Wednesday, August 16, 2023

Ngô Đình Nhu Thương Thuyết Với Hà Nội

28/08/201312:00 SA(Xem: 17148)
Ngô Đình Nhu Thương Thuyết Với Hà Nội
TÀI TRẦN: Tôi đăng lại bài này với sự dè dặt thường lệ để bạn đọc rộng đường dư luận trước vấn đề lịch sử quan trọng này (Ngô đình Nhu thương thuyết với CSVN).
Những ai muốn xem bản gốc của phần chuyển ngữ xin vào đây: 


NGÔ ĐÌNH NHU

THƯƠNG THUYẾT VỚI HÀ NỘI

Dịch theo sách

Death of a Generation:
How the Assassinations of
Diem and JFK Prolonged the Vietnam War

Tác gỉa: GS Howard Jones
Nhà xuất bản Oxford University Press, 2003
Dịch Việt: Cư sĩ Nguyên Giác

(LỜI NGƯỜI DỊCH: Bài này sẽ tập trung dịch về những cuộc móc nối, thương thuyết mật giữa Hà Nội và ông Ngô Đình Nhu, qua sự trung gian giữa Đại sứ Ba Lan, Khâm sứ Vatican, Đại sứ Pháp và Chủ tịch Ủy hội ICC. Phần được dịch sẽ là các trang 310-314, 344-345, 362-364, và 406.

Tác phẩm này được viết rất mực công phu trong 15 năm, bởi Howard Jones, Giáo sư Đại học University of Alabama, khác tất cả những sách trước đó, vì sử dụng rất nhiều nguồn, trong đó có những cuộc điều trần chưa được in trên sách, báo nào.

Bản thảo được Jones đưa cho 3 vị giáo sư bạn – David Beito, Ron Robel, Tony Freyer, Forrest McDonald -- cùng trong đại học này, đọc, kiểm soát và góp ý.

Jones cũng đưa cho nhiều giáo sư và học giả khác -- James K. Galbraith, ở University of Texas; Paul Hendrickson, ở báo Washington Post và là tác giả một tác phẩm về Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara; Ken Hughes, ở University of Virginia; Don Rakestraw, ở Georgia Southern University; Pete Maslowski, University of Nebraska -- đọc bản thảo và góp ý.

Đặc biệt, Jones đã phỏng vấn nhiều người liên hệ tới thời kỳ 1963 tại Việt Nam, trong đó có Daniel Ellsberg, John Kenneth Galbraith, Roger Hilsman, Jack Langguth, Robert McNamara, Walt Rostow, và Dean Rusk.

Jones cũng được giúp tài liệu từ hàng chục học giả khác tại các Thư Viện Tổng Thống John F. Kennedy Library, Gerald R. Ford Library, Lyndon B. Johnson Library, Trung Tâm Văn Khố Quốc Gia. Trong đó có những cuộc điều trần chưa từng phổ biến.

Có thể kể, một điển hình cho sự nghiên cứu công phu của tác phẩm này như chú thích số 47 của trang 314, trong đó dẫn tới 7 nguồn khác nhau. Những chú thích khác đã dẫn 4 nguồn, hay 5 nguồn là bình thường. Tất cả các chú thích nơi đây đều sẽ không dịch ra Việt ngữ, để người nghiên cứu có thể dựa vào chú thích sẽ dễ dàng tìm ra tài liệu gốc Anh ngữ.

Có thể ghi nhận một số diễn biến nơi đây:

● Ngày 25-8-1963, Tướng Nguyễn Khánh nói với một viên chức Mỹ rằng ông Ngô Đình Nhu đang liên lạc với Hà Nội, và bày tỏ quan ngại, nói rằng các tướng sẽ chống tới cùng các giải pháp thương lượng Nam-Bắc và trung lập hóa Miền Nam, vì các tướng sợ sẽ bị trả thù.

● Chính phủ Kennedy xem việc Nhu tìm hiệp ước với Hà Nội là phản bội lòng tin của Mỹ.

● Đại sứ Nolting nói là có biết các đại diện Việt Cộng tới thẳng Dinh Tổng Thống, vào họp và đi ra bình an.

● Có nhiều tin trong mùa hè 1963 rằng Nhu liên lạc với Hà Nội qua trung gian Khâm sứ Vatican, Đại diện Ba Lan ở ICC (Maneli), Đại sứ Pháp, Đại sứ Ấn, Đại sứ Ý.

● Pháp muốn trung lập hóa Nam VN.

● Đầu năm 1963, Nhu đã gặp một đại diện Việt Cộng ở Huế.

● Đại diện Ba Lan ở ICC là Maneli, tháng 8-1963 báo cáo về chính phủ Ba Lan rằng trong khi anh em Diệm-Nhu đàn áp Phật Giáo dữ dội, Hà Nội và Việt Cộng qua những cuộc thương thuyết đã hy vọng sẽ hỗ trợ Diệm-Nhu để yêu cầu người Mỹ rút khỏi VN.

● Nhu nói trong một buổi họp 15 tướng lãnh rằng Nhu đang thương thuyết với Hà Nội, và không sợ chuyện Mỹ cắt viện trợ, vì cuộc chiến sẽ ngưng.

● Nhu viết bài trên báo Times of Vietnam ấn bản đầu tháng 9-1963 nói rằng Mỹ đang âm mưu đảo chánh anh em Diệm-Nhu.

● Nhu hút nha phiến, và mang bệnh ảo tưởng về “sự vĩ đại của Nhu.” Ngôn ngữ Nhu nói trong một buổi gặp Maneli có dấu hiệu Nhu bệnh tâm thần.

● Trong tháng 9-1963, Nhu cũng khoe với Alsop, một nhà bình luận Hoa Kỳ, rằng Nhu đang nói chuyện với Hà Nội.

● Tình báo Mỹ nhận ra trong tháng 10-1963, tại Sài Gòn có 10 âm mưu đảo chánh, muốn lật đổ anh em nhà Ngô, nhưng chỉ nhóm các tướng lãnh là có kế hoạch khả thi.

● Đại sứ Lodge nói rằng Mỹ không có cách nào ngăn cuộc đảo chánh được, vì các tướng lãnh tự thấy sẽ bị trả thù, mất hết đường sống khi Nhu bắt tay Hà Nội.

● Tướng Tôn Thất Đính nói rằng Nhu đã họp với Tướng VC Văn Tiến Dũng qua Ủy hội ICC.

● Xem chú thích 38: Giới ngoại giao tại Sài Gòn chuyển cho nhau một tấm hình và nghi là có dan díu tình cảm bất chính giữa Maneli và Bà Nhu, nhưng Maneli bác bỏ.

Kèm bản Việt ngữ là các bản Anh ngữ chụp lại từ bản chính để người quan tâm có thể đối chiếu, đọc bản gốc Anh văn. Toàn văn dịch bởi Cư sĩ Nguyên Giác.)

BẮT ĐẦU BẢN DỊCH

 

Trang 310:

Gần như tất cả các nguồn tin đều nhận định ông Nhu là nan đề chính, và Đại sứ Lodge vẫn dè dặt, cảnh giác Bạch Ốc vào ngày 24-8-1963 rằng chưa tới lúc để đứng về phía các tướng lãnh VNCH. Lodge không đồng ý với CIA, cơ quan tình báo này gọi ông Nhu là “nhân vật nắm quyền, có lẽ với ưng thuận của Tổng Thống Diệm.”

Dựa vào những cuộc nói chuyện riêng rẽ với Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần, Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống Võ Văn Hải, Tướng Trần Văn Đôn và Tướng Lê Văn Kim, Đại sứ Lodge khẳng định rằng ông Nhu (“nếu ông này không hoàn toàn vẽ ra kế hoạch mọi thứ”) có lẽ đã có ủng hộ từ ông Diệm trong việc soạn kế hoạch tổng tấn công các chùa (đêm 20-8 rạng ngày 21-8-1963). Nhiều phần có lẽ rằng quân đội VNCH không tham dự tấn công chùa, và phía gây tội là cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung.

Đại sứ Lodge nhấn mạnh rằng điều quan trọng nhất là, cả 3 sĩ quan chỉ huy quân sự quyền lực nhất tại Sài Gòn -- Tướng Trần Văn Đôn, Tướng Tôn Thất Đính, và Đại Tá Lê Quang Tung -- vẫn giữ lòng trung thành với hoặc ông Diệm hoặc ông Nhu. Bất kỳ nỗ lực nào từ phía Mỹ muốn vận dụng các tướng sẽ là “phát đạn trong bóng đêm.” (35)

Vào thời điểm quan trọng này, Tướng Nguyễn Khánh thông báo cho John Richardson (Trưởng Phòng CIA tại Sài Gòn) vào ngày Chủ Nhật 25-8-1963 về một diễn biến bất tường: Nhu đang xem xét một hiệp ước với Hà Nội để sẽ kết thúc chiến tranh. Bên cạnh việc làm mất mặt các tướng lãnh trong trận tổng tấn công các chùa, có phải Nhu cũng muốn tìm một thương lượng giữa Bắc VN và Nam VN để buộc người Mỹ ra khỏi VN?

Chính phủ Kennedy chỉ trích hành vi phản bội lòng tin này, mặc dù một năm trước đó Mỹ đã lặng lẽ đưa Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ về Chính Trị Vụ William Averell Harriman thăm dò về một khả năng tương tự với các đại diện nhà nước Hà Nội tại Geneva. Nhiều năm sau,

Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Viễn Đông Vụ Roger Hilsman nói rằng Bạch Ốc đã xem các cuộc nói chuyện như thế như là nỗ lực của chế độ Diệm muốn làm áp lực Hoa Kỳ.

Nhưng các lời khẳng định của Tướng Khánh thu hút sự chú ý tức khắc tại Bộ Ngoại Giao Mỹ, nơi xem Tướng Khánh là “một trong các tướng lãnh xuất sắc, vừa can đảm, vừa phức tạp.”

Điều quan trọng nhất là, các tướng lãnh VNCH tin vào chuyện đó. Tướng Khánh nói với một viên chức CIA tại Sài Gòn rằng họ lo sợ cho sinh mạng của họ, và “sẽ tất yếu nổi dậy” nếu Nhu tìm một hiệp ước với hoặc Hà Nội, hoặc với Cộng Sản Trung Quốc để trung lập hóa Nam VN. Các tướng lãnh nghĩ rằng, sau đó, Nhu sẽ chĩa mũi dùi sang họ. Họ “sẽ kháng cự dữ dội nếu các chính khách hiện nắm quyền lực lại đi sai lối.” Bởi vì giờ khác biệt (ở Mỹ và VN), bức điện văn kể về buổi họp của Tướng Khánh với Richardson (Trưởng Phòng CIA tại Sài Gòn) tới Washington vào Thứ Bảy 24-8-1963, lúc 9:30 giờ sáng. (36)

Chuyện Tướng Khánh nói không gây ngạc nhiên nhiều ở Washington. Cựu Đại sứ Mỹ tại VN

Frederick Nolting trước đó đã tường trình về nhiều cuộc liên lạc ngõ sau do Nhu thực hiện với người CS mà ông Diệm “đều biết cả.”

