HÀNH QUÂN HAWTHORNE: TRÔNG ĐỢI NHIỀU HƠN
CÁC CHIẾN THẮNG Ở BIÊN
GIỚI.
-
Hành quân Hawthorne là một hoạt động quân
sự năm 1966 của liên quân Việt Mỹ, gồm giai
đoạn đầu có 2 tiểu đoàn
VNCH và một tiểu đoàn Mỹ nhằm giải tỏa áp lực chung
quanh tiền đồn Tou Morong ở bắc Dak
To, tỉnh Kontum. Trung đoàn 24 csbv đã chuẩn bị chiến trường rất kỹ để dụ liên
quân. Nhưng giờ chót, trung đoàn này lại bị liên
quân bao vây và bị giã nát bởi B-52 với thiệt hại
60/100.
I/Lời mở đầu.
"Trong
năm 1965, quận csbv đã tung ra một chiến dịch được thiết kế để cắt Việt Nam
làm hai và đánh bại quân VNCH theo chiến tranh
cổ điển hay qui ước.
Trong
chiến dịch đông xuân 1964-65, VC
đã hướng về cao nguyên trung phần. Cường độ của cuộc tấn công
của VC tại An Lão bắc Bình
Định trong tháng 12/1964 đã chỉ rõ rằng đối phương
đã chuẩn bị đẩy mạnh nhịp độ
(tempo) các hoạt động từ hoạt động du
kích qui mô nhỏ thành chiến tranh di động.
Trong hoạt động này, họ đã
dùng lực lượng cấp trung
đoàn hay một lực lượng gồm ít nhứt 3 hay
4 tiểu đoàn. Quân VC đã giữ trận địa và chỉ rút
lui trước áp lực mạnh của quân
VNCH. Đây là một thay đổi từ lối đánh
trước đây là tấn công, phục kích,
và rút lui khi quân VNCH tới gần.
Vào
tháng 2/1965, đồng thời với các tấn công
vào doanh trại (billet) của toán cố vấn quân
đoàn II và sân bay của tiểu đoàn 52 không quân Mỹ tại Plei
Ku, VC đã tung ra một loạt các tấn công
quy mô lớn ở bắc Bình
Định. Các trận này được thiết kế để nắm quyền kiểm soát
phần phía bắc của tỉnh này
và đã thành công. Chúng đã tràn ngập vài vị trí cấp trung
đoàn (regimental force) của VNCH, khiến những lực lượng VNCH
còn lại biến thành những nội phận (vẫn do
VNCH kiểm soát nhưng chung quanh là VC.--người dịch) tại quận Bồng Sơn
và Phù Mỹ và phải tiếp tế bằng máy
bay. Chiến dịch được nhanh
chóng nối tiếp bởi một tấn công
vào quốc lộ (QL) 19, giữa Bình
Định, nhằm cắt con đường tiếp tế chánh
giữa hải cảng Qui
Nhơn và cao nguyên. Nếu thành công, nó sẽ cô lập các tỉnh cao
nguyên như Kontum và Pleiku, khi đó hai tỉnh này phải tiếp tế bằng máy
bay. Điều này sẽ làm suy yếu tinh
thần của quân VNCH và tạo cho
VC một ưu thế cho một tổng tấn công
sau này, vào mùa mưa tại Kontum và Pleiku.
Điều đáng
quan tâm là làm thế nào VC áp dụng chiến thuật của kẻ đi trước, là
Việt Minh CS, để di chuyển nhanh
chóng từ khu này sang khu khác trong một kế hoạch toàn
diện. Nên nhớ rằng, khả năng
đi bộ của họ từng có
thể đối phó với chuyển quân
bằng xe tải của Pháp,
chắc chắn phải gặp khó
khăn khi đối phó với di chuyển nhanh
lẹ bằng trực thăng
của quân VNCH ngày nay. (Theo bài Attack and Counter-Attack
on highway 19 của đại tá Theodore C.
Mataxis).
