẳng đến những căn lều bạt dựng tạm của Trạm quân y. Ông từ tốn hỏi thăm từng binh sĩ một. Chợt ông hất hàm hỏi viên Y sĩ trưởng:
- Sao không chuyển ngay về Bệnh viện Tây Ninh. . .
- Thưa Trung tướng, máy bay hôm nay không có. . .
Ông Tướng di di cây can vào má. Ông ra lệnh:
- Thế này nhé, đưa tất cả anh em bị thương lên máy bay của tôi, đưa thẳng về Cộng Hòa. Cho máy bay về luôn căn cứ. . .
Máy bay riêng về luôn căn cứ, có nghĩa là ông Tướng ở lại, nơi tuyến đầu với chúng tôi , trực diện với địch có tầm ngắm bắn chưa đầy tầm bắn của súng AK…
Mặc dù đêm ấy, Chiến đoàn đã cho đưa đến một chiếc M77 ( Loai xe chỉ huy của Thiết vận xa) để ông Tướng ngủ, nhưng ông đã từ chối, ông lấy 1 cái poncho dựa lưng vào gốc cây thốt nốt ngồi hút thuốc.
Tôi nhớ đến ông Thày khai tâm cho tôi, ông Ba hớt tóc. . .
C. Đến lúc này, thời chinh chiến kia đã qua, Đồ tôi vẫn nhớ đến ông Tướng, một người có cuộc sống đời thường phóng khoáng, có chút tai tiếng... nhưng lại là một ông Tướng tiết kiệm. Ông tiết kiệm máu xương của đồng đội dưới quyền. . .
Ông tổ của Cộng sản rao giảng cái học thuyết phi nhân: " Con người cũng là hàng hóa" , Nay thì đã ứng nghiệm rồi, hàng hóa " made in china" đang tự đào huyệt chôn mình, bởi chúng có lượng mà không có chất. Còn " hàng người " thì ngang hàng với " hàng súc vật" với các món ăn kinh dị phục vụ cho bọn tư sản đỏ, như cháo thai nhi, tiết canh trinh nữ, súp dương vật đồng tử...
Việt Cộng học theo binh pháp coi rẻ mạng người của Trung Cộng với chiến thuật " biển người " đã phô diễn cái bản chất vô nhân tính của chủ nghĩa Cộng sản nhưng, cho đến bây giờ, có lẽ, phần còn lại của Thế giới chưa biết nhiều về người Mỹ. Mỗi khi họ sắp sửa đưa thế lực nào đó vào tầm ngắm bắn, là lúc họ khoác cho nước đó ( nhất là về quân sự ) một " sức mạnh đáng sợ" với những thứ vũ khí kinh khủng, được trang bị cho một quân đội vô song, hãy nhìn lại Iraq trước khi Mỹ mở cuộc tấn công thì rõ...Trong khi ấy, Tầu Cộng và Việt Cộng thì lúc nào cũng một tấc tới trời...Mỗi lần đọc tin, thấy Trung Quốc dọa nơi này, đem tầu, đem quân đến nơi kia với những số lượng rất lớn. Người thức giả, chỉ nhếch mép cười...
Thế thì , vấn đề là: Ngày nay, câu nói giết người của anh Tầu cổ hủ: Nhất tướng công thành vạn cốt khô có còn đúng đắn không nhỉ?
( Đồ Ngu )
* Post lại để nhớ về một kỷ niệm chợt thức sáng nay 10 tháng 2...
DŨNG TƯỚNG ĐỖ CAO TRÍ hay ngày 03 Tháng 3: Nhân ngày Tử trận của Chuẩn uý Nguyễn Thiên Trường _ Đồ Ngu
Chủ Nhật, 03 Tháng Ba 20197:56 CH
( HNPĐ ) Đó là năm 1969. Đại đội Trinh sát 46 của tôi vừa đi hành quân dài ngày từ mật khu Hố Bò trở về.
Đến hậu cứ ( Bộ chỉ huy tiền phương của Trung đoàn 46BB ) ở Chà Rầy, tôi bảo chú hiệu thính viên:
- Nói Trung đội trưởng Viễn thám cho Chuẩn uý Trường lên lấy giấy phép.
Thời điểm đó, sau biến cố Mậu thân 1968, lệnh cấm phép kể cả phép thường niên vẫn còn hiệu lực . .
Trường cầm tờ giấy phép 07 ngày với lý do cưới vợ đang tính chào tôi để ra xe. Tôi vỗ vai Trường rồi đưa cho anh một phong bì:
- Chúc mừng Trường hạnh phúc. Trong này có một tờ giấy phép 3 ngày tặng thêm cho cậu. . .
Trường chào tôi rồi ôm ba lô vội vã lên chiếc xe dodge của đại đội ra Trảng Bàng
Trung uý Mãng, Đại đội phó cười:
- Thêm 3 ngày nữa là 10 ngày, thơm quá. Mười ngày với Tân giai nhân ca sĩ NG.M. nào thấm béo gì. Cha này không trễ phép, ông chặt đầu tôi. . .
7 ngày sau Trung đoàn 46 thành nỗ lực chính của Chiến đoàn 333 được lệnh hành quân tức tốc tràn chiếm Chi-Phu. . .
Đoàn xe của Bộ Chỉ huy có Đại đội Trinh sát đi đầu, 2 chiếc GMC phía trước chậy đến ngã tư Trảng Bàng thì bỗng dưng chậm hẳn lại đủ cho tôi trông thấy bóng to con của Chuẩn uý Trường nhẩy lên phía trước, rồi anh lần theo khung xe lên phía sau. .
Cái speaker từ máy PRC 25 vang lên:
- Trình thẩm quyển Hải Điểu, thẩm quyền " Tăng Gô" của tôi đi phép trở về.
Tôi rút vội sổ tay, ghi:
- Đến nơi đóng quân, gọi Trường lên Ban Chỉ huy gấp.
Tôi bỏ quyển sổ tay vào túi áo. Lại thấy có chút gì không ổn. Tôi lấy quyển sổ ra ghi thêm: " Vụ đám cưới"
" Vụ đám cưới" : Trường với NG.M. là một cặp tình nhân lý tưởng trước khi thành thân. Cả 2 người đều say mê âm nhạc. Trước khi bị động viên vào Thủ Đức. Anh đã từng đệm đàn, sau đó còn say mê phối khí cho những bài Ng.M. hát. Những ngày Đại đội Trinh sát về hậu cứ. Ng.M. thường rủ những ca sĩ bạn bè lên để hát cho đồng đội của Trường nghe. . .
Những tiếng hát có hoà âm bằng những tiếng đạn pháo từ xa rung rinh bóng dừa nước làm cả người nghe, người hát có cảm giác như đang hăm hở với tiếng kèn thúc quân. . .
Thế nhưng, tôi phải viết thêm " Vụ đám cưới" là vì, Từ ngày ra trường, tôi vẫn thường phải chứng kiến những tân lang khi trở lại chiến trường. . ." tai nghe tiếng súng trận mà vẫn còn âm ỉ tiếng pháo hồng ngày cưới" đã phải hi sinh vì đạn thù. . .
Tôi đã định đưa Trường về Ban Chỉ huy, rồi cho Trường đi học. . .
. .Khi những đứa con đầu chạm vào những rặng thốt nốt. Tôi biết mình đã vào đất Căm Bốt. . .Tôi nghe tiếng của Đại tá Lều Thọ Cường, Chiến đoàn trưởng 333:
- Sẽ có " thằng 2 của thằng 10" ( Chi đoàn 2/Thiết đoàn 10) đến đón anh. Từ giờ phút này, anh tùng thiết, cẩn thận khi chiếm mục tiêu. . .
Khi cánh quân tiến gần đến chùa NealPuong. Khi những chiếc thiết giáp chồm lên những gò cao để yểm trợ cho những toán viễn thám chiếm khu vực chùa. Bỗng từ 3 phía trước, phải và trái những tiếng đạn cá nhân và cộng đồng của địch bắn ra xối xả...
Chiếc trực thăng của Tướng Đỗ Cao Trí, lảo đảo đáp ngay chỗ Ban chỉ huy của tôi cùng lúc với một lằn đạn mầu xanh của trái B 41 xẹt tới làm nổ tung chiếc thiết vận xa M77 ( loại của Chi đoàn truởng). Bỗng đầu tôi tê dại. " Lại bị thương nưã sao? " nhưng chỉ một tích tắc sau đó. Tôi biết đó là do cây can của Tướng Trí, kèm theo tiếng quát của ông:
- Mỏng quân ra, thằng thiết giáp không tiến nữa. Lại một cái đánh đầu nữa nhưng lần này dịu hơn kèm theo:
- Chú mày cho một toán Viễn thám đi vòng phía Tây, chiếm ngay gác chuông chính cho moa. . .Đó hoả lực chính và toán bắn sẻ của chúng ở đó đó. . .
Ông nói xong, và mặc cho những lằn đạn bắn cầy đất chung quanh. Ông đủng đỉnh đi về phía sau.Lên máy bay rồi cứ thế chiếc máy bay ấy bay rất thấp quanh gác chuông nhả những tràng đại liên và những chùm M79 vào đấy.
Tôi nghe rõ tiếng chuẩn uý Trường:
- Báo tin vui cho Thẩm quyền, chúng tôi đả làm chủ. . .
Bỗng tiếng anh im bặt...( rồi gần 5 phút im lặng vô tuyến rợn người)... là tiếng của hiệu thính viên lạc giọng:
- Thẩm quyền tôi " Hai Lần Tư Tưởng" ( tử thuơng) rồi. .
Đó là buổi chiều đầu tháng 3, năm 1969, gió đã se lạnh.
Đồ Ngu
( HNPĐ )