Tuy nhiên, Phó Đại Sứ Mỹ William Trueheart bác bỏ thông tin rằng Nhu đang bí mật thương thuyết với Bắc Việt và bác bỏ bản tin [Nhu] muốn Hoa Kỳ rút khỏi VN. “Tôi thực sự nghĩ đó phần nhiều là tin nhảm.”

Nhưng rồi, nhiều năm sau, Nolting hồi tưởng lại rằng “Các lãnh tụ Việt Cộng tới thẳng văn phòng của Nhu trong Dinh Tổng Thống... với thỏa thuận rằng họ sẽ không bị bắt trong khi họ ở đó.”

Nolting nói, “Tôi đã biết chuyện đó. Và tôi biết chắc rằng họ đã nói, ‘Đừng để người Mỹ vào sâu ở đây.’ Và [biết] Nhu đã nói, ‘Đừng để người Tàu dính vào mấy chuyện này.’”

Trang 311:

Nolting ghi nhận rằng chính phủ Mỹ chỉ trích hành động của anh em Diệm-Nhu như là phản bội. “Tôi đã rơi vào cảnh khó khăn khi tìm cách nói, ‘Chờ một chút. Có thể chuyện này không phảỉ là phản bội. Hãy cho họ [Diệm-Nhu] một cơ hội. Họ không quá ngu ngốc thế, và họ không đang phản bội chúng ta.” Nhu đang tìm cách thuyết phục Việt Cộng hãy ‘bán đứng, về mặt hiệu quả, cho chính phủ [VNCH].”

Bạch Ốc đã quyết định không can thiệp, để mọi chuyện diễn tiến khi nào mà chế độ Diệm chưa bán đứng Miền Nam cho CS. Nolting thì không biết chắc là ai đã trả lời các điện văn của ông, nhưng chữ ký của Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Dean Rusk ghi tên tất cả các điện văn phúc đáp đó. (37)

Lời kể của Nolting phù hợp với nhiều tin nghe được trong mùa hè 1963, rằng Đại diện Ba Lan của Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế ICC, Mieczylaw Maneli, đóng vai trung gian hòa bình giữa Nhu và Hà Nội.

Maneli, người từng sống sót qua trại tập trung Auschwitz trong Thế Chiến 2, làm giáo sư luật ở đại học University of Warsaw và là đảng viên Cộng Sản, sau đó xác nhận rằng ông đã hai lần họp với ông Nhu. Lần đầu là ngày 25-8-1963, trong một buổi tiếp tân ở Sài Gòn có tham dự của nhiều đại diện ngoại giao, và lần thứ nhì là gặp bí mật tại Dinh Gia Long vào ngày 2-9-1963.

Đại sứ Pháp tại Sài Gòn, Roger Lalouette, đã thu xếp buổi họp đầu tiên với sự hỗ trợ từ Đại sứ Ấn Độ và là Chủ tịch ICC Ramchundur Goburdhun, Đại sứ Ý Giovanni Orlandi, và Khâm sứ Vatican là Đức Ông Salvatore d’Asta.

Theo lời Maneli, Lalouette đã tìm cách phát triển một cuộc trao đổi văn hóa và kinh tế giữa những người Việt thù nghịch nhau để sẽ đặt nền tảng cho sự thống nhất VN và do vậy sẽ “đưa chế độ Diệm về lại thân Pháp và tách khỏi phía người Mỹ vô tình.”

Kết thúc cuộc chiến VN sẽ cho VN trung lập hóa theo đường hướng của Tổng Thống Pháp Charles de Gaulle, người có ý định kết hợp Việt Nam với hai nước trung lập Lào và Cam Bốt để biến vùng này một lần nữa trở thành “viên ngọc trong hào quang vĩ đại của nước Pháp.”

Thời điểm của buổi họp đầu tiên giữa Nhu và Maneli trùng hợp với lời báo động nêu lên từ Tướng Khánh và cho tính xác thực về nỗi lo sợ của Tướng này. (38)

Khi Maneli lần đầu đưa ra kế hoạch hòa bình này cho Hà Nội xem vào mùa xuân 1963, Thủ Tướng Bắc VN Phạm Văn Đồng lập lại lời khẳng định trước đó của ông Hồ Chí Minh rằng Bắc VN đã sẵn sàng thương thuyết vào bất kỳ lúc nào. Ngoại Trưởng Xuân Thủy đã có một danh sách các hàng hóa trong đó có cả than và các vật liệu kỹ nghệ khác, mà chính phủ Bắc VN sẽ trao đổi với Nam VN đổi lấy gạo và nhiều lương thực khác.

Cả 2 lãnh tụ Bắc VN này đều công khai chỉ trích chế độ Diệm nhưng nói vẫn sẵn sàng thương thuyết. Họ Hồ trước đó cũng đã nói với Goburdhun rằng Diệm là “một người yêu nước kiểu của ông ấy” và rằng giao thương là có thể. Ông Hồ nói, “Khi ông gặp ông Diệm, hãy bắt tay ông Diệm giùm tôi với.” (39)

Vào tháng 7-1963, Maneli thăm Hà Nội lần nữa, sau đó nói rằng quan tâm muốn thương thuyết của ông Hồ đã tác động quyết định của NLF (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) để không leo thang hành động trong khi chính phủ ông Diệm căng thẳng với Phật Giáo.

Trang 312:

Thực sự, Bắc VN đã cho thấy rằng ông Diệm có thể trở thành một nguyên thủ có thể chấp nhận được của chính phủ Sài Gòn. Lalouette đã nghĩ rằng Diệm sẽ sống sót nếu Diệm chấp nhận thương thuyết chính trị. “Ông ta [Diệm] lẽ ra phải thay đổi hệ thống (LND: ngưng đàn áp PG) nếu ông ta vẫn giữ quyền lực, nhưng ông ta đã có chính phủ và nhà nước, và ông ta có nhân sự tốt.”

Mùa hè đó, Hồ công khai kêu gọi ngưng bắn rằng, lần này, như dường [kêu gọi] chân thực vì quan tâm của Bắc VN về việc Mỹ mở rộng tham dự quân sự. Maneli cũng thấy hy vọng cho việc Diệm vẫn nắm quyền được – ít nhất là một thời gian nữa. “Nếu chính phủ Hà Nội không nỗ lực tấn công nhằm lật đổ Diệm và Nhu từ Sài Gòn, điều này chắc chắn vì Hà Nội muốn Diệm-Nhu nắm quyền thêm một thời gian nữa -- đủ lâu để đạt một thỏa ước với họ sau lưng người Mỹ.”

Nhận được thông tin từ Hà Nội, Nhu có lẽ đã nói chuyện với ông Hồ “xuyên qua các đặc sứ trực tiếp từ Hà Nội, với giúp đỡ từ người Pháp.” Maneli đã chính xác. Vài năm sau đó, theo báo Hòa Bình có tòa soạn ở Sài Gòn, ông Nhu đã gặp các đại diện Việt Cộng tại Huế, thành phố quê nhà của ông, vào đầu năm 1963.

Nhu lúc đó nói chuyện với người anh/em của một đại sứ Bắc Việt, và thương thuyết đã khởi sự vào tháng 7-1963, như Maneli ngi ngờ. Và, đúng như sự suy nghĩ của Lalouette, những cuộc thương thuyết bí mật này giúp giải thích tại sao Việt Cộng không lợi dụng thời cơ trong khi ông Diệm căng thẳng với Mỹ để tung ra một trận tấn công lớn vào cuối tháng 8-1963. (40)

Khi Maneli hỏi Phạm Văn Đồng (Thủ Tướng Bắc Việt) và Xuân Thủy (Bộ Trưởng Ngoại Giao Bắc Việt) rằng điều gì ông nên nói nếu ông Nhu mời thương thuyết, họ đã trả lời: “Bất cứ những gì ngài biết về lập trường chúng tôi về hợp tác và trao đổi kinh tế và văn hóa, về hòa bình và thống nhất đất nước. Một điều chắc chắn rằng: người Mỹ phaỉ ra đi. Trên căn bản chính trị này, chúng ta có thể thương thuyết về mọi thứ.”

Maneli đã hỏi Phạm Văn Đồng (với ông Hồ Chí Minh lúc đó đứng trong phòng, “lặng lẽ, như dường bị cưỡng ép”) rằng Hà Nội sẽ có hay không cứu xét “một hình thức liên bang với Diệm-Nhu hay một thứ gì trong bản chất về một chính phủ liên hiệp.”

Thủ Tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Mọi thứ đều có thể thương thuyết được dựa vào nền tảng độc lập và chủ quyền cho VN. Hiệp ước Geneva cung cấp nền tảng pháp lý và chính trị cho điều này: không lập doanh trại hay để lính nước ngoài trên lãnh thỏ VN. Chúng tôi có thể đạt tới một hiệp ước với bất kỳ người VN nào.”

Maneli cảnh báo rằng các cường quốc Tây phương sẽ chống một chính phủ liên hiệp và [sẽ] đòi an toàn cho anh em Diệm-Nhu. Phạm Văn Đồng lập lại: “Mọi thứ đều có thể là đề tài thương thuyếtChúng tôi có ước muốn chân thực chấm dứt tranh chấp, để thiết lập hòa bình và thống nhất trên căn bản thực tế hoàn toànChúng tôi là những người thực tế.” (41)

Maneli kết thúc trong bản phúc trình gửi cấp chỉ huy của ông tại Warsaw ngày 10-7-1963 rằng cả 2 chính phủ VN muốn đạt thỏa ước theo kiểu riêng của họ. Họ muốn làm như thế mà “không có tham dự của các Siêu Cường Quốc, không có Moscow, không có Washington, và chắc chắn là không có Bắc Kinh; cả 2 chính phủ ước muốn có những cuộc nói chuyện tối mật và phải giữ một mặt ngoài chính thức nào đó.” Hà Nội đã đón nhận sáng kiến này, mà lần đầu tiên không xin sự cho phép của Bắc Kinh.

Trang 312:

Nếu Diệm và Nhu muốn sống còn, Maneli liên tục báo cáo về chính phủ của ông [Ba Lan] trong đầu tháng 8-1963 rằng, họ hoặc phải rời khỏi Việt Nam hoặc đàn áp Phật Tử. Hà Nội và Việt Cộng đã chọn lập trường “chờ cho một cuộc ‘nội chiến’ mới và trong cơ hội đầu tiên này, CS sẽ hỗ trợ Diệm để chống lại người Mỹ.”