II/
Sau đây là chuyển ngữ từ trang
275 - 288 trong quyển Stemming The Tide của John
Carland do Trung tâm Quân sử của Lục quân
Mỹ in.
Trước khi bắt đầu đọc, xin
các bạn làm quen với một số chữ viết tắt như:
-
đv: đơn vị
-
TĐ: tiểu đoàn
-
sđ: sư đoàn
-
BCH: bộ chỉ huy
-
HQ: hành quân
-
CSBV: Cộng sản Bắc Việt.
-
TĐ 1/327 là tiểu đoàn 1 của trung đoàn 327; hay TĐ
2/327 là tiểu đoàn 2 của trung đoàn 327; hay TĐ
2/502 là TĐ 2 của trung đoàn 502. Cả ba TĐ này thuộc lữ đoàn 1
sđ 101 nhảy dù Mỹ của tướng
Pearson. Lữ đoàn này là nỗ lục chánh
trong trận Tou Morong.
======
"Mặc dù gặt hái
nhiều thắng lợi quanh
Sài Gòn và các đồng bằng ven biển của Quân
khu II, tính tới những tháng đầu năm
1966, quân Mỹ chỉ có tiến bộ
(headway) hạn chế tại Cao
nguyên Trung phần. Những núi non và thung lũng
hiểm trở này vẫn là
hành lang quan trọng dùng để chuyển người, vũ
khí và tiếp liệu của Hà Nội vào
Nam Việt Nam. Tướng Westmoreland đã lý luận như
sau vào năm ngoái (1965): Nếu quân CSBV thoải mái
xâm nhập cao nguyên mà ko bị trừng phạt,
chúng sẽ dễ dàng di chuyển đến những vùng
đông dân xa hơn ở phía nam và cũng dùng cao nguyên là đường rút
lui khi thất bại. Thất bại của quân
Đồng Minh trong vùng này sẽ là
"bước đầu tiên trong việc sói
mòn toàn bộ sức mạnh của chúng
ta trong đất nước này," tư lịnh của bộ tư lịnh yễm trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam,
gọi tắt là MAC-V, đã kết luận, và
ông ta có ý định sẽ đối đầu
(contest) mọi tấn công của đối phương
tại cao nguyên này.
Cán
cân quân sự này giữa hai bên tại Cao
nguyên Trung phần sẽ ko thay đổi cho tới khi lữ đoàn
2, sư đoàn (sđ) 4 bộ binh Mỹ tới TP
Plei Ku vào tháng 7. Dù ko có thêm quân trong vài tháng, nhưng tướng quân
quan niệm ko muốn xin thêm hỏa lực một khi
ông tấn công. Ngoài căn cứ không quân Phan Rang ở bờ biển, căn
cứ Plei Ku cũng đang mở rộng, giờ đây tiếp đón
các máy bay A-1 Skyraider (một loại khu
trục cánh quạt, sản xuất từ 1946,
qua nhiều cải tiến, và
chấm dứt xử dụng vào
đầu thập niên 1980.--người dịch) của không
quân Mỹ và Việt Nam, và những máy
bay Hỏa Long mới (như AC-47, AC-119, thời điểm 1966
chưa có AC-130.-- người dịch). Hơn nữa, sự xuất hiện vào
tháng Sáu tại Plei Ku của trung đoàn 52 pháo
binh (52d Artillery Group) và tiểu đoàn 3/6 pháo binh của trung
đoàn này, đã gia tăng hỏa lực mà Westmoreland cần cho
chiến lược của ông.
Để làm tốt chiến lược này,
các đơn vị (đv) Nam Hàn và Nam Việt Nam sẽ tiếp tục bảo vệ các
căn cứ dọc theo bờ biển trong
khi sđ 1 không kỵ lục soát đồng bằng và đồi núi để tìm những đv
chính quy của đối phương. (Thời điểm 1966,
sđ 1 không kỵ chỉ hành quân trong tỉnh Bình
Định, và đặt căn cứ ở An Khê trên quốc lộ 9
trong tỉnh này.--người dịch). Bất cứ đe dọa nào
xuất hiện ở Cao
nguyên Trung phần sẽ được giải quyết bởi lữ đoàn
3, sđ 25 bộ binh Mỹ, và khi cần thì
có lữ đoàn 1 của sđ 101 nhảy dù.