Sunday, April 19, 2020

Chút Ký Ức Về Cao Nguyên - Trần Châu Giang, K22/Đa Hiệu 115

Posted by   March 01, 2019  1709
Chút Ký Ức Về Cao Nguyên - Trần Châu Giang, K22/Đa Hiệu 115
Tôi bước xuống phi trường Cù Hanh, Pleiku vào một buổi trưa đầu năm 1968. Trời nắng nhẹ, cùng vài cơn gió thoảng qua làm lay động các bụi cỏ lau bên rìa phi đạo và tạo thành âm thanh lao xao liên tục khiến tôi có cảm giác dễ chịu. Tôi được chỉ định về Trung Đoàn 3 Thiết Giáp, mà bộ chỉ huy đóng tại đây, để phục vụ. Những tháng ngày kế tiếp, tôi quay cuồng cùng đơn vị. Từ mờ sáng tới khi trời chập choạng tối, tôi chỉ thấy con đường 14, với rừng và núi. Thời gian sau tôi thường cùng đơn vị di chuyển theo đường 19 từ Qui Nhơn lên. Sau khi vượt qua đèo Măng Jang cao ngất, trước mắt tôi là không gian bao la. Tôi mới cảm thấy được thiên nhiên hùng vĩ của vùng cao nguyên này, đối nghịch với kích thước nhỏ nhoi của con người.

Với độ cao từ 500 tới 1500 mét trên mặt nước biển, cao nguyên trải dài từ Bắc Kontum cho tới Lâm Đồng. Dân cư ở đây thưa thớt với nhiều sắc dân. Nổi bật nhất là người Ra Đê, Gia Rai, Bahna, và Sedang. Trình độ phát triển của các sắc dân này không đồng đều.