Cả Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh đã nêu lập trường rõ ràng: “Mục tiêu và việc làm tối quan trọng của chúng tôi là dẹp bỏ người Mỹ. Và rồi chúng ta sẽ thấy.” Maneli không ngờ vực rằng “một hiểu biết tối mật” đã có giữa “Diệm-Nhu và Hà Nội” -- rằng “khi nào Diệm-Nhu còn tham dự chống lại phía người Mỹ và đồng minh [của Mỹ], Hà Nội sẽ để cho Diệm-Nhu sống.” (42)

Maneli nhận định, việc bổ nhiệm Lodge làm tân Đại sứ Mỹ đã khởi động ra các sự kiện dẫn tới việc ông lần đầu gặp ông Nhu hôm 25-8-1963. Thực sự, hành động của Bạch Ốc “đã khởi sự kết thúc chế độ ông Diệm” và buộc họ tấn công những người Phật Tử “thân Mỹ” trước khi Lodge tới VN. Anh em Diệm-Nhu đã tung ra trận tổng tấn công nhà chùa, theo Maneli lý luận, là để “tự cứu họ khỏi bị đảo chánh do Mỹ thúc đẩy,” nhưng hành vi tấn công chùa hóa ra lại làm mất uy tín chế độ trước người dân Việt và thế giới.

Bây giờ, trong tâm thức tuyệt vọng, Nhu sắp xếp để tân Ngoại Trưởng Trương Công Cừu mời Maneli vào dự bữa tiệc chỉ mới 4 ngày sau trận tổng tấn công các chùa, trong đó có Đại sứ Lodge trong danh sách khách mời của các viên chức ngoại giao. Đó là một quyết định chuyển hướng. Sự hiện diện của Maneli ghi dấu lần đầu một nhà ngoại giao Cộng Sản tham dự một buổi họp mặt cấp cao như thế ở Sài Gòn. Nơi đó, trong một cử chỉ dàn dựng sẵn, Lalouette (Đại sứ Pháp), Orlandi (Đại sứ Ý), d’Asta (Khâm sứ Vatican), và Goburdhun (Chủ tịch ICC) đã mang Maneili và Nhu hội ngộ. (43)

Nhu nói với Maneli trong khi nhóm nhà ngoại giao này quan sát hai người, “Tôi đã nghe nhiều về ngài từ các bạn chung của chúng ta. Trong dân tộc Việt có sự nhạy cảm về chủ quyền và sự bất tín không chỉ đối với người Trung Quốc nhưng còn đối với tất cả những người chiếm đóng và thực dân, tất cả.” (44)

Maneli và, tất nhiên là, cả những người khác đang trong cuộc nói chuyện, nghĩ trong đầu rằng có phải Nhu bao gồm cả người Mỹ [trong câu nói đó]?

Nhu khẳng định, “Bây giờ chúng ta muốn hòa bình, và chỉ muốn hòa bình thôi... Tôi tin rằng Ủy Hội Quốc Tế có thể và nên đóng một vai quan trọng trọng việc tái lập hòa bình tại Việt Nam.”

Maneli cẩn trọng bảo đảm với Nhu rằng tất cả những thành viên Ủy Hội đã nghĩ rằng Ủy Hội “có thể giữ vai trò xây dựng nếu cả hai phía mong muốn.”

Nhu nhấn mạnh, “Chính phủ Việt Nam ước muốn hành động theo tinh thần của Hiệp Định Geneva.”

Maneli trả lời rằng, đó là cách duy nhất để đạt hòa bình và thống nhất. (45)

Lodge đã gặp Maneli trong bữa tiệc, nhưng bị lôi đi trong phần giữa của một cuộc đối thoại, tình hình này cho thấy đánh giá ban đầu của Maneli về tính kiêu hãnh của Đại sứ Lodge. Nếu Lodge ở lại thêm một chút, thay vì về sớm, Lodge có thể đã nhận ra cuộc thảo luận của Maneli với Nhu.

Trang 314

Kết hợp với những gì Bạch Ốc đã biết về liên lạc của Nhu với Việt Cộng và với Bắc Việt, những trao đổi công khai giữa Maneli và Nhu có thể đã khuyến khích chính phủ Mỹ xem xét về các tác động chính trị. Có phải buổi gặp gỡ này củng cố cho nỗi nghi ngờ đã lan rộng rằng Maneli đã trở thành trung gian giữa hai miền Việt Nam? Ảnh hưởng nào đã có từ các cuộc liên lạc Nam-Bắc đối với quan điểm các tướng lãnh VNCH về một cuộc đảo chánh? (46)

III

Nỗ lực của Đại sứ Lodge để trì hoãn bất kỳ hành động nào đã không có ảnh hưởng: Điện văn ngày 24-8-1963 của ông đã tới Washington vào lúc 2:05 giờ chiều Thứ Bảy, khi đó, như định mệnh đã sắp xếp, chỉ có vài cố vấn làm việc và họ là những người công khai chỉ trích chế độ ông Diệm. Forrestal (Phụ tá Cố vấn An ninh), Hilsman (Thứ Trưởng Ngoại Giao Viễn Đông Vụ), và Harriman (Thứ Trưởng Ngoại Giao Chính Trị Vụ) đọc bản điện văn của Lodge một cách quan ngạighi nhận rằng điện văn đã xác minh nỗi nghi ngờ của họ về những thủ đoạn bất lương của Nhu trong cuộc tổng tấn công các chùa.

Có phải tin này củng cố cho bản điện văn sáng hôm đó từ Sài Gòn có ghi lời Tướng Khánh cáo buộc rằng Nhu đang bí mật thương thuyết với Hà Nội? Có lẽ ngay cả phóng viên Halberstam đã chính xác trong ấn bản ngày hôm đó của tờ New York Times, khi ông tường trình rằng nhiều quan sát viên tại Sài Gòn đã gọi cuộc tổng tấn công nhà chùa là ‘cú đánh của Nhu.’

Không kiểm chứng trước với Phụ tá Cố Vấn An Ninh Quốc gia McGoerge Bundy, Forrestal kèm một lá thư “chỉ để đọc thôi” vào một điện văn gửi Tổng Thống vào lúc 4:50 giờ chiều, thông báo về thư của Lodge và kèm một đề nghị đáp ứng với Sài Gòn, mà ba cố vấn – Forrestal, Harriman và Hilsman – đã soạn thảo với sự chấp thuận của Ball (Thứ Trưởng Ngoại Giao) và Đô Đốc Felt (Tư Lệnh Quân Lực Mỹ ở Thái Bình Dương) và muốn gửi ngay đêm hôm đó.

Lodge khuyến cáo là “hãy chờ xem” cho tới khi ông có thể quyết định xem quân đội VNCH có hành động nào chống Nhu hay không.

Harriman, Hilsman, và Forrestal thì muốn hành động tức khắc vì tình hình tại Sài Gòn có thể không “linh hoạt lâu nữa.” Hilsman gọi bức điện văn của Lodge là “có lẽ phán đoán thuyết phục nhất trước giờ” cho thấy các tướng lãnh VNCH không hài lòng với việc ông bà Nhu hung bạo với Phật Tử.

Nếu Nhu còn nắm quyền, “chế độ sẽ tiếp tục đi theo chính sách tự sát mà không chỉ kéo Việt Nam xuống chỗ xấu hổ và thảm họa nhưng cũng kéo cả Mỹ như thế.” Harriman và Hilsman muốn rằng Mỹ phải “hành động trước khi tình hình tại Sài Gòn đóng băng.” (47)

Sự thật đã trở thành không thể chối bỏ: Nhu là người trách nhiệm cuộc tổng tấn công các chùa. Điện văn 243, soạn bởi Harriman, Hilsman, và Forrestal (với giúp đỡ từ Mendenhall), kêu gọi Lodge phải công khai tố cáo Nhu về vụ tấn công chùa, trong khi Washington và đài VOA cùng làm như thế khi nào Đại sứ Lodge cho thấy thời điểm thích nghi lên tiếng.

Nhu đã sắp xếp để công chúng có ấn tượng rằng quân đội VNCH trách nhiệm trận tắm máu đó và như thế tự đưa Nhu vào vị trí lãnh đạo... (Sẽ nhảy tới trang 344 để nói tiếp phần Nhu liên lạc với Hà Nội).

Trang 344:

Ngoại Trưởng Rusk đồng ý với khuyến cáo của Đại sứ Lodge để tiếp tục áp lực ông Diệm phải tiến hành thay đổi chính phủ. Vẫn còn giữ lý luận giá trị rằng thấy cần cho một cuộc đảo chánh không có nghĩa là đồng lõa, Ngoại Trưởng khẳng định rằng Bạch Ốc sẽ hỗ trợ cho một nỗ lực đảo chánh của người Việt, nhưng Bạch Ốc “không nên và sẽ không khởi dậy và điều hành một cuộc đảo chánh.”

Trong một cố gắng giải thích cũng dao động như thế để phân biệt giữa động cơ Hoa Kỳ và hành động Hoa Kỳ, Rusk tuyên bố rằng Diệm phải hiểu rằng Mỹ tìm kiếm “để cải thiện chính phủ [của Diệm] chứ không phải lật đổ.”

Hạ Viện Mỹ mới đây đã cắt chương trình viện trợ, “phần lớn vì thất vọng trong toàn bộ các nỗ lực tại Việt Nam.” Nếu không có thay đổi chính phủ, Mỹ có thể sẽ ngưng tất cả viện trợ.

Diệm phải chứng minh cho Quốc Hội Mỹ và cho dư luận thấy rằng “chúng tôi không yêu cầu người Mỹ tới để bị hy sinh nhằm hỗ trợ cho khát vọng của Bà Nhu muốn nướng thịt các vị sư.”

Các biện pháp cứng rắn bây giờ có cơ hội tốt, vì đã thấy ông Diệm “có thể cũng đã biết sợ trong những ngày gần đây.” (55)

Tính bất khả tiên đoán của tình hình Việt Nam tiếp tục làm rối trí Bạch Ốc khi, vào ngày 1 tháng 9-1963, Đại sứ Lodge có buổi họp lâu 2 giờ với Nhu, trong đó cho thấy chuyện ngạc nhiên là Nhu đồng ý từ chức ra khỏi chính phủ như một dấu hiện của sự thành công trong cuộc chiến. Trước mặt Đại sứ Ý và Khâm sứ Vatican, Nhu tuyên bố rằng ông không còn được cần tới nữa và sẽ về hưu ở Đà Lạt sau khi chính phủ Sài Gòn gỡ thiết quân luật.

Những vị khách lắng nghe kinh ngạc trong khi Nhu khẳng định một cách bi hài rằng Nhu ưa thích chờ đợi cho tới khi “các điệp viên Mỹ nào đó” những người vẫn còn đang ám trợ một cuộc đảo chánh chống lại gia đình ông đã rời khỏi Việt Nam. “Mọi người đều biết họ là ai.”