Khi quân CSBV và VC di chuyển qua khu vực này,
quân Mỹ sẽ đối đầu với chúng
khi chúng xuất hiện hay--nếu chúng
quá mạnh--sẽ cần lực lượng từ nơi
khác. Trong trường hợp này, sđ 1 không kỵ, sư
đoàn lưu động (swing division) của Quân
đoàn II, sẽ được không vận tới chiến trường.
Westmoreland đã tin rằng ông phải "ở thế thượng
phong" (elusive) so với đối phương
và hy vọng cách tiếp cận này sẽ
"khiến đối phương ko thể đoán
biết ý định điều quân
của ông, và ko thể chọn địa điểm và thời gian
để mở một mặt trận như họ đã
quen làm từ trước đến giờ."
=======
TRẬN TOU MORONG THÁNG 5 VÀ 6 1966
Trong cuối tháng 5, cộng quân đã tiến gần một tiền đồn của địa phương quân (ĐPQ) ở Tou Morong, bắc của Dak
To tỉnh Kontum. Trong vài ngày, chúng chỉ quấy rối bằng súng
cối và bắn sẻ, nhưng
chẳng bao lâu ý định của chúng
đã rõ ràng. Các hồi chánh viên cho biết trung đoàn 88 csbv đã
vượt biên giới Lào Việt khoảng 35
km tây bắc của tiền đồn,
trong khi những tin tức tình báo khác cho biết các đơn
vị (đv) của trung đoàn 24 csbv ở rừng rậm phía
bắc và tây nam của tiền đồn. Cuối cùng,
một nhật ký tịch thu
bởi các đv Mỹ cho thấy các
đv Bắc Việt đã lập kế hoạch để mở một chiến trường kiểu Điện Biên
Phủ ở nơi nào đó trên cao nguyên, với trục tiến quân
chánh trong tỉnh Kontum. Dù nhật ký ko có thời biểu, nhưng
mức khả tín của các
thông tin khiến quân Mỹ phải đáp ứng.
Thế là
hành quân (HQ) Hawthorne được hoạch định và
chỉ huy bởi tướng
Pearson, tư lịnh lữ đoàn 1 của sđ
101 nhảy dù. Tướng Kinnard, quyền tư lịnh của Lực Lượng 1 Dã
Chiến (I Field Force), đã gặp tướng
Pearson và Vĩnh Lộc, tư lịnh quân đoàn 2 của VNCH,
vào ngày 28/5 để thảo luận sẽ dùng lực lượng nào.
Lúc đó, Pearson chỉ có tiểu đoàn (TĐ) 1/327 của đại tá
Meinzen đóng tại bộ chỉ huy
(BCH) tạm của lữ đoàn ở Cheo
Reo thuộc tỉnh Phú Bổn --
còn TĐ 2/327 của đại tá Wasco tại Tuy
Hòa và TĐ 2/502 của đại tá Emerson tại
Pleiku, cả hai đv dưới sự chỉ huy của lực lượng 1 dã
chiến. Tướng Vĩnh Lộc cung
cấp TĐ 1/42 bộ binh và TĐ 21 BĐQ, đều thuộc biệt khu
24 của tỉnh Kontum.
TĐ
BĐQ sẽ được trực thăng
vận đến các vị trí 12
đến 15 km tây bắc tiền đồn và TĐ
1/327 xuống đông bắc. Một khi
xuống đất, cả hai đv
sẽ tiến về tiền đồn. Cùng
lúc, TĐ 1/42 bộ binh sẽ di chuyển đường bộ từ Dak
To. Pearson nghĩ rằng TĐ bđq và quân Mỹ sẽ tấn công
vào phía bắc của địch, TĐ
bộ binh tiến lên từ phía
nam. Nếu địch ko giao chiến, tiền đồn sẽ được giải tỏa.