Khi Chúa Nguyễn Hoàng trốn chạy chúa Trịnh Kiểm tìm về phương Nam lập đế nghiệp, với lời căn dặn “Hoành Sơn Nhất Đái, Vạn Đại Dung Thân”, nhưng các chúa sau chỉ tạo dựng đế nghiệp quanh những đồng bằng miền duyên hải. Mãi cho tới thời Tây Sơn, vùng cao nguyên này mới có dấu viết lịch sử. Xuất thân từ một nhà buôn, có dịp đi nhiều nơi, một trong những người vợ của ông Nguyễn Nhạc là người Bahna, và đội Tượng Binh nổi tiếng của vua Quang Trung xuất phát từ vùng đất này. Con đường 14 hiện nay có thể mang ít nhiều dấu vết con đường thượng đạo ngày xưa. Khi thống nhất đất nước, nhà Nguyễn chỉ đặt các đạo để cai quản vùng này, mà không có kế hoạch phát triển.

Lúc xâm chiếm nước ta, người Pháp nhận thấy đây là vùng đất nhiều tài nguyên, nên đưa ra chính sách hạn chế người Kinh lên vùng cao nguyên này. Khi người Pháp bị buộc phải trao trả độc lập cho VN thì nhà Nguyễn cũng muốn giữ làm của riêng cho hoàng tộc, với tên gọi Hoàng Triều Cương Thổ.

Cao nguyên này thay đổi một cách toàn diện vào thời Đệ Nhất Cộng Hoà, với tên gọi CAO NGUYÊN TRUNG PHẦN, được phân chia theo các điạ giới hành chánh. Chính quyền đương thời tập trung vào một việc rất quan trọng, là phân bổ lại dân chúng. Với gần một triệu người di cư từ Bắc vào Nam, chính phủ của Tổng Thống Diệm khuyến khích và kêu gọi di dân lên cao nguyên lập nghiệp.

Khởi thuỷ gần 60 ngàn người đã lên vùng này, tập trung sinh sống tại các khu dinh điền rải rác, nhiều nhất ở vùng Ban Mê Thuột và Kontum. Riêng tại Kontum, di dân lập làng quanh thị xã, và trải dài lên phía Bắc. Họ đã lập các làng Ngô Trang, Trung Đạo gần Võ Định, và Diên Bình gần Tân Cảnh. Một vài đơn vị võ trang của giáo phái Hòa Hảo cũng được di chuyển lên đây khi giáo phái này về hợp tác với chính phủ. Ngoài việc an dân, việc làm này còn mang ý nghiã về quốc phòng.

Tôi không biết nhiều về phía Nam cao nguyên, vì tôi chỉ ở cùng một đơn vị Thiết Giáp, luôn hoạt động ở phía Bắc, không kể trận Ban Mê Thuột, diễn ra vào giai đoạn chót của cuộc chiến. Tuy nhiên, vùng Pleiku và Kontum mới là điạ bàn chính trong chiến tranh của vùng cao nguyên. Các cuộc đụng độ lớn giữa ta và VC luôn xảy ra ở đây. Cả Vùng 2 Chiến Thuật có 5 thiết đoàn Kỵ Binh. Trừ hai chi đoàn Thiết Kỵ hoạt đông dưới miền duyên hải, toàn bộ năm thiết đoàn đều nằm trên vùng cao nguyên. Trong đó bốn thiết đoàn bố trí tại Pleiku và Kontum.

Gần như trở thành qui luật, ngoài các trận đánh lẻ tẻ diễn ra suốt năm, vào đầu mùa mưa đều có những trận đánh lớn với sự tham dự của nhiều trung đoàn quân chính qui của CS miền Bắc. Những năm 1965 và 1966, các trận đánh lớn diễn ra ở Đức Cơ, Pleime; năm 1967 ở Dakto; năm 68 Mậu Thân; năm 69 ở Ben Hét; năm 70 ở Dak Seang; năm 71 ở căn cứ 5, căn cứ 6; năm 72 ở Tân Cảnh. Sau những trận đánh này, thương vong của ta thật lớn lao, nhưng tổn thất của lực lượng CS Bắc Việt tăng gấp nhiều lần. Sau trận Ben Het, nhiều cán binh cuả quân CS miền Bắc bị chết nằm rải rác trong rừng, tan rữa chỉ còn bộ xương. Sau trận tại căn cứ 5, các đợt tiếp tế được yêu cầu mang thêm cả những bó nhang, không phải để cúng cô hồn, mà đốt lên để át mùi tử khí!

Nói tới vùng cao nguyên, không thể không nói đến con đường 14. Ngày nay, con đường này chạy từ Chơn Thành, chỗ giáp với Quốc Lộ 13, ra tới Quảng Trị. Nhưng đoạn đường từ Pleiku tới Dakto trong chiến tranh là con đường của xương, máu, và nước mắt. Các Trung Đoàn CS Bắc Việt 95, 28, và 66 thường đóng chốt ngăn chặn giao thông trên đoạn đường này, trước khi mở các trận đánh lớn. Còn thường ngày, từ Pleiku tới Kontum là vùng hoạt động thường xuyên của một đơn vị cấp tiểu đoàn D405? Từ Kontum tới Tân Cảnh là đơn vị C1. Các đơn vị CS này mở các cuộc phục kích nhỏ, bắn sẻ, và nhất là đặt mìn.

Vào năm 1968, đoạn đường này vẫn không có nhiều thay đổi khi so với thời gian trước khi quân Mỹ chính thức tham chiến ở Việt Nam. Chỉ có 1/3 mặt đường được tráng nhựa, 2/3 mặt đường còn lại vẫn là đất đá, vì vậy mìn bẫy luôn là nỗi ám ảnh cho các đơn vị. Quân đội Mỹ luôn xử dụng con đường này để chuyển tiếp liệu từ Pleiku lên các căn cứ phía Bắc. Để tránh bớt thiệt hại khi bị phục kích, Công Binh Mỹ đã cày sới, chặt cây, khai hoang vào hai bên đường, mỗi bên khoảng hơn 100 mét để đoàn “convoi” (đoàn xe hộ tống, tiếng Pháp) có thể di chuyển. Sau khi Thiết Giáp đã mở đường xong, là toán dò mìn đi so le hai bên đường. Phiá sau một đoạn xa là hai chiếc GMC chở đầy đá cục di chuyển dật lùi. Nếu có mìn còn sót lại thì nó sẽ nổ. Công việc thận trọng như vậy mà đôi khi vẫn bị tổn thất vì mìn, do kỹ thuật chôn dấu của VC ngày một tinh vi.