Bà Nhu sẽ rời Việt Nam ngày 17-9-1963 để dự Hội Nghị Liên Quốc Hội (Interparliamentary Union) tại Nam Tư, sau đó sẽ đi tới Ý Đại Lợi và có thể tới Mỹ, nơi bà có một lời mời để nói chuyện trước Câu Lạc Bộ Báo Chí Hải Ngoại (Overseas Press Club) tại New York.

Khâm sứ Vatican sẽ sắp xếp để Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục ra khỏi Việt Nam.

Tuy nhiên, Nhu từ chối rời Việt Nam vì các liên lạc của Nhu với các cán bộ Việt Cộng, những thành phần đã xuống tinh thần vì sự tiếp trợ không đủ từ Bắc Việt và đã sẵn sàng rời bỏ cuộc chiến vũ trang. (56)

Đại sứ Lodge chắc chắn đã nhận ra rằng Nhu không thật thà về chuyện rút khỏi chính phủ và rằng Nhu đã giấu các động cơ. Có chứng cớ nào về thành công của quân lực VNCH? Những liên lạc nào Nhu đã thực hiện với Việt Cộng? Còn về những tin đồn về Nhu nói chuyện với Hà Nội? CIA đã gọi đó là “bí mật hiển lộ” trong giới ngoại giao ở Sài Gòn rằng Nhu đã liên lạc với Hà Nội và rằng ngườì Pháp đang tìm kiếm hòa giải giữa Nam và Bắc VN.

Trang 345:

Nhu mới đây đã nói với 15 tướng lãnh tại bộ tổng tham mưu Quân lực VNCH là đừng lo ngại về chuyện người Mỹ hăm dọa cắt viện trợ; Nhu “đã liên lạc với các anh em Miền Bắc và có thể có dịp nghỉ ngơi bằng cách yêu cầu Bắc Việt chỉ thị cho các du kích Miền Nam tạm ngưng hoạt động trong khi thương thuyết cho một thương lượng lâu dài.” Nhu đã tố cáo rằng CIA muốn Nhu “bước sang một bên,” và [CIA] đang làm việc với các “phần tử bí mật” trong chính phủ Mỹ để lật đổ chế độ Diệm. Chỉ có Đại sứ Lodge đưa tới hy vọng, theo Nhu khẳng định trong một lời tuyên bố và lời này hiển lộ ảo vọng cuả Nhu. “Chúng ta có thể vận dụng sai sử Lodge – Lodge sẽ đồng ý hoàn toàn với những suy nghĩ và những hành động của chúng ta.” (57)

Thái độ sai lầm của Nhu cứ tiếp diễn mãi khi Maneli gặp Nhu hôm 2-9-1963 (mà điều này nhiều năm sau mới được biết) trong khi đang có sự phẫn nộ về một bài viết nơi trang nhất của tờ Times of Vietnam trong đó cho thấy rạn vỡ giữa chế độ Diệm và Hoa Kỳ. Dòng tưạ đề nêu rõ, “CIA tài trợ một âm mưu đảo chánh.”

Bài này do Nhu viết, bản gốc của bài đã kể ra tên nhiều viên chức CIA đứng sau âm mưu, trong đó có Trưởng phòng CIA tại Sài Gòn là Richardson. Có một vài người sau đó kể lại rằng, Bà Nhu đã xóa tên ông Nhu trên bài viết đó.

Maneli tới Dinh, vào ngồi với Nhu ở một chiếc bàn nhỏ trong một căn phòng rải rác đồ đạc để lăn lóc “trông như một khối rác.” Nhu nhanh chóng khởi sự độc thoại trong đó có những ngôn ngữ và ý tưởng Mác-xít, điều này làm cho Maneli sửng sờ. (58)

“Tôi đang thực hiện một cuộc chiến để kết thúc chiến tranh vĩnh viễn tại Việt Nam; Tôi đang thực sự tác chiếnc hống chủ nghĩa Cộng Sản để kết thúc chủ nghĩa tư bản vật chất. Tôi đang tạm thời xiết lại tự do để sẽ cho nó trong một hình thức vô hạn. Tôi đang củng cố kỹ luật để khai tử những trói buộc ngoại tại. Tôi đang tập trung hóa đất nước để sẽ dân chủ hóa và sẽ phân tán quyền lực nói... Các ấp chiến lược là định chế căn bản của nền dân chủ trực tiếp. Khi người dân phát triển và thịnh vượng, họ sẽ trở thành hạt nhân chính của một tổ chức quốc gia, và rồi chính bản thân nhà nước – như Karl Marx đã nói -- sẽ biến mất.” (59)

Nhu nhìn thấy cái nhìn kinh ngạc của Maneli, và lập lại tuyên bố đó. “Đúng vậy. Tôi đồng ý với kết luận cuối cùng của Marx: nhà nước phải biến mất – đó là một điều kiện cho chiến thắng cuối cùng của dân chủÝ nghĩa của đời tôi là làm việc để cho tôi có thể trở thành không cần thiết. Tôi không chống lại những cuộc thương thuyết và hợp tác với Miền Bắc... Nơi đây, Ủy hội Quốc tế -- và bản thân ngài—có thể đóng một vai trò tích cực.” (60)

Maneli lập lại lời bảo đảm trước đó của ông đối với Nhu rằng Ủy hội Kiềm soát Quốc tế ICC sẽ làm mọi việc có thể để kết thúc chiến tranh, ghi nhận rằng Sài Gòn đang râm ran những tin đồn về những cuộc thương thuyết bí mật. Maneli tin rằng Diệm và Nhu đã nghĩ rằng nếu họ tách lìa người Mỹ, họ có thể trong vị trí để sắp xếp cuộc thương lượng với Hà Nội. Do đó họ sử dụng nỗi sợ lan rộng này “để gây kinh hoảng và để bắt chẹt các đồng minh chống Cộng của họ.” (61)

Sau đó trong ngày, Maneli nói chuyện với Lalouette, được Lalouette nhấn mạnh lần nữa rằng cách duy nhất để có hòa bình tại VN là xuyên qua chế độ Diệm. Maneli chưa bao giờ chấp nhận lời khẳng định như thế. (Nhảy tới trang 362)

Trang 362, từ giữa trang:

Các nguồn tin tình báo củng cố niềm tin của Đại sứ Lodge rằng đã tới lúc phải hành động quyết liệt, đặc biệt bởi vì các bản tin liên tiếp cho thấy Nhu đang thương thuyết với Hà Nội, “có hay không có sự xúi dại của người Pháp.”

Do Gaulle mới trước đó đã lập lại lời khẳng định rằng chỉ có trung lập hóa Nam Việt Nam mới có thể ngăn cản làn sóng Cộng Sản xâm chiếm. Ông nói thê cũng có lợi ích riêng: phương cách đó sẽ trao một cơ hội để tái lập vị trí của Pháp trong khu vực. Thực sự, tham vọng của de Gaulle vượt xa hơn Việt Nam. Ông đã thu hút sự ủng hộ rộng rãi từ dân Pháp vì đã thiết lập Pháp Quốc như cường quốc trung gian chính trong việc làm giảm căng thẳng Chiến Tranh Lạnh.

Một chính phủ trung lập tại VN sẽ làm tăng ảnh hưởng de Gaulle như một lãnh tụ thế giới, và kết hợp với việc de Gaulle ủng hộ cho Trung Quốc vào Liên Hiệp Quốc, sẽ làm khựng lại những bước lớn đối với chính sách Mỹ tại Châu Á và Châu Âu.

De Gaulle biết rằng chỉ cần có những cuộc thương thuyết giữa Nhu và Hà Nội là sẽ hợp thức hóa được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (NLF) và sẽ tăng áp lực cho một hội nghị quốc tế về Việt Nam mà người Pháp có thể đóng vai chủ tọa. Liên Xô sẽ hỗ trợ, Trung Quốc cũng sẽ hỗ trợ nếu các nước tham dự kêu gọi Hoa Kỳ rời bỏ Nam Việt Nam.

Đại sứ Lodge nhận định rằng cơ hội duy nhất của Nhu để sống còn nằm trong việc sắp xếp với Bắc Việt để buộc Mỹ ra đi.

Trang 363-364:

Cả McCone (Giám Đốc CIA) và Harriman (Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ về Chính Trị Vụ) đều biết lời cảnh báo của Robert Thompson (Chuyên gia về chống du kích, đã xóa sổ cuộc chiến của Cộng Sản Mã Lai, và là Trưởng Phái Đoàn Cố Vấn Anh Quốc để giúp Hoa Kỳ ở VN) rằng “lá bài độc mà Nhu có là việc Mỹ rút quân. Để có lá bài đưa ra như thế,” Thompson nhận định, “Bắc Việt sẽ trả gần như với mọi giá.” (33)

CIA cũng nhận thấy rằng nhiều phần là chế độ Diệm, Hà Nội và người Pháp đang thúc giục để dẫn tới hòa giải hai miền Nam-Bắc. Phải thú nhận rằng, sự thống nhất Việt Nam không phải là giải pháp thay thế khả thi trong tình hình có những căm thù cay đắng hiện nay. Nhưng một cuộc ngưng bắn có thể củng cố đòi hỏi của Hà Nội rằng Mỹ phaỉ rút hoàn toàn khỏi Việt Nam, sau đó là sự thiết lập một chính phủ liên hiệp ở Miền Nam VN trong đó đón nhận tất cả các nhóm chính trị, kể cả Việt Cộng.

Người Pháp đã đứng hành động như vai trò liên lạc của Hà Nội với Tây Phương. Mặc dù Nhu sẽ đối diện sự chống đối gay gắt từ các tướng lãnh VNCH đối với bất kỳ thỏa hiệp nào với Miền Bắc, Nhu có thể nghĩ chuyện này khả thi nhờ ủng hộ từ người Pháp.

Nhà bình luận Joseph Alsop trong bài viết ngày 18-9-1963 trên tờ Washington Post đã làm cho Bạch Ốc thêm quan ngại. Và viết tưạ đề “Very Ugly Stuff” (Chuyện Cực Kỳ Xấu Xa), Alsop cáo buộc rằng, lần đầu tiên Nhu thú nhận đã liên lạc với Hà Nội. (34)

Nếu như thế, hành vị của Nhu hứa hẹn hậu quả nghiêm trọng đối với chính sách Mỹ. Nhu nhận định rằng thương lượng Nam-Bắc là rủi ro, nhưng đáng chấp nhận nếu có rủi ro. Làm sao Nhu có thể biết chắc rằng Nhu (và ông anh) sẽ sống sót với sắp xếp mới chứ?

CIA nhận định rằng thống nhất tức khắc là không có vẻ gì được, vì Hà Nội trước đó đã công khai tuyên ngôn ý định sáp nhập Nam VN. Nhưng Bắc VN tất phảỉ kiên nhẫn, và sẽ muốn làm dịu cuộc chiến trước khi Hoa Kỳ tăng sự tham dự.