TĐ
1/327 chỡ bằng C-130 từ Cheo
Reo lên Dak To. Thiếu tá Hackworth, trưởng ban 3 lữ đoàn,
làm quyền tiểu đoàn trưởng của 1/327
vì đại tá Meinzen bị bịnh.
Địa thế và thời tiết ở tỉnh này
ko làm ai ngạc nhiên. Những ngọn núi dốc đứng, phủ đầy rừng và bụi rậm, có mặt khắp khu vực.
Ngoài quốc lộ 14 là trục lộ nam bắc duy
nhứt, còn lại là những đường mòn
xuyên rừng rậm rạp. Do ảnh hưởng của gió
mùa, vào lúc này trong năm, mây thấp và mưa bắt đầu mỗi ngày
vào xế chiều và đôi khi kéo dài đến sáng
sớm hôm sau. Sương mù xuất hiện sau
khi mưa buổi sáng, vừa che chỡ cho địch và
gây trở ngại cho không yễm.
HQ
Hawthorne đã bắt đầu ngày 2/6, với TĐ
1/42 di chuyển bằng xe từ Dak
to. Đi được 4 km, họ chạm súng
nhỏ với khoảng một đại đội địch. Tối hôm
đó, một thành phần của tđ
1/327 của thiếu tá Hackworth được trực thăng
chỡ tới khoảng 9 km
đông bắc Tou Morong. Phần còn lại của TĐ sẽ tới sáng
ngày kế, cùng lúc với tđ BĐQ tới bãi
đáp của họ. Mọi việc theo
kế hoạch, trừ quân
VNCH tiến chậm so với dự trù.
Vào ngày thứ ba của HQ, để yễm trợ cuộc tiến quân,
pháo đội B của TĐ 2/320 pháo binh được chỡ tới một đồn cũ của Pháp
có tên Dak Pha, nằm trên đường từ Dak To
đi Tou Morong. Đại đội A của tđ
2/502, chỉ huy bởi đại úy
Walter Brown, bảo vệ pháo đội này,
xem bản đồ.
Ba
tđ đã đến Tou Morong ngày 5/6, giải tỏa tiền đồn này.
Quân VNCH đã hộ tống đv ĐPQ này về Dak
To. Vì bắc quân né tránh đụng độ, bộ tham mưu
của tướng Pearson đã gặp
Hackworth tại Tou Morong. Thiếu tá Hackworth xin lục soát
phía bắc, tây bắc, và tây của tiền đồn này;
tướng quân đồng ý.
Vào
buổi chiều cùng ngày, một đại đội của ông
khi lục soát phía tây bắc đã đụng độ một đại đội cộng của csbv
(vì quân số nhiều hơn một đại đội). Một quả đại bác bắn yễm trợ đã rơi
lầm làm chết 5 lính Mỹ và bị thương
5. Họ cầm cự để chờ phần còn lại của tđ sẽ đến sáng
hôm sau.
Nhưng
đụng độ lớn lại xảy ra ở Dak
Pha. Bắc quân đã quấy rối căn cứ này từ 3/6.
Lúc 2 g sáng ngày 7/6, sau khi pháo bằng cối, bắc quân
thăm dò chu vi phòng thủ. Tám lính csbv chết so với 3
lính Mỹ. Tấn công ồ ạt bắt đầu khoảng 0320
sáng, khi một thành phần, sau này được biết là của trung
đoàn 24 csbv tấn công từ hướng bắc, tây,
và đông. Đợt đầu tiên bằng
B-40, thẳng vào khẩu số 6, nằm ở phía
tây của đồn hình ngôi sao này, khiến các
pháo thủ bỏ chạy về giữa căn cứ. Lúc
0400 sáng, một tấn công khác từ tây bắc, khiến một số lính của pháo
đội này chạy về trung
tâm của căn cứ. Một lát
sau lính Mỹ phản công và đẩy lui địch.