Tôi được nghỉ một ngày khi về trình diện trung đoàn, để chờ chi đoàn đến nhận. Khi về tới chi đoàn, một hai ngày đầu tôi còn bỡ ngỡ, nhưng vài ngày sau, tôi đã bắt kịp mọi việc. Vào thời gian này Trung Đoàn 3 Thiết Giáp được cải danh thành Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh. Thiết đoàn chịu trách nhiệm an ninh Quốc Lộ 14 từ Pleiku đến Kontum. Đoạn đường dài khoảng gần 60 cây số. Từ Pleiku tới Dak Doa, đồi dốc thoai thoải, địa thế lý tưởng cho các hoạt động của Thiết Giáp. Từ Dak Doa tới Kontum con đường 14 bị kẹp giữa hai dãy núi, phía Đông là dãy Chu Thoi và phía Tây là dãy Chư Pao, đoạn này dài khoảng 7 cây số. Khi mở đường đến đoạn này, Thiết Giáp chỉ có một khoảng trống rất hẹp để điều động.

Dak Doa cũng là một địa danh đáng được ghi nhớ, vì chính tại địa điểm này, vào năm 1955, Công Binh Việt Nam Cộng Hòa đã mở con đường đi về Quảng Ngãi. Vì chiến tranh, con đường hầu như không bao giờ được xử dụng. Những ngày tháng giữ an ninh trên đoạn đường này, đơn vị của tôi ít gặp mìn bẫy, nhưng vì các đoàn “convoi” của quân đội Mỹ vẫn đi đi về về hàng ngày, do vậy thường xuyên bị phục kích. Các đoàn xe bị tổn thất không nhiều, nhưng lực lượng của CSBV bị tổn thất rất nặng, một phần do sự phản công của Thiết Giáp, một phần do các khẩu đại liên sáu nòng bố trí xen kẽ trong đoàn xe hộ tống.

Đường 14 được nhắc đến nhiều sau này, là do trận chiến đẫm máu diễn ra ở Chư Pao năm 1972... Sau khi đã chiếm được Tân Cảnh, Mặt Trận B3 CSBV dự tính sẽ đánh chiếm Kontum. Muốn vậy phải chặn được viện binh từ Pleiku lên. Chúng đã chọn Chư Pao là điểm chiến lược, vì ngăn chặn được Chư Pao không cho quân đội chính phủ VNCH vượt qua là ngăn chận được lực lượng tiếp viện cho Kontum.

Chư Pao là ngọn đồi cao 1059 mét, nằm trong dãy núi phía Tây. Tại đây, Trung Đoàn 95A CSBV đưa một tiểu đoàn lên tổ chức trận địa. Từ cao điểm này, chúng dễ dàng ngăn chặn đoạn đường 14, nằm kẹp giữa hai dãy núi. Tất cả mọi di chuyển trên đoạn đường đều nằm trong tầm tác xạ của các loại vũ khí bắn thẳng. Lực lượng tăng cường cho Kontum đã phải trả giá rất đắt nơi đây. Về sau, Quân Đoàn II phải mở con đường 14B, lui về phiá Tây, song song với con đường 14, và sau dãy Chư Pao. Từ đây, một chi đoàn của Thiết Đoàn 3 đã xâm nhập vào mật khu cuả Trung Đoàn 95 CSBV. Cán binh CS thì đã chạy hết, nhưng mấy con heo đã làm sẵn thì vẫn còn để lại. Cũng từ đây, Thiết Giáp và Biệt Động Quân đã chiếm được đỉnh Benhet và giải tỏa cho Kontum.

Đầu năm 1969, quân đội Mỹ đã không còn giữ an ninh trên đoạn đường 14 từ Kontum đi Dakto. Vì thế, Thiết Đoàn 14 vừa được thành lập đã lãnh nhiệm vụ an ninh trên đoạn đường này. Ở phía Bắc Kontum, rừng rậm, đồi dốc nhiều, nhiều đường thông thủy cắt ngang quốc lộ. Đặc biệt, trên đường có rất nhiều mìn bẫy. Chỉ qua một đêm trên cùng một đoạn đường có khi khám phá cả chục mìn đủ loại. Đường tuy dài, nhưng có hai đoạn mà nguy hiểm luôn luôn rình rập: từ Kontum đến Ngô Trang, từ Võ Định tới Kon H’ring. Các đơn vị hành quân trong khu vực này luôn chịu tổn thất do bắn sẻ, phục kích, nhưng nhiều nhất do mìn bẫy. Đôi khi đường đã được mở, toán dò mìn đã xong, xe đã di chuyển, nhưng một chiếc trong đoàn xe cán mìn. Kết quả là không một ai sống sót.

Từ Kontum đi Ngô Trang, con đường đi lên một dốc cao của một ngọn đồi. Đó chính là Eo Gió một địa danh quen thuộc của những người lính chiến Kontum. Tại đây, Chi Đoàn 2/14 mất một hạ sĩ quan rất giỏi, bắn súng cối 81 ly không cần ống nhắm, yểm trợ chính xác, và hiệu quả. Sau khi dẹp tan một cuộc phục kích, người hạ sĩ quan này xuống xe lục xoát. Ông tìm được một cán binh CSBV nằm trong bụi rậm. Tay vẫn cầm khẩu súng colt, ông kêu người này đầu hàng. Thay vì làm như vậy, người cán binh này, đã bắn vào ông nguyên một băng AK. Với lòng cuồng tín và thái độ hận thù, tên CS này biến thành kẻ mê muội nên không nhìn thấy đâu là lòng nhân đạo.