Sài Gòn có lẽ sẽ có thể chấp nhận ngưng bắn và một vài hình thức của sự trung lập từ sự tự bảo tồn. Nhu đã nói rõ lập trường rồi. Cả công khai và cả nơi riêng tư, Nhu tố cáo Mỹ đã đưa Nam VN vào vị trí thuộc địa. Tuy nhiên, ở một mặt khác, việc Nhu nói rằng có sự ủng hộ của Mỹ đã làm suy yếu những người đối lập với chế độ Diệm tại Nam VN trong khi làm tăng uy tín Nhu.

Bệnh hoang tưởng quyền lực của Nhu đã lộ hẳn ra trong lời khoe khoang rằng duy có Nhu có thể cứu Nam VN. Tôi là “xương sống duy nhất” của cuộc chiến chống Cộng, Nhu khoe với Alsop. “Ngay cả nếu người Mỹ quý vị có rút đi, tôi sẽ vẫn thắng cuộc chiến với cương vị lãnh tụ của phong trào du kích vĩ đại của tôi.”

Cả Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần và Chánh Văn Phòng Võ Văn Hải (thư ký riêng cuả Diệm) đều nói rằng Nhu đã hút nha phiến trong hai năm qua, như thế giải thích cho bệnh hoang tưởng về tính vĩ đại của Nhu. (35)

Cơn lốc những sự kiện đã làm cho mùa thu năm 1963 trở thành thời kỳ nghiêm trọng tại VN. Chế độ Diệm đã gỡ thiết quân luật vào ngày 16-9-1963, nhưng chính sách đàn áp Phật Tử vẫn không ngừng. Trong một bản tin phát thanh cùng ngày, NLF lên án chế độ Diệm vì đã đàn áp Phật Tử và “tập đoàn Mỹ hiếu chiến” đang tiến “vào một đường hầm không lối ra.” Rằng tất cả những đồng bào Nam VN hãy nổi dậy chống “bọn xâm lược Mỹ và các con chó săn của chúng – gia đình Ngô Đình Diệm.”

Cả những nguồn tin tình báo Mỹ và the Country Team in South Vietnam (cụm từ này có nghĩa: các viên chức Tòa Đại Sứ Mỹ) kết luận rằng những người chống Nhu có mặt ở mọi cấp trong chính phủ, cũng như trong quân đội VNCH và trong giới trí thức thành thị. MACV nhận định rằng các sĩ quan cao cấp nhất cuả quân lực VNCH bác bỏ vai trò lãnh đạo của Nhu “trong bất kỳ điều kiện nào.”

Nếu những nhận định này là chính xác, hễ Nhu càng hành động, là càng bảo đảm sẽ rơi khỏi quyền lực.

Trang 406:

Đại sứ Lodge đã chính xác khi khẳng định rằng không người Mỹ nào có thể ngăn cản các tướng VNCH để chận cuộc đảo chánh.

Những lực mạnh mẽ đã thúc giục họ hành động, đáng ghi nhận nhất là việc chính phủ Kennedy đã cắt giảm viện trợ một phần, sự ủng hộ thấy rõ của Lodge, và hậu quả thảm tử chắc chắn xảy ra cho họ nếu có bất kỳ thương lượng nào đạt được giữa Nhu và Hà Nội.

Tướng Tôn Thất Đính về sau giải thích về cuộc đảo chánh trong nhiều cách, trực tiếp nhất là việc Nhu mới liên lạc với Tướng Việt Cộng Văn Tiến Dũng xuyên qua đại diện Ba Lan trong Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế ICC.

Nhu có vẻ như gần thu xếp xong việc kết thúc cuộc chiến, sẽ giữ gìn được chế độ Diệm, và sẽ tới cao điểm là các bản án tử hình cho những người âm mưu đảo chánh. Giây phút cốt tủy đã tới khi các tướng lãnh chống đối nhận ra nỗi nguy hiểm chết chóc lớn hơn trong việc trĩ hoãn đảo chánh thay vì tiến hành luôn. (70)

Vào cuối tháng 10-1963, một cuộc đảo chánh lần nữa thấy như dường tất yếu. Đại sứ Lodge báo cáo rằng có ít nhất 10 nhóm nói về chuyện đảo chánh, nhưng nhóm chính yếudĩ nhiên, là các tướng lãnh cao cấp cuả quân lực VNCH.

Lần này khác một trời một vực với kinh nghiệm hồi tháng 8-1963. Chính phủ Kennedy đã ra dấu hiệu ủng hộ, Tướng Dương Văn Minh và các bạn tướng lãnh của ông có một kế hoạch, và việc Nhu thương thuyết với Hà Nội đã xóa bỏ mọi do dự của họ.

Bạch Ốc nêu chính sách hồi tháng 8-1963 là sẽ ủng hộ các tướng nếu họ thành công và sẽ không bao giờ biết tới nếu họ thất bại. Nhưng tình hình quốc nội và quốc ngoại VN đã suy sụp tệ hại trong 2 tháng qua, tới nổi một cuộc đảo chánh trở thành một lối khả thi duy nhất cho chính phủ Kennedy để gỡ rối cho quân Mỹ ra khỏi Việt Nam.

Chỉ có sự thay đổi chính phủ Nam VN, mà Hoa Kỳ có thể tuyên bố có sự tiến bộ cần và đủ trong nỗ lực viện trợ để [rút bớt quân Mỹ và] trở về mức chỉ duy trì cố vấn Mỹ cấp thấp và mức độ viện trợ tương đương hồi đầu năm 1961.

Một lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ, cả Hải quân và Không quân, đã tiến vào khơi sát bờ biển Nam VN để sẵn sàng di tản người Mỹ. Đại sứ Lodge được lệnh từ chối bất kỳ lời nài nỉ xin giúp nào từ bất kỳ phe nào trong cuộc đảo chánh. Nhu có vẻ như sẵn sàng thương thuyết để đạt thương lượng với Hà Nội. Đối với các tướng lãnh VNCH, bây giờ hoặc sẽ không bao giờ...(71)

NOTES

Chú thích cho các trang 310-314:

35. Lodge to Rusk, Aug. 24, 1963, FRUS, 3: Vietnam January–August 1963, 620–21; President’s Intelligence Checklist (sent to Hyannis Port, Mass.), Aug. 24, 1963, ibid., ed. note, 626; Current Intelligence Memorandum, CIA, Aug. 26, 1963, ibid., ed. note, 626.

36. Acting sec. of state to Lodge, Aug. 25, 1963, FRUS, 3: Vietnam January– August 1963, 635; CIA station in Saigon to CIA in Washington, Aug. 25, 1963, ibid., 633–34; author’s interview with Hilsman, Sept. 17, 2001; Hammer, Death in November, 177; Winters, Year of the Hare, 61.

37. Nolting Oral History Interview, 80–81 (May 6, 1970), JFKL; Trueheart Oral History Interview, 1: 53–54, LBJL; Nolting Oral History Interview, 115–16, May 7, 1970, by Joseph E. O’Connor, for JFKL Oral History Program.

38. Mieczyslaw Maneli, War of the Vanquished (New York: Harper and Row, 1971), 115, 117–18, 121, 125. A photograph had circulated among the diplomatic corps that suggested an immoral liaison between Maneli and Madame Nhu. Maneli denied both charges, although wittily remarking that “a love affair with as interesting and unusual a woman as Madame Nhu . . . could only adorn a man’s biography.” Ibid., 112–13. See also Langguth, Our Vietnam, 232, and Logevall, Choosing War, 6–12. Later exiled from Poland, Maneli came to the United States and taught political science at Queens College in New York. Hammer also emphasizes France’s wish to reestablish its control over Vietnam. See Death in November, 222. Dinh told the press that the Diem government “had entered negotiations with the Communists. . . by contacting the Polish representative on the ICC.” Policy of the Military Revolutionary Council and the Provisional Government of the Republic of Vietnam (Saigon: Ministry of Information, 1963), 32. Wason Pamphlet, Department of State Vietnam 373+. Echols Collection: Selections on the Vietnam War.

39. Maneli, War of the Vanquished, 121–22; Ho quoted in Hammer, Death in November, 221–22.

40. Maneli, War of the Vanquished, 127; Hammer, Death in November, 223; Lalouette quoted in ibid.

41. Maneli, War of the Vanquished, 127–28; Hammer, Death in November, 223–24; Winters, Year of the Hare, 43–44; Duiker, Ho Chi Minh, 534. Ho Chi Minh expressed the same peace terms in an interview with Wilfred Burchett that appeared in Moscow’s New Times on May 29, 1963. See FRUS, 4: Vietnam August–December 1963, 85 n. 3.

42. Maneli, War of the Vanquished, 128–29, 131, 134.

43. Ibid., 135–37; Hammer, Death in November, 220–21.

44. Nhu’s first quote in Hammer, Death in November, 221; Nhu’s second quote in Maneli, War of the Vanquished, 138.

45. Remainder of conversation in Maneli, War of the Vanquished, 138–39.

47. David Halberstam, “U.S. Problem in Saigon,” New York Times, Aug. 24, 1963, p. 2; Forrestal to JFK, Aug. 24, 1963, encl.: Ball to Lodge, Aug. 24, 1963, FRUS, 3: Vietnam January–August 1963, 625; Forrestal to JFK, Aug. 24, 1963, ibid., 627; Hilsman, To Move a Nation, 485, 485 n. 1; Newman, JFK and Vietnam, 346–51; Kaiser, American Tragedy, 231–34.

Chú thích cho trang 344-345:

55. Forrestal to JFK, Aug. 25, 1963, encl.: Lodge to Rusk and Hilsman, CAS (Controlled Action Source or CIA) station 292, Aug. 24, 1963, NSF, Countries— Vietnam, box 198A, JFKL; Ball to Lodge, Aug. 25, 1963, ibid.; Hilsman, “McNamara’s War,” 157.

56. William Colby, Lost Victory: A Firsthand Account of America’s Sixteen-Year Involvement in Vietnam (Chicago: Contemporary Books, 1989), 138; Taylor, Swords and Plowshares, 292–94; Rust, Kennedy in Vietnam, 119; Hilsman, To Move a Nation, 487–88; memo for record by Krulak, Aug. 24, 1963, FRUS, 3: Vietnam January–August 1963, 630–31; Gilpatric Oral History Interview, 1: 5–6, LBJL; Hilsman, “McNamara’s War,” 157; Halberstam, Best and the Brightest, 263–64.

57. First JFK quote in Reeves, President Kennedy, 567; second JFK quote in Rust, Kennedy in Vietnam, 119.

58. Ball’s interview of 1988 quoted in Winters, Year of the Hare, 57; Rust, Kennedy in Vietnam, 119–20; Ball, Past Has Another Pattern, 370, 372; Hilsman Oral History Interview, 31, 34–35, JFKL; Colby, Lost Victory, 138.

59. Hilsman Oral History Interview, 35, JFKL; Hilsman, “McNamara’s War,” 158; Schlesinger, Thousand Days, 825; Schlesinger, Robert Kennedy and His Times, 745–46.