Khoảng cùng
lúc đó, pháo đội B của tđ 1/30 pháo binh,
đóng gần căn cứ Dak To 1 nổ súng để yễm trợ Dak
Pha. (Đừng lầm với Dak
To 2 ở tây nam cách đó 3 km là một trại lực lượng đặc biệt.--người dịch). Những loạt đạn 155
ly, nổ sát bên ngoài chu vi, khiến bắc quân
bỏ khẩu số 6, và
vài giờ sau đó, hỏa lực liên
thanh và cối của địch giảm đáng
kể.
Việc hưu
chiến này chỉ tạm thời vì
ngay sau hừng đông, pháo kích gia tăng, và lúc 0640 sáng, quân cs mở tấn công
mới, lần này tập trung
vào khẩu 6. Hai tiểu đội bắc quân
đã chiếm khẩu này. Thay vì phản công,
lính Mỹ ở trong hố cá nhân, nhường cho
pháo binh tấn công địch trong 2 giờ. Trực thăng
võ trang và máy bay tham chiến tới khi địch ngừng tấn công
Dak Pha.
Khoảng 0730
sáng, thiếu tá Hackworth và đại đội B và
C của ông được trực thăng
từ Tou Morong tới Dak Pha, khoảng cách
4 km. Ông chỉ huy luôn đại đội A (của đại úy
Brown)và ra lịnh cho đại đội này,
đang bảo vệ căn cứ, phải tiến về phía bắc. Ông
ra lịnh cho đại đội B và
C giữ sườn trái của A để ngăn địch rút
về hướng đó. Sau đó, đại đội A của
Hackworth và trung đội viễn thám, cũng rời Tou
Morong để vào khu vực. Giờ đây
Hackworth có 3 đại đội và một trung
đội viễn thám tiến về phía bắc của Dak
Pha. Mọi dấu hiệu cho
thấy bắc quân ở gần đó nhưng
họ đang rút sâu vào rừng núi bắc của Tou
Morong.
Lúc
0920 sáng, phần còn lại của tđ
2/502 của đại tá Emerson được bốc từ Dak To
1 đến 10 km bắc Dak Pha. Emerson ra lịnh cho
đại đội C lục soát
phía bắc của bãi đáp và đại đội B
phía đông.
Khi
tiến về phía bắc, lính
của Hackworth thấy hàng ngũ địch rối loạn,
chúng chạy ngờ ngờ giữa đồng trống, nên
quyết tâm đuổi theo. Họ ko ngờ họ đã sập bẫy vì lọt vào một hệ thống công
sự vững chắc mà
trung đoàn 24 csbv đang chủ động chờ đợi họ -- mở màn
cho trận đánh 3 ngày của lữ đoàn
này.
Trận đánh
này đã bắt đầu với một loạt chạm súng
rất sớm vào ngày 8/6. Một trong
những chạm súng đó là của trung
đội viễn thám của đại úy
Lewis Higinbotham có phóng viên Ward Just của báo
Washington Post đi theo làm phóng sự. Ngày trước đó,
trung đội này đi theo đường mòn cũ về phía
tây bắc và đổi về phía bắc. Họ đã lần lượt tìm
thấy hai nơi đóng quân mà địch đã
rút. "Rừng hoàn toàn yên tỉnh, trừ vài
con bướm đầy màu sắc,"
phóng viên Just sau này mô tả lại. Khi
trời tối, trung đội đào hố.
Ngày
kế, 8/6, họ tiếp tục truy
kích. Hầu như ngay sau đó, họ đã gặp một nơi
đóng quân bỏ hoang của địch, rất lớn đủ chứa ít nhứt là một TĐ,
hay cả một trung đoàn. Tất cả vẫn yên tỉnh, nhưng
lúc 1315 chiều, lính Mỹ bị phục kích.