Đoạn từ Võ Định tới Kon H’ring, phục kích và bắn sẻ diễn ra thường xuyên. Tại đây, Thiết Đoàn 14 mất một chi đoàn trưởng. Phía Bắc Võ Định không xa có một con suối nhỏ. Qua điểm này, chi đoàn không thể dàn đội hình, mà phải qua từng chiếc một. Thay vì phải để một chi đội giữ bên hông cho chi đoàn đi qua, Nguyễn Văn Âu đã khinh suất, không bố trí an ninh, và di chuyển ngay sau chi đội đầu vừa qua được mấy xe. Chi Đoàn bị lọt ổ phục kích. Truyền thống của chi đoàn này từ xưa đến nay và như thành thói quen, là khi bị phục kích, tất cả đều dàn hàng ngang tiến vào mục tiêu. Âu đã tử thương. Vài ngày sau, tôi được đưa về thay nhiệm vụ của Âu.

Qua đầu năm 1969, Công Binh Hoa Kỳ bắt đầu xây dựng lại đường 14, từ Kontum ngược về hướng Bắc, nhưng chỉ trải nhựa cho tới Tân Cảnh. Công việc vất vả, kéo theo sự mệt nhọc cho cả những đơn vị giữ an ninh. Công việc làm nền móng mất nhiều thời gian, nhưng khi trải nhựa thì nhanh chóng hơn. Trong một ngày có thể trải nhựa tới sáu, bảy cây số. Những người lính Công Binh này làm cho xong việc chứ không làm tới giờ là nghỉ. Một lần trời đã xẫm tối mà Công Binh vẫn làm, tôi nói với người cố vấn Mỹ,

- “Anh nói với Công Binh, nghỉ đi mai làm, lính của tôi mệt mỏi quá rồi.”

Người cố vấn này không nhìn tôi mà nhìn vào khoảng không rồi nói,

- “Đường này của anh, hay của tôi?”

Tôi không thể có câu trả lời.

Người lính Thiết Giáp giữ an ninh trên các trục đường, thoạt nhìn có vẻ thảnh thơi. Nhưng không phải vậy, vì họ ra đi từ mờ sáng, trở về khi mặt trời sắp lặn. Suốt ngày phơi mình dưới nắng, mưa, ăn uống kham khổ. Ngày nào thức ăn cũng toàn thịt ba lát, hoặc cá hộp măng le. Khi về họ còn phải lo xăng nhớt, đạn dược, tu bổ máy móc, còn canh gác, vv...

Vùng phía Bắc cao nguyên này có hai thành phố chính Pleiku và Kontum. Pleiku ở trên độ cao 900 mét. Xế về phía Bắc không xa là Biển Hồ. Đây là miệng núi lửa đã ngưng hoạt động từ rất lâu. Vì vậy, vùng Pleiku đất đỏ, mùa nắng thì bụi mù, mùa mưa thì bẩn. Nơi đây được chọn đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II. Không xa thành phố về phía Nam là núi Hàm Rồng, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Hoa Kỳ. Pleiku có đủ mọi sắc lính, cả Việt và Mỹ. Thỉnh thoảng, người ta còn bắt gặp những đoàn người thượng đeo gùi đi thành hàng dọc trong phố. Hình ảnh hoà trộn này khiến Pleiku có một chút gì hoang dã, hối hả, và tạm bợ.

Tuy vậy những con người qui tụ về đây vẫn khát khao một chút lãng mạng ở café Dinh Điền, một chút cầu kỳ khi cố lặn lội vào một hẻm sâu để tìm một tô bún bò Huế. Thành phố này còn có Câu Lạc Bộ Phượng Hoàng, nhưng nơi đây không phải nơi đến của những người lính suốt ngày lặn lội trong rừng.

Có một câu nói của giới giang hồ nơi đây, “Cái gì của Pleiku thì phải để lại Pleiku. Mang đi nơi khác, sớm muộn cũng mất.” Đúng sai tới đâu thì chỉ những ai đã lập nghiệp nơi này mới có câu trả lời.

Khác với Pleiku, thành phố Kontum, với dòng sông Dakbla chảy ngược, ở độ cao 500 mét.* Nơi đây có một chút gì như trầm lắng, phảng phất chút khuê các. Giờ tan học, những tà áo trắng trinh nguyên toả ra từ cổng trường, nhưng sau đó không thấy ai lang thang ngoài phố. Thói quen này, có thể ảnh hưởng từ tôn giáo, đã định hình nếp sinh hoạt của dân cư.

Ngược dòng lịch sử vào năm 1851, các linh mục truyền giáo đã có mặt ở thành phố này. Kontum có nhà thờ bằng gỗ nổi tiếng, được xây dựng trong khoảng thời gian đó. Cũng nhờ sự có mặt của các linh mục đạo Thiên Chúa Giáo người ngoại quốc mà vào năm 1861 người BAHNA đã có chữ viết được La Tinh hoá. Không chỉ riêng tại thị xã Kontum, các linh mục còn đi đến cả những vùng xa xôi. Tại một buôn làng gần Dakmot, vào năm 1970 vẫn còn một linh mục già người Pháp sống trong ngôi nhà thờ nhỏ giữa buôn làng người Bahna.

Cao nguyên Trung Phần rộng mênh mông, đất đai mầu mỡ, dân cư thưa thớt, trong khi người thượng sống rải rác trong rừng sâu. Khi tới đây, người Pháp đã hạn chế người kinh sinh sống, độc quyền thành lập các đồn điền với đủ kích cỡ. Riêng tại Pleiku có đồn điền trà KTK dọc theo con đường vào Thanh An. Khi hành quân về phía Nam Đức Cơ, chúng tôi thấy cả một vườn soài rộng lớn, trái trĩu cành mà chẳng ai hái. Sâu hơn nữa về phía Nam là một khu đất bằng phẳng mà sâm mọc như cỏ. Lính tráng rủ nhau đi đào nên xe nào cũng cả bao cát.