60. Memo for record of meeting at White House, Aug. 26, 1963, FRUS, 3: Vietnam January–August 1963, 638–39, 639 n. 5; Hilsman memo of meeting, Aug. 26, 1963, Vietnam: White House Meetings, Hilsman Papers, box 4, JFKL. Those present included Rusk, McNamara, Taylor, Ball, Harriman, Gilpatric, CIA Deputy Director General Marshall Carter, Helms of the CIA, Hilsman, William Bundy, Forrestal, and Krulak.

61. Taylor quoted in Rust, Kennedy in Vietnam, 114; Memo for record of meeting at White House, Aug. 26, 1963, FRUS, 3: Vietnam January–August 1963, 639; Hilsman memo of meeting, ibid., 639 n. 7; Joint Chiefs of Staff to Felt, Aug. 27, 1963, ibid., 639 n. 7; Hilsman Oral History Interview, 34, JFKL.

Chú thích cho trang 362-364:

33. Research memo from Hughes to Rusk, Sept. 11, 1963, NSF, Countries—Vietnam, boxes 200–201, JFKL; memo to Bundy from Robert Neumann, Sept. 15, 1963, ibid.; Lodge to Rusk, Sept. 13, 1963, FRUS, 4: Vietnam August–December 1963, 203; memo of telephone conversation between Harriman and McCone, Sept. 13, 1963, ibid., 204; Saigon embassy to Rusk, Sept. 12, 1963, ibid., 204 n. 4.

34. Memo from Chester Cooper, chair of CIA’s Working Group on Vietnam, to McCone, Sept. 19, 1963, NSF, Countries—Vietnam, boxes 200–201, JFKL; memo for McCone, Sept. 26, 1963, FRUS, 4: Vietnam August–December 1963, 295–96.

35. CIA memo from Ray Cline, deputy director of intelligence, for Bundy, Sept. 26, 1963, NSF, Countries—Vietnam, boxes 200–201, JFKL; Hughes to Rusk, Sept. 15, 1963, ibid.; Nhu quoted in “Victory in Defeat?” Newsweek, Sept. 30, 1963, p. 38.

Chú thích cho trang 406:

70. Lodge to Rusk, no. 973, Nov. 8, 1963, NSF, Countries—Vietnam, boxes 202–3, JFKL; McGeorge Bundy to Lodge, Oct. 30, 1963, FRUS, 4: Vietnam August–December 1963, 500–501; Dinh’s claim to secret negotiations between Nhu and Hanoi in Seth S. King, “Hanoi Problems Said to Increase,” New York Times, Nov. 10, 1963, p. 4.

71. Gravel, ed., Pentagon Papers, 2: 260, 264; Bundy to Lodge, CAS 79109, Oct. 30, 1963, ibid., 783; Bundy to Lodge, Oct. 30, 1963, FRUS, 4: Vietnam August–December 1963, 502.

Bản Anh văn đính kèm ở đây:

Monday, August 14, 2023

CHIẾN SỰ Ở TỈNH BIÊN HÒA, LONG KHÁNH VÀ BÌNH TUY TÍNH TỚI ĐẦU THÁNG 12/1974.

Chuyển ngữ từ trang 107 tới 108 của sách "Việt Nam: Từ ngưng bắn đến đầu hàng" của cựu đại tá Le Gro, thuộc cơ quan DAO tại Việt nam.

. . .

"Sân bay Biên Hòa bị pháo kích.

Những đột kích chiến lược của CSBV tại tỉnh Biên Hòa khác với những đột kích tại tỉnh Bình Dương, phần lớn bởi vì mục tiêu quan trọng này, tức sân bay Biên Hòa -- là một trong những căn cứ không quân và tiếp liệu hàng đầu của VNCH, ở ngoài tầm hoạt động của những đại quân csbv. Ngay cả một trung đoàn chính quy csbv, dù vào được hàng rào phòng thủ của sân bay, cũng dễ dàng bị chia cắt, bao vây và tiêu diệt. Vì vậy những tấn công ở Biên Hòa chỉ là những cuộc pháo kích, đột kích do những toán nhỏ đặc công thực hiện, hay những tấn công qui mô nhỏ về bộ binh vào các tiền đồn trong tỉnh.

Cuộc tấn công lớn và đầu tiên của mùa hè 1974 đã xảy ra ngày 3/6. Từ các vị trí ở bắc sân bay, quân csbv đã bắn ít nhứt 40 hỏa tiển 122 ly do Liên Xô sản xuất. Phần lớn hỏa tiển rớt bên trong sân bay, nhưng chỉ gây hư hại nhẹ cho phi đạo và phá hủy 500 thùng nhỏ (canister) đựng xăng đặc hay napalm, nhưng số còn lại nổ trong những ấp quanh căn cứ, giết và làm bị thương các dân thường. Rất ngạc nhiên là ko máy bay nào bị hư hại. Sáng sớm ngày 10/8, bắc quân lại bắn 25 hỏa tiển. Bảy quả trúng kho chứa máy bay F-5A, gây hư hại nhẹ vài máy bay. Phần còn lại rớt xuống khu dân cư quanh sân bay, gây ít thương vong cho dân thường. Cuộc pháo kích đã tiếp tục rời rạc suốt buổi sáng và tiếp tục ngày kế, nhưng ko gây thương vong hay thiệt hại vật chất đáng kể. 

Tuy nhiên cuộc pháo kích ngày 10/8 vào sân bay Biên Hòa lại là hiệu lịnh (signal) cho một loạt các cuộc tấn công vào các tiền đồn ở bờ bắc của sông Đồng Nai trong quận Tân Uyên thuộc tỉnh Biên Hòa, phía bắc sân bay. Xử dụng phần lớn trung đoàn 165 bộ binh, sđ 7 csbv đã tấn công các tiền đồn ĐPQ -- mà nhiệm vụ của những đv diện địa này là ngăn ngừa địch quân vượt sông Đồng Nai cũng như ko cho chúng đến các vị trí có thể bắn hỏa tiển vào sân bay Biên Hòa. 

Tiền đồn đầu tiên bị thất thủ là Hố Đá, phía tây của quận lỵ quận Tân Uyên, vào đêm 9/8, nhưng được tái chiếm bởi trung đoàn 52 sđ 18 bộ binh năm ngày sau đó. Ngày 10/8, một TĐ của trung đoàn 165 csbv đã chiếm đồn Đất Cuốc ở một khúc cong của sông Đồng Nai, đông của Tân Uyên. Chúng đã cố thủ tới ngày 24/8 khi TĐ 346 ĐPQ tái chiếm. Nói thêm: theo bản đồ của Mỹ vẽ năm 1969, xem hình, Xóm Đất Cuốc nằm trong một thung lũng hẹp, nơi rộng nhứt khoảng 1 km, nằm hai bên của Suối Sâu, thông thương với Sông Đồng Nai. Các đồi núi ở bắc và nam của thung lũng này có độ cao từ 45 đến 80 mét. Theo các tài liệu của CS, Đất Cuốc từng là một phần của Chiến Khu Đ, nghĩa là từ năm 1946, có thời gian người CS Việt Minh đã xử dụng vùng đất này để hội họp, đóng quân, v.v... -- người dịch.

Phía đông của Đất Cuốc và phía bắc của làng Thái Hưng, là đồi Bà Cẩm, xem hình, canh giữ bởi TĐ 316 ĐPQ. TĐ này, đã đẩy lui địch, dù bị tấn công liên tục bởi một TĐ của trung đoàn 165 csbv, có pháo binh yểm trợ. Ngày 13/8, tđ 316 ĐPQ này đã rút về phía nam đến xã Thái Hưng, một nơi gần như bị phá hủy hoàn toàn bởi pháo binh của hai bên. (Nói thêm: xin đọc bài Chiếm Lại Làng Thái Hưng -- một làng gần như toàn giáo dân di cư 1954, của cựu thiếu tá Nguyễn Hữu Chế thuộc sđ 18 bộ binh -- người dịch). Tính tới cuối tháng 8, quân VNCH đã tái chiếm các đồn bót bị mất ở bắc sông Đồng Nai, khiến đối phương bị tổn thất nặng về nhân mạng. 

Một sự kiện đáng ghi nhận trong năm 1974 là đặc công csbv tấn công cầu Hóa An trên sông Đồng Nai, nối SG với Biên Hòa. Cầu này, ở đông bắc của SG, là một trong 3 cầu quan trọng trên sông Đồng nai, dài 800 mét. Bằng cách thả 2 bè, chất đầy thuốc nổ, từ thượng lưu của sông, các đặc công đã cột chúng vào một chân cầu. Nhưng lính gác trên cầu đã phát hiện, nổ súng khiến bọn đặc công bị bắn chết trước khi khối chất nổ phát nổ, làm rớt hai đà cầu dài 60m và làm bể kiếng của tòa lãnh sự Mỹ tại Biên hòa nằm trên bờ sông. Ba ngày sau, công binh VNCH đã làm một cầu Bailey, chỉ lưu thông một chiều, để xe cộ đi lại. 

XUÂN LỘC 

Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lịnh quân khu (QK) 3 vào lúc đó, mùa hè 1974, ko thể dồn hết mọi quan tâm của ông vào những trận đánh quyết định trên đây ở bắc của SG. Ông còn phải quan tâm đến những tấn công chiến lược của CS, nay đã lan tới ranh giới phía đông của QK 3 và đe dọa cắt đứt QL-1, con đường huyết mạch nối Sài Gòn (SG) với các tỉnh miền Trung.

Khoảng 50 km trên QL1 ở phía đông của SG  là Xuân Lộc, tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh. Nằm giữa những đồn điền cao su xanh tươi và rộng lớn, Xuân Lộc là một nhà ga quan trọng trong hệ thống đường xe lửa từ SG đến Hà Nội xây dựng thời Pháp thuộc. Xuân Lộc cũng gần nơi xuất phát của QL-20. Nói thêm: QL-20, xuất phát từ Ngã Ba Dầu Giây, ở phía tây của Xuân Lộc, nối kết thủ đô SG với Đà Lạt — thủ phủ về du lịch và nơi cung cấp rau quả cho SG — người dịch. Ngoài vị trí chiến lược trên đây, liên tỉnh lộ (LTL) - 2, chạy từ Xuân Lộc về phía nam tới Bà Rịa (tỉnh lỵ của tỉnh Phước Tuy) hay hải cảng Vũng Tàu. Nói thêm: tháng 4 1975  quân VNCH tại Xuân Lộc đã dùng LTL này để rút lui về Bà Rịa -- người dịch.