Ít nhứt 200 lính csbv nổ súng bằng súng
nhỏ và B-40. Trung đội của
Higinbotham bắn trả, vội vàng
lập phòng tuyến và gọi phi
pháo. Đạn pháo Mỹ rơi sát phòng tuyến. Dù vậy đạn súng
nhỏ và B-40 rơi tới tấp vào
phòng tuyến Mỹ. Sợ rằng có
thể bị tràn ngập trước khi được tiếp viện,
Higinbotham cho thu hẹp phòng tuyến.
Thiếu tá
Hackworth phản ứng lập tức, gửi đại đội A và
hai trung đội của C tăng viện cho
trung đội viễn thám. Dựa vào
tiếng súng, đại đội C chạy nhanh
về phía trước, và đụng địch. Họ bị cầm chân
trong giây lát và sau đó lúc 1700 chiều hai đại đội đã tới gần mục tiêu.
Lính của trung đội viễn thám
la hét ầm ỉ để hướng dẫn quân
tiếp viện tìm thấy họ. Bắc quân
có lẽ ko để ý điều này
nên tiếp tục rút về phía bắc. Lợi dụng tình
hình này, Higinbotham di tản người chết và bị thương
và nhận tiếp tế. Trung
đội viễn thám của ông
chết 5 và 17 bị thương, nghĩa là gần nửa quân
số. Không biết tổn thất địch.
Các
ngày kế, Hackworth tiếp tục tìm
kiếm địch. Ngày 9/6, đại đội C được trực thăng
đổ xuống tây bắc và đại đội B tìm
địch ở bắc Dak
Pha. Đại đội A và trung đội viễn thám
vẫn ở chỗ chạm súng
cũ của ngày 8/6.
Trong
khi đó, ở phía bắc, tđ 2/502 của
Emerson đã ko đụng độ đáng kể trong
hai ngày đầu, có lẽ họ ở xa đường rút lui của địch. Tuy
nhiên ngày 9/6, tình hình đã thay đổi. Trong khi đại đội A của Brown
trở về với TĐ
2/502 của Emerson, và bảo vệ BCH TĐ
này, đại đội B của trung
úy Louis Sill lục soát hướng đông theo nhiều trục và đại đội C của đại úy
William Carpenter chuyển về nam và đông cho tới khi họ tới ranh
giới trách nhiệm của tđ của
Emerson và Hackworth. Chẳng bao lâu họ đều chạm súng.
Sau
khi đi khoảng 1.000 mét, quân của trung
úy Sill bị tấn công bằng súng
liên thanh. Đại úy Carpenter cũng bị tấn công
nhưng chiếm một cao điểm. Vào
lúc đó, với Hackworth trên đường giúp đại đội B,
Carpenter được lịnh chuyển về phía bắc và
đông để ngăn đường rút lui có thể của địch. Do
địa thế tre gai chằng chịt khiến tiến quân
rất chậm, nên Carpenter cho đại đội đi
hàng một. Trung đội viễn thám
đi đầu, kế là trung đội 1,
BCH đại đội, trung đội 3, và
cuối là trung đội vũ khí nặng. Mỗi trung
đội cách nhau khoảng 200 m.
Khi
đoàn quân vượt qua một chõm núi nhỏ, toán
viễn thám nghe giọng người khoảng 200
m phía trái. Carpenter ra lịnh cho đại đội dừng lại để phía
sau bắt kịp. Ông có 2 chọn lựa: đổi hướng để tránh
địch; hay vượt qua chõm núi để tìm địch. Ông
chọn cách thứ hai. Ông cho trung đội 1 tấn công,
hai trung đội kia chuẩn bị tiếp cứu.
Lúc
1530 chiều, tiểu đội đầu của trung
đội 1 bò về hướng có
tiếng người--khoảng 10 tới 15
lính csbv đang tắm và nấu ăn. Quân Mỹ nổ súng,
giết và làm bị thương số quân
này, và tiếp tục tiến. Chỉ trong
vài phút, bắc quân phản công. Ít nhứt là
hai khẩu đại liên ở trước và
bên trái của quân Mỹ nổ súng,
chận đứng trung đội 1.