Đệ Nhất Cộng Hoà được thành lập, bắt tay vào xây dựng cao nguyên. Người Pháp đã ra đi, nhưng đã để lại nơi đây những cánh hoa biết nói. Những cô gái này có một điểm chung là sống mũi cao, và đôi mắt sáng. Ở vùng Pleiku, các cô được học hành nên nói tiếng Pháp trôi chảy, nhưng ở Kontum, phần nhiều họ làm việc và sống lam lũ. Dù vất vả, họ vẫn giữ được vóc dáng cân đối. Gần làng Ngô Trang có hai cô gái đẹp hàng ngày vẫn đi chăn bò. Khi hành quân qua đây, chúng tôi thường ngồi chờ các cô về, tìm một chút rung động trong lòng để bù vào suốt ngày mưa nắng. Đối diện với làng Trung Đạo gần Võ Định, đi sâu vào con đường mòn, không như một buôn thượng thường có nhà rông, nơi đây chỉ có mấy nóc nhà. Ở đây cũng có hai cô gái, tuy vẫn đeo gùi đi rẫy, nhưng làn da vẫn phơn phớt hồng, và đôi mắt thì đầy mê hoặc.

Cao nguyên núi rừng trùng điệp. Những ai đã từng lạc bước trong rừng sâu, thì hiểu thế nào là sức mạnh của rừng. Tôi có vài lần tăng cường hành quân trong Polei Kleng, đồn trú dài ngày tại Benhet. Buổi chiều lắng xuống, ai nhìn ra chung quanh, thì cũng chỉ thấy một mầu xanh cuả lá, sương mù giăng giăng một màu xa khơi. Nếu ai nhìn chăm chú thì sẽ có cảm giác rừng đang toát ra không khí trầm tĩnh, nhưng đầy bí hiểm.

Mùa Xuân năm 1972, đơn vị đồn trú tại Benhet. Tôi không có bạn bè, cũng chẳng ai viếng thăm. Lúc này, đơn vị bố trí thành một vòng đai rộng. Mấy người lính ở từng xe góp nhau nấu chút đồ ăn mà họ mới gởi mua hôm trước.

Một mình, ngồi cạnh xe chỉ huy, tôi nhìn vệt nắng hắt ngang trước mặt. Mầu nắng vàng buổi chiều dễ làm tôi chạnh lòng. Tôi nghĩ về gia đình, về những ngày tuổi nhỏ, và không thể không nghĩ về những gì đã từng gặp những tháng năm qua. Đã có biết bao cảnh đời bị chìm lấp giữa mịt mù khói lửa chiến tranh.

Trong đơn vị, tôi đã từng gặp người cha của một binh sĩ đã mất. Ông đã lặn lội từ một tỉnh miền Tây ra tới vùng cao nguyên, chỉ mong được nhìn nơi con mình đã sống, gom chút kỷ vật, buồn bã, rồi lầm lũi quay về.

Tôi đôi lúc nghĩ về một đám tang, vào năm 1969. Một sĩ quan của Trung Đoàn 42 tử trận. Chỉ có một quả phụ đội chiếc khăn tang trắng bước sau quan tài. Quang cảnh càng ảm đạm hơn khi trời còn lắc rắc mưa. Chỉ vài tháng sau, tôi tình cờ gặp người thiếu phụ này trong chốn ăn chơi. Chị không biết tôi, nhưng như có linh tính, có một chút khựng lại. Chỉ một thoáng, mọi chuyện lại coi như không. Sự tuyệt vọng đến đâu, để người thiếu phụ này không còn tha thiết đến cuộc đời mình?

Một chút hồi tưởng về vùng đất tuy nhỏ giữa một cao nguyên rộng lớn, nhưng đã có biết bao người đã đi qua và bao người vĩnh viễn nằm lại.

Cao nguyên, bây giờ có thể đã khác, nhưng lẫn trong đất là xương máu của không biết bao người.