Sư đoàn 18 bộ binh VNCH thường giữ một trung đoàn ở Xuân Lộc, thường hành quân chống trung đoàn 33 và 274 CSBV có căn cứ ở những rừng núi bắc và nam của QL-1. Để đối phó với áp lực nặng nề của địch ở Biên Hoà và Bình Dương, tướng Thuần rút sđ 18 khỏi Xuân Lộc vào mùa hè 1974, và giao việc bảo vệ tỉnh và đường xá cho ĐPQ và NQ của tỉnh, tạo nhiều cơ hội cho quân VC địa phương, hỗ trợ bởi các trung đoàn chính quy CSBV này tạo áp lực trên tỉnh Phước Tuy và Long Khánh.                  



BẢO BÌNH VÀ RỪNG LÁ

Một cụm các ấp có tên là Bảo Bình, trong rừng cao phía đông của Xuân Lộc, là mục tiêu đầu tiên và quan trọng của các đv CS trong chiến dịch tấn công chiến lược của họ ở Long Khánh. Ngày 24/5, một lực lượng CSBV gồm 2 TĐ của trung đoàn 274, một TĐ của trung đoàn 33, một TĐ công binh đã chiếm những ấp này sau khi tràn ngập phòng tuyến của ĐPQ và NQ. Các cố gắng của các TĐ ĐPQ đều thất bại, và địch quân vẫn cố thủ ở Bảo Bình cho tới ngày 8 tháng 6 khi tướng Thuần thăm tiểu khu này. Ông càng khó chịu hơn các viên chức địa phương nói rằng chỉ có thể tái chiếm Bảo Bình khi sđ 18 trở về Xuân Lộc. 

Ngày 11/6, một lực lượng CSBV đã tấn công làng định cư Rừng Lá và cắt QL-1 khoảng 30 km đông của Bảo Bình. Rừng Lá là một trong vài làng được thành lập ở phía đông quân khu (QK) 3 để cung cấp chỗ ở và đất đai canh tác cho những nạn nhân chiến cuộc bỏ chạy khỏi tỉnh Bình Long sau khi quân CSBV tấn công tỉnh này năm 1972. Người dân từ quận Lộc Ninh và thị xã An Lộc, sau vài tuần sống thiếu thốn tiện nghi trong những trại tị nạn thành lập vội vả, như Phú Văn tỉnh Bình Dương; nay ở nơi ở mới, được chánh phủ chu cấp đầy đủ, họ đã bắt đầu khai khẩn đất đai để trồng trọt hoa màu cũng như lấy gỗ từ những khu rừng chung quanh các trại. Khoảng 132.000 nạn nhân chiến cuộc đã lập lại cuộc sống mới trong vùng này. Tuy nhiên cuộc sống mới này của họ đã ko an bình khi họ thường xuyên bị quấy rối bởi các cuộc tấn công bằng súng cối, đặt mìn, bắt cóc và ám sát của CS.  Tuy nhiên các cố gắng này của CS đã thất bại.

Các hoạt động khủng bố trên đây của CS đã tăng lên đáng kể từ tháng 4/1974. Khi CS gia tăng việc pháo kích bằng cối, và họ đã táo bạo hơn vào đầu tháng 6/1974 khi lợi dụng sự vắng mặt của sđ 18 bộ binh. Ngày 1/6, họ đã vào làng định cư Thái Thiện và đốt 25 nhà, và cảnh cáo dân làng phải rời đi. Trở lại vào ngày 6/6, họ đã đốt 50 nhà và cảnh cáo dân làng phải rời đi. Ngày 11/6, họ đốt 80 nhà ở làng Rừng Lá và cắt đứt Ql-1 gần đó. 

Rừng Lá, cách tỉnh lỵ Xuân Lộc 12 dặm hay 19.3 km, là một trong những trại định cư lớn nhứt cho nạn nhân chiến cuộc của tỉnh Bình Long. Những người sớm nhứt đã đến làng này từ tháng 12/1973. Đến tháng 6/1974, dân số của làng tới 18 ngàn. Khi CSBV lập một nút chận (road block) giữa Xuân Lộc và làng định cư Rừng Lá, gần 10 ngàn dân làng đã chạy về tỉnh Bình Tuy và Bình Thuận. TĐ 347 và 358 ĐPQ của tỉnh Long Khánh được lịnh phá vỡ nút chận này nhưng đã đẩy lui sau khi bị tấn công dữ dội bằng cối. Một TĐ ĐPQ xuất phát từ tỉnh Bình Tuy cũng bị tấn công như vậy tại làng định cư Rừng Lá. Thiệt hại về chính trị và tâm lý chiến này, cộng với ảnh hưởng nghiêm trọng đối với kinh tế địa phương của việc QL-1 bị cắt tại đây đã khiến tướng Thuần đã chuyển hướng quan tâm của ông từ tình hình quân sự ở khu Tam Giác Sắt  và nơi khác trong QK-3 sang khu vực này. Tướng Thuần ngày 13/6 đã thị sát mặt trận để xem xét các nút chận của đối phương tại khu vực này của Ql-1. Sau đó ông đã ra lịnh cho một chiến đoàn - gồm hai TĐ của trung đoàn 8 sđ 5 bộ binh, TĐ 32 thuộc LĐ 7 BĐQ, và một chi đoàn chiến xa - tiến quân từ Xuân Lộc để giải tỏa QL-1. Nhờ hỗ trợ tốt của pháo binh và quan sát cơ L-19, ngày 15/6, chiến đoàn đã dẹp 2 trong số 3 nút chận trên QL-1. Khi nút chận cuối cùng bị dẹp ngày 17/6, dân tị nạn đã trở về làng Rừng Lá để tiếp tục cuộc sống.

Chỉ để lại TĐ 32 BĐQ và một TĐ của trung đoàn 8 sđ 5 bộ binh để bảo vệ việc xây dựng một căn cứ mới của ĐPQ tại Rừng Lá, tướng Thuần đã ra lịnh cho vị tiểu khu trưởng Long Khánh dùng TĐ còn lại của trung đoàn 8 bộ binh và các TĐ ĐPQ của tỉnh Long Khánh để tái chiếm những ấp của Bảo Bình, vẫn còn bị đối phương kiểm soát. Tuy nhiên, lực lượng này đã ko đáp ứng yêu cầu. Do nhu cầu cao ở khắp nơi trong QK-3 rất cần tăng viện, nên Bảo Bình tiếp tục trong tay đối phương. 

Ngày 8/7, quân csbv đã lần nữa tấn công Rừng Lá và chiếm một khúc của QL-1 cho tới ngày 13/7. Dù từ ngày đó tới cuối năm, họ có thể tiếp tục quấy rối, đối phương ko thể cắt đứt QL-1 lần nữa. 

Bảo Bình là một mục tiêu khó khăn vì hệ thống công sự dày đặc của đối phương. Vào cuối tháng 7 và 8, vị tiểu khu trưởng đã dùng liên đoàn 7 BĐQ để tái chiếm Bảo Bình, cuối cùng BĐQ đã chiếm gần hết Bảo Bình trừ một ấp. Sau đó họ rút khỏi làng để hành quân gần Rừng Lá. Nhưng vào cuối năm 1974, QLVNCH đã hoàn toàn kiểm soát Bảo Bình vì các đơn vị csbv đã rút lui, có lẽ nhận lịnh của cấp trên cho cuộc tổng tấn công cuối cùng. 

San Jose ngày 20 tháng 8 năm 2023.

Tài Trần





Sunday, August 13, 2023

HÀNH QUÂN NEW LIFE (ĐỜI MỚI) Ở XÃ VÕ XU VÀ VÕ ĐẮT NĂM 1965





Lời nói đầu: Một số người trong chúng ta, kể cả người đã trưởng thành trước 1975, có lẽ đã ko biết nhiều về các hoạt động của quân đội Úc tại Việt Nam: thứ nhứt vì quân số tham chiến ít hơn so với quân Mỹ hay Hàn Quốc, thứ hai họ chỉ hành quân chủ yếu trong tỉnh Phước Tuy. Tuy nhiên nếu chúng ta chịu khó tìm kiếm trên mạng, sẽ thấy trong giai đoạn đầu, họ cũng hành quân ở Biên Hòa, Bình Dương, Long Khánh, Bình Tuy, v.v... Một số lính Úc còn làm cố vấn cho các trại lực lượng đặc biệt Mỹ. 

Từ chỗ chỉ có 30 cố vấn quân sự năm 1962; lúc cao điểm, đã có tới 7.672 quân nhân Úc tham chiến, nhờ quyết định tăng quân tháng 4/1965 của thủ tướng Robert Menzies, cầm quyền từ 1949-1966. 

Vì nước Úc từng thuộc Liên Hiệp Anh, quân Úc đã tham gia chiến tranh chống du kích Mã-Cộng ở Malaya, tiền thân của Malaysia bây giờ, nên họ có nhiều kinh nghiệm về chống du kích hơn quân Mỹ hay Hàn quốc. Một số đv viễn thám của VNCH, đã được huấn luyện bởi lính Úc tại trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp tại Bà Rịa, tỉnh Phước Tuy. Trước 1975, rất nhiều sĩ quan VNCH được gửi đi học Khóa Chiến Tranh Rừng Núi (Jungle Warfare Course) do Anh quốc bảo trợ ở Malaysia. 

Bài viết sau đây nói về cuộc hành quân New Life (Đời Mới) mà quân Úc tham dự với quân Mỹ ở tỉnh Bình Tuy năm 1965.                           

==========

. . . 

"Cuối năm 1965, BTL Mỹ tại VN đã phát triển một chiến lược nhằm ngăn chận VC thu lúa của dân (nhân mùa lúa chín) đồng thời đưa nông dân ở khu vực sản xuất lúa gạo đó trở về với chính phủ (CP). Mục tiêu lần này là Thung lũng Sông La Ngà ở bắc của làng Võ Đắt, nằm ở đông bắc tỉnh Long Khánh. Ghi chú: Võ Đắc là một xã của tỉnh Bình Tuy, được thành lập từ năm 1955 bởi cố TT Ngô đình Diệm. Do tác giả là người Úc nên đã sai lầm khi nghĩ rằng Võ Đắt thuộc tỉnh Long Khánh -- người dịch).

Khu vực này trước đây là nơi định cư của những người di cư từ Bắc Việt Nam, phần lớn là Công giáo; và với sự cần cù nhẫn nại (great industry) họ đã biến khu vực này đứng hàng thứ năm về sản lượng lúa gạo của cả nước. Tuy nhiên, năm 1963 và 1964, VC đã tiến vào vùng này và tịch thu vụ mùa, do đó là nguyên nhân (backdrop) dẫn đến cuộc hành quân (HQ) năm 1965 này.