* Các sông ở miền Trung VN, xuất phát từ dãy núi Trường Sơn, đa số chảy về hướng Đông, đổ ra biển. Riêng sông Dakbla chảy ngược lại về phía Tây.
Trần Châu Giang, K22/Đa Hiệu 115
Ý kiến cho bài đọc xin nhấn vào đây => (Chút Ký Ức Về Cao Nguyên)
CHIẾN TRƯỜNG K
Đường lên biên giới Thái Lan - Con đường máu, của mìn và tử thần
---------------
Sư đoàn 339 chốt sát biên giới Thái lan bị Kh’mer Đỏ liên tục đánh cắt đường tiếp vận. Anh em sư đoàn bạn quân số hao hụt, phải bám chốt ngày đêm nên không đủ lực lượng thông đường lấy đạn dược lương thực, đưa thương binh tử sỹ ra ngoài.
Không thể bỏ anh em đồng đội thiếu đạn đói gạo, Sư đoàn 9 bộ binh chúng tôi nhận nhiệm vụ tải gạo, đạn dược, hậu cần… bằng cơ giới từ thị xã Pursat theo đường 56 vào sư đoàn bộ, và bằng sức người ra tận chiến hào biên giới cho đơn vị bạn. Toàn bộ trang bị để lại căn cứ, mang theo vũ khí nhẹ, ba người một khẩu AK.
Sư đoàn quán triệt đến từng người lính thủ đoạn phục kích của kẻ địch trên con đường 56, con đường mà nhiều anh em gọi là con đường máu, con đường của mìn và tử thần. Cán bộ phổ biến thêm các loại mìn chúng hay dùng, thời gian tác chiến và các cung đoạn hành quân áp tải.
Buổi sáng, quân áp tải chúng tôi lên xe hậu cần tại Pursat. Thùng xe xếp đầy các bao gạo. Từ Pursat vào đến thị trấn Leach khoảng 30km, đi tiếp khoảng 140 km là đến biên giới Thái Lan. Thị trấn Leach buồn tẻ.
Những ngôi nhà sàn nhỏ vách gỗ dầu mái ngói cùng kiểu, giống nhau như đúc nằm xếp hàng bên tay trái đường. Đây là cứ của trung đoàn 8, sư đoàn 339.
Đoàn xe vượt sông Pursat qua một chiếc ngầm ngay rìa thị trấn. Bên bờ sông thành dựng đứng do nước lũ xói, người ta xẻ vách ta luy để lấy lối xuống ngầm. Ngầm trải đá khá sâu, ngập quá nửa bánh xe.
Bắt đầu đường 56, con đường đất xuyên sâu vào rừng già. Đường này không biết được làm từ bao giờ. Nghe nói hồi đầu là con đường chuyên chở hồng ngọc từ Tà sanh, Pai lin về biển Hồ của bọn buôn lậu.
Rừng khộp lúc thưa lúc dày. Thỉnh thoảng gặp những tổ chốt đường của đơn vị bạn. Lính chốt đường mỗi tổ năm sáu người ôm súng ngồi tản từng gốc cây. Khoảng bảy tám trăm mét lại gặp một tổ như thế. Đoàn xe chạy qua, anh em vẫy tay ra hiệu chào rồi chăm chú làm nhiệm vụ của mình.
Bắt đầu thấy những xác xe tải bị địch phục kích, hoen gỉ bên vệ đường, những hố mìn chống tăng lấp vội, dăm quả mìn đĩa công binh mới rà còn lẳng lổng chổng trên miệng hố, chưa kịp mang đi.
Chúng tôi biết đã đến những cung đường nguy hiểm. Giữa mênh mông hoang vu ẩn chứa rất nhiều bất trắc, trông mấy tổ chốt đường thật mỏng manh và bé nhỏ. Nhiều anh em, nói không ngoa khẩu B.41 dài gần bằng người.
Lâu lâu không gặp tổ chốt nào lòng lại thấy bồn chồn. Những câu chuyện bá láp đang mặn trên thùng xe tự nhiên nhạt dần rồi im bặt. Ai cũng rờ rờ tay vào khẩu súng.
Khi nhìn thấy bóng họ từ xa, tất cả lại thở phào như trút đi được gánh nặng. Lắc lư gầm gừ 15km/h trên con đường bụi nghẹt mũi, từ sáng đến chiều tà mới đi được gần trăm cây số.
Đoàn xe chở khẳm nhíp, đường xấu, phải chạy chậm nhiều nên máy nóng. Thỉnh thoảng đến chỗ có suối, có chốt của lính ta lại dừng đổ két nước. Chúng tôi dừng nghỉ ở chốt bảo vệ một cây cầu. Lán chốt ở đây họ cũng làm nửa nổi nửa chìm, bên ngoài đắp một vách lũy dày chống đạn. Rừng thấp cây bụi lấn vào sát cái sân nho nhỏ.
Tôi ra sau cái lũy, định đi thêm chục bước, bị giật giọng quát ngăn lại. Lính sư đoàn bạn chỉ vào mấy gốc cây xung quanh. Toàn mìn! Dây mìn xanh lét cái nọ nhằng vào cái kia như mạng nhện. Đây là mìn địch anh em gỡ được mang về cài lại quanh khu ở để chống đột nhập. Những trái mìn được cài chằng dây với nhau như thế để chống gỡ.
Trong lán tranh tối tranh sáng, xâu mìn KP2 gỡ được của địch hàng chục trái đã tháo kíp tróc sơn loang lổ, xỏ qua khuyên trụ bởi một sợi dây võng ngắn vứt nhong nhóc trên nền. Ở đây tôi mới sờ tận tay thủ phạm đã giết chết thằng Tuý, thằng Nhĩ, anh Quang, anh Cáp…
Chúng tôi ở một đơn vị chuyên vận động tấn công, nay nhìn nanh vuốt vũ khí của kẻ phòng ngự thụ động với nhiều ác cảm và ghê rợn. Và cũng ở đây, khi nghe lính chốt đường kể, chúng tôi mới hiểu thêm về các thủ đoạn cài mìn.
Liên hoàn là kiểu cài đôi, còn gọi là căng chùng nổ. Hai quả mìn giăng ngang, nối với nhau bằng sợi dây mìn mảnh. Kỹ thuật quan trọng nhất là phải khéo léo giăng sao cho dây thật căng. Hai đầu dây là hai cái ghim cài trơn bóng, cắm mớm vào hai cái chốt mìn.
Trường hợp phát hiện, thực hiện động tác gỡ, bao giờ cũng phải co dây mìn chùng mới an toàn để bấm chốt ghim. Khi co dây, đầu chốt quả mìn giấu bên kia tụt, đưa kẻ gỡ về trời.
Thủ đoạn khác là lối cài kèm. Quả KP.2 cài vướng nổ xong, cài thêm đôi quả đạp nổ tại các vị trí mà người gỡ mìn buộc phải chọn. Đôi khi tụi Kh’mer Đỏ cài trái vướng nổ khá lộ liễu để bẫy anh em công binh bằng những quả đạp nổ này.
Mìn địch còn cài trên cây, nằm ẩn đâu đó. Khi đang đi lên dốc, vô tình kéo một sợi dây rừng hờ hững chắn lối coi như giật chốt diểm hoả. Dây mìn có khi xanh lét như một cọng cỏ đậm, có khi nâu mốc như một sợi dây rừng.
Có đến cả chục kiểu cài khác nhau, kiểu nào cũng tinh vi chết chóc. Tử thần hoá trang giấu mặt bao giờ cũng nguy hiểm và đáng sợ. Một khu rừng nhiệt đới nguyên sinh, một thiên nhiên thật thà hoang dã đã bội nhiễm bởi những trái mìn dày đặc. Mìn dày như những cái gai độc cắm vào lòng trái đất.
Chớ nên tin một khóm lan rừng đang ra hoa, một bụi sâm tươi tốt, một bãi nghỉ râm mát, một bờ suối trong lành…Tất cả có thể đã bị cài mìn.
Cho đến bây giờ, hình ảnh xâu mìn lạnh ngắt dẫu đã bị vặn bẻ nanh vuốt, nằm lỏng chỏng trên nền nhà lính chốt đường sư đoàn 339 sáng hôm ấy vẫn còn trĩu nặng trong tâm trí.
Chúng tôi chuẩn bị lên xe đi tiếp. Chợt nghe một tiếng nổ lớn khá gần, tiếp sau có tiếng đạn nhọn rộ lên phía trước. Cột khói đen bung dần phía bên kia trảng dầu thưa. Nhớn nhác nhìn trước ngó sau, thấy hai anh lính chốt đường chạy ngược về. Họ thông báo đường an toàn, nhắc chúng tôi không được chạy sâu vào hai bên đường và giục tất cả lên xe.
Tiếng súng đã dứt trong không gian khét nồng mùi thuốc phóng đen. Một đám lính xuất hiện ra hiệu dừng xe xin thuốc rê.
Chúng tôi hỏi thăm, được biết tụi địch đi phục xe chúng tôi, vừa bị dính trái mìn định hướng DH10 ta gài trên cây phía sâu mé trong. Trái mìn đã kích nổ luôn giá B.40 thằng địch đeo trên lưng nên mới dày khói đen liều phóng như thế.
Trên con đường của tử thần, mìn ta với mìn địch cài nhau lẫn lộn. Một cuộc đấu trí chết chóc mà kẻ thua không bao giờ còn cơ hội ngồi rút kinh nghiệm.
Và cũng cho đến bây giờ, tôi vẫn tin vùng rừng đó vẫn còn mìn, nếu như không được xem các tài liệu, bản đồ giao thông của đất nước Campuchia mới.
--------------------
* Tác giả : Xuân Tùng (Trung Sỹ) - Nguyên trung sỹ D4E2F9, QĐ 4

Saturday, April 18, 2020

một số ảnh trước 1975





                 








Friday, April 17, 2020

Vậy là tôi rất khỏe?
Mới đây tôi thử vào website sau đây để xin được xét nghiệm Covid-19.
https://www.projectbaseline.com/study/covid-19/
Sau khi cho biết đã trên 65 nhưng ko có bất cứ triệu chứng nào của Covid-19 (ho, sốt, tức ngực) hay có các bịnh tiềm ẩn (đái đường, cao huyết áp,bịnh phổi), tôi đã bị từ chối vì ko hội đủ các điều kiện (eligible) để được xét nghiệm. Khi bị "chê" như vậy, tôi ko thấy buồn gì cả vì có lẽ do thiếu các bộ XN (test kit) nên họ uu tiên dành cho những ai đủ điều kiện.
Hôm qua khi gặp bs gia đình, ổng đã cấp tôi 4 loại thuốc sau đây để đối phó với thời tiết thay đổi hiện nay, nghĩa là tôi đã được "võ trang tận răng" - mà ko cần tôi yêu cầu:
1/ Fluticasone Propionate Nasal Spray USP 50 mcg, trị nghẹt mủi
2/ Benzonatate 200 mg, trị ho.
3/ Montelukast Sodium 10 mg, trị suyển.
4/ Loratadine 10 mg, trị ngứa mắt/mủi.
Cuộc đời của tu sĩ Thích Minh Tuệ qua lăng kính của Lý thuyết Số.
Vì tu sĩ có tên là Lê Anh Tú, ta thử phân tách tên họ này.
LÊ ANH TÚ
Thay thế các mẩu tự bằng trị số tương ứng, ta có:
LÊ = 3 5 = 8
ANH = 1 5 5 = 11 = ko thể rút gọn.
TÚ = 4 6 = 10 = 1.
Cộng lại: 8 11 1 = 20. Sau đây là ý nghĩa của số này.
Số 20
Sự tỉnh thức (awakening)
Ngoài việc được gọi là "sự tỉnh thức", số kép này được mô tả (is pictured) bởi người cổ Can-Đê (Chaldean) là "Sự Phán Xét". Đó là một giải thích kỳ lạ (peculiar), và được tượng trưng bởi "một thiên thần có cánh, thổi kèn, trong khi từ bên dưới, một đàn ông, một đàn bà, và một đứa nhỏ sống lại/nổi lên (arise) từ một nấm mộ, với tay chấp lại cầu nguyện (hands clasped in prayer). Ở một lúc nào đó (at some time) trong kinh nghiệm/thử thách của người hay thực thể thay mặt bởi số 20, có một sự tỉnh thức mạnh mẻ, mang lại một mục tiêu mới, các kế hoạch mới, các tham vọng mới - (đó là) lời kêu gọi hành động cho đại nghĩa hay ý tưởng nào đó (some great cause or ideal). Thỉnh thoảng có thể có những trì hoãn hay chướng ngại cho kế hoạch cho y, nhưng những điều này có thể chinh phục hay vượt qua bằng cách phát triển kiên nhẩn (cũng là thách thức của số 20) và bằng cách tiếp tục trau dồi (cultivate) niềm tin vào các khả năng tự biến đổi của y (in one's own powers to transform). Số 20 đem lại phước lành (blessing) qua những giấc mơ sống động về nhận thức (vivid precognitive dream), cộng thêm khả năng bày tỏ những giấc mơ may mắn và triệt tiêu những giấc mơ tiêu cực (negative). Số 20 không phải là số vật chất (material), vì thế ko chắc có được thành công về tài chánh (doubtful regarding financial success). Nếu cần thiết có số tiền lớn để hỗ trợ thực tế cho một đại nghĩa hay ý tưởng mới, sau đó y có thể chọn một con số nặng về vật chất tích cực hơn (a more positive materialistic number) bằng cách đổi chánh tả của tên, với giả dụ rằng 20 là ngày sanh. Nếu tên cộng lại bằng 20, vậy, hy vọng rằng, ngày sanh này sẽ ban cho (bestow) một tác động tài chánh may mắn hơn (the birth number will bestow a more fortunate financial vibration). Tuy nhiên, những ai hợp với sự tác động/rung động của số 20 ít khi để ý vấn đề tài chánh. Tiền bạc không quan trọng với họ -- và số 20 sẽ, như một luật phổ quát, cung cấp đủ cho họ những nhu cầu căn bản".
Dịch từ trang 257-8 của sách Linda Goodman's Star Signs.
(Xong lúc 1:35 sáng ngày 17/4/2020 trong mùa đại dịch Covid-19).