Lữ đoàn (LĐ) 173 Nhảy Dù Mỹ, chỉ huy bởi chuẩn tướng E.W. Williamson, đã được giao nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho khu vực này để dân gặt lúa đồng thời đưa khoảng 37.000 người về vùng chánh phủ kiểm soát. LĐ này biệt lập vì ko thuộc sđ nào cả -- người dịch. LĐ này được tăng phái bởi hai TĐ của sđ 1 bộ binh Mỹ, còn gọi là sđ Anh Cả Đỏ, vì có phù hiệu là số 1 đỏ, xem hình -- người dịch. Đó là TĐ 1/2 bộ binh và TĐ 2/26 bộ binh. Kế hoạch của LĐ là sau khi lập một đầu cầu ở làng Võ Đắt, các TĐ của LĐ sẽ bảo vệ an ninh những làng lớn và những đường quan trọng, để sau đó ngày 26/11, sđ 10 của VNCH, sau này là sđ 18 bộ binh -- người dịch, tiến vào khu vực trách nhiệm và tiến về hướng đông.


Các TĐ sẽ được triển khai nhanh chóng (như là một LĐ Dù) vào khu vực trách nhiệm chiến thuật đã được chỉ định để bảo vệ việc thu hoạch lúa cũng như tiêu diệt kẻ thù.

Ngày 21/11, TĐ 2/503 nhảy dù, của LĐ 173 Dù, do trung tá Dexter chỉ huy, đã được trực thăng vận xuống sân bay Võ Đắt và sau đó là cả LĐ đã đến bằng đường không và đường bộ từ Biên Hòa và đã thành lập ở phía tây của Võ Đắt một căn cứ về Chỉ Huy, Pháo Binh và Tiếp Vận cũng như một Đầu Cầu cho các loại máy bay khác nhau bao gồm C-130 Hercules, C-7 Caribou, CH-37 Mojave-dùng để câu máy bay bị rơi, CH-47 Chinook và dĩ nhiên là trực thăng chỡ quân UH-1B Iroquois và trực thăng võ trang UH-1 C, xem hình. Nói thêm: Lúc đầu ở chiến trường VN chỉ có trực thăng chỡ quân UH-1 B, nhưng do nhu cầu chiến trường nên hãng Bell gắn thêm đại liên M-60 và rocket để làm gunship. Nhưng do thiết kế ban đầu chỉ để chỡ quân, nay lại làm gunship nên đã hạn chế vai trò tấn công của gunship. Do vậy hãng Bell đã cải biến một số trực thăng UH-1B thành UH-1 C bằng cách thay động cơ mạnh hơn (1.100 mã lực so với 960 mã lực của UH-1B), trang bị hệ thống điều khiển thủy lực kép, và đầu lọc để ngăn bụi vào động cơ phản lực, v.v... Theo link dưới đây thì phi đạo Võ Đắt dài 3.700 bộ hay 1127,76 m ở độ cao 443 bộ hay 135 m so với mặt biển. TĐ 4/12 của LĐ 199 bộ binh Mỹ từng đóng tại đây. Hình như Pháo đội 161 của quân đội hoàng gia Tân Tây Lan ở đây từ 1965-- người dịch.

Vo Dat AF (rjsmith.com)

Trực thăng UH-1B chỡ quân

Trực thăng UH-1C võ trang đại liên 
M-60 và hỏa tiển.

Nhiệm vụ của TĐ 1 thuộc Trung đoàn Hoàng gia Úc, viết tắt là 1RAR, là bảo vệ an ninh con đường giữa làng Võ Đắt và làng Võ Xu, dài khoảng 7 km, bảo vệ và kiểm soát làng Võ Xu và khu vực chung quanh làng này. TĐ này được yểm trợ bởi pháo đội 161 của Pháo đội Hoàng gia Tân Tây Lan (viết tắt là RNZA), và hai đv khác của Úc gồm một chi đoàn thiết vận xa M-113 của Trung đoàn Kỵ binh Công tước xứ Wales (viết tắt là PWLH), và ba toán Công binh Hoàng gia (viết tắt là RAE). Một toán tiếp vận cấp sđ (A Echelon) của Úc do thiếu tá Harper chỉ huy, đặt tại Căn Cứ Yểm Trợ Tiền Phương của LĐ 173 Dù, nằm kế sân bay Võ Đắt, trong khi một toán tiếp vận khác cấp LĐ (B Echelon) của Úc, đặt tại Biên Hòa, do đại úy Ducie chỉ huy. Ngày 21/11, TĐ này, dưới quyền chỉ huy của TĐ phó, thiếu tá Lander, được chỡ bằng hai đợt (lift) tới sân bay Võ Đắt đầy bụi đỏ và sau đó di chuyển đến một vị trí phòng thủ qua đêm (NDP) tại một vị trí ở đông bắc của Võ Đắt. Buổi sáng kế, đại đội A, chỉ huy bởi đại úy Healy, đã bảo vệ tuyến xuất phát cho đại đội B của đại úy McFarlane để đại đội này xung phong lên một ngọn đồi, vì nghi ngờ chiếm giữ bởi đối phương, nhưng cuối cùng phát hiện đồi này trống không. Ngày 23/11, TĐ này đã tiến theo hàng một vào một vị trí phòng thủ kế cận làng Đức Hạnh, nằm hai bên đường từ Võ Đắt tới Võ Xu. Làng này trước đây là sản phẩm của "Chương trình Ấp Chiến lược" của chánh phủ Nam VN và do đó được bao quanh bởi một hào sâu cỏ mọc um tùm với chông nhọn (panji stake), thép gai, và bây giờ là mìn bẫy (booby trap) của VC. 


Đại đội D do đại úy Rothwell chỉ huy, được lịnh tấn công; trong chuyến bay thám sát địa thế trước đó và với kinh nghiệm của ông trong Chống Nổi Dậy ở Malaya, tiền thân của nước Malaysia bây giờ -- người dịch, ông đã tìm đường tiến sát kín đáo mà đối phương ko phát hiện, xem hình vẽ.


 Sáng sớm ngày 24/11, đại đội D đã di chuyển tới vị trí tấn công (1) và trung đội 12 đã tạo một cửa mở trên hào nước (2) chung quanh ấp chiến lược (ACL) này để BCH của đại đội và các trung đội 11 và 10 tiến vào. Ghi chú: số màu xanh chỉ vị trí của quân Úc, số màu đỏ chỉ vị trí của VC -- người dịch. Khi trung đội 12 đang dàn đội hình, họ bị bắn bởi một xạ thủ và khi vượt qua con đường để tiến vào làng, họ đã bị bắn bằng súng tự động từ một vị trí (khoảng 20 VC) gần nhà thờ (3)Tuy nhiên, khi trung đội này dàn đội hình để xung phong vào vị trí địch (4), trung đội bị chia cắt và phần còn lại đã xung phong theo lịnh của trung sĩ Carnes, trung đội phó; khiến địch phải rút lui (5). Họ ráo riết đuổi theo và địch đã chiếm một vị trí mới (6) để chống trả trung đội nhưng bị pháo binh đánh chặn (7). Hơn phân nửa quân địch đã chết hay bị thương vì pháo binh.

Sau khi chiếm làng này, họ đã khám phá một vị trí phục kích của đối phương trên đường ở cổng phía tây của làng (8) nhưng địch đã rút bỏ đêm trước. Rõ ràng đối phương đã nghĩ rằng TĐ sẽ tiến quân dọc theo con đường từ Võ Đắt (như quân VNCH thường làm) và đã bị bất ngờ khi đại đội D đã xuất hiện từ bìa rừng, xem hình vẽ.


Ngày 26/11, được chỡ bằng thiết vận xa M-113, đại đội C được giao nhiệm vụ lục soát con đường giữa Đức Hạnh đến và xuyên qua Võ Xu. Khoảng 8 g sáng, khi chiếc M-113 đi đầu với trung sĩ Smith và hạ sĩ Bland tiểu đội trưởng tới gần cổng làng, họ bị tấn công bằng súng nhỏ và súng tự động (9). Hai người đã nhanh chóng di chuyển tới cổng làng và mở cổng cho xe chạy qua khiến đối phương phải  rút chạy để lại 2 mìn bẫy chưa nổ.

Sau khi lục soát kỹ càng từ 24 đến 29/11 ấp Chánh Đức, ngày 29/11, đai đội C tùng thiết với xe M-113, lục soát làng Võ Xu, với các đại đội khác bảo vệ cạnh sườn. Gần như họ ko gặp địch, tuy nhiên trung đội 4 khi lục soát đoạn phía đông của làng này, giáp với Sông La Ngà, họ đã bị tấn công bởi khoảng một trung đội địch, võ trang 2 súng liên thanh, từ bờ đông của sông (10). Hai lính Úc bị thương, một chết. Hai trung đội lính Úc, đại bác, cối và gunship đã hủy diệt các súng liên thanh này và xạ thủ và có thể các đồng đội khác của chúng. 

Từ 30/11 đến 12/12, TĐ đã làm chủ tình hình và các đại đội tuần tiểu trong và chung quanh làng Võ Xu, trong khi lính Công binh sửa đường và phá hủy công sự của địch. Họ phát hiện một số nơi đóng quân của VC đã bỏ trống (11) và khoảng 100 tấn lúa được khám phá từ những kho dấu ở 3 km nam Võ Xu. 

Ngày 13/12, TĐ, giờ dưới quyền trung tá Preece, di chuyển tới Võ Đắt để bảo vệ Đầu Cầu để chuẩn bị cho một cuộc HQ mới của LĐ 173 Dù, có tên HQ Smash, bắt đầu ngày 17/12. TĐ sẽ tới một khu căn cứ của địch, có tên Hát Dịch. Quân Úc và Mỹ sẽ tiến hành nhiều cuộc HQ trong tương lai vào căn cứ này. 

Dù cuộc HQ Đời Mới đã thành công trong việc bảo vệ dân gặt lúa, như đã xảy ra nhiều lần trong chiến tranh VN, nhưng chỉ là tạm thời, vì vài tuần sau đó, VC đã trở về với sức mạnh và hủy diệt (raze) làng Võ Xu./."

. . . 

Chuyển ngữ từ trang 9-11 của phụ lục 2016 từ sách "A Duty Donexuất bản năm 2014 của cựu trung tá Fred Fairhead thuộc Trung đoàn Hoàng gia Úc (RAR).

San Jose ngày 27 tháng 8 2023.

Tài Trần.

===========

Đọc thêm: 

Lính của trung đoàn 33 csbv vượt cầu treo bắt qua sông Rai ở tỉnh Phước Tuy, có lẽ phía tây của núi Mây Tào. Ảnh của Ernest Chamberlain, Úc.
 Ảnh chụp núi Võ Đắt vào khoảng đầu tháng 11/1970 bởi chuyên viên bậc 5 (SP-5) hay hạ sĩ Sam Weaver, đại đội C của TĐ 125 trực thăng tấn công của Mỹ . Nói thêm: núi này được lính VNCH gọi là đồi Bảo Đại. Vì có lời đồn rằng hoàng đế Bảo Đại đã từng xây nhà nghỉ mát ở đây.


Saturday, August 12, 2023

 http://rarasa.org.au/wp-content/uploads/2016/05/A-DUTY-DONE-Addendum.pdf