Trung đội 3 tiến đến cách
sườn trái của trung đội một 50
mét, hy vọng bọc hông (outflank) địch, nhưng
bị bắn trả dữ dội và bị cầm chân.
Chẳng bao
lâu cả đại đội của
Carpenter bị tấn công. Ngay cả BCH đại đội và
trung đội vũ khí nặng, dù ở xa
phía sau, cũng bị tấn công bằng đại liên.
Hỏa lực mạnh nhứt đến từ ngọn đồi khoảng 200
mét hướng đông. Trung đội vũ khí nặng được lịnh bắn yễm trợ. Nhưng
quân Mỹ chỉ tiến 1/3 đường thì
phải ngừng lại vì hỏa lực mạnh.
Tình
hình của trung đội 3 rất bi
đát. Địch ném lựu đạn để đánh bọc hông
lính Mỹ. Trung đội trưởng
trúng đạn chết và một tiểu đội trưởng chết vì lựu đạn. Một tiểu đội trưởng khác
hoảng hốt gọi máy
báo Carpenter rằng vị trí của y bị tràn
ngập và y là người duy nhứt trong
tiểu đội còn sống và
sau đó tắt máy.
Thông
thường phi pháo giúp ích cho bộ binh
nhưng ở đây là rừng tre gai khiến phi
pháo ko hiệu quả vì người lính
ko thể thấy nơi đạn đại bác
hay bom rơi để điều chỉnh. Họ chỉ có thể dựa vào
âm thanh để biết hướng bom
hay đại bác rơi. Trong tình hình thất lợi như vậy, địch lại tấn công
dồn dập khiến đại đội của
Carpenter có nguy cơ bị tràn ngập. Lúc 1615 chiều, đại đội bắt đầu rối loạn hàng
ngũ. Carpenter có thể rút nhưng địch bao vây ít nhứt 3 mặt, nhiều lính
Mỹ bị thương và bất cứ người nào của trung
đội 3 đang trốn trong rừng có
thể bị bỏ lại.
Trong
tuyệt vọng, đại úy
Carpenter mở một lựu đạn khói
và ném về rìa phía bắc của chu
vi phòng thủ nhỏ bé của ông
và gọi máy bay ném bom xuống chỗ đó. Một F-4
Phantom ném 2 bom napalm lúc 1645. Một quả rơi xa
quân Mỹ, trúng địch quân; quả sau rơi
cách quả trước 30 - 50 mét, rất gần quân
Mỹ. Theo trung sĩ thường vụ đại đội
Walter Sabalauski, "quả này rơi cách phòng tuyến vài
mét". Theo Carpenter, "bom rơi giữa trung
đội vũ khí nặng và trung đội 1 và
cách phòng tuyến khoảng 15 mét". Ít nhứt một tá
lính Mỹ bị phỏng -- một người chết sau
đó. "Quả bom trở thành quả cầu màu
vàng và nóng khủng khiếp ", một y tá
kể lại. Các tường
trình sau đó nói rằng Carpenter đã xin napalm, nhưng đại úy phủ nhận, nói
rằng "Tôi đã ko biết vũ
khí nào mà máy bay đang có."
Nhưng
điều này cũng xấu cho bắc quân.
Trung đội trưởng vũ khí nặng kể lại,
"rất nhiều bắc quân
trúng bom...tôi thấy một lính csbv, như bó đuốc, chạy lên
chõm núi." Sửng sốt (staggering) vì bom
napalm, bắc quân đã ngừng bắn trong
hơn 1/2 giờ để tái tổ chức, khiến quân
Mỹ có thì giờ rút về sau và
lập chu vi mới. Từ lúc
này, họ giữ vững vị trí suốt đêm,
dù địch tiếp tục thăm
dò.
Trong
khi đó, các tư lịnh Mỹ đã làm mọi thứ để giúp
Carpenter. Đại tá Emerson ra lịnh các đại đội còn lại của TĐ đi
tiếp cứu. Lúc 1710 chiều, đại đội B của
Emerson chỉ còn dưới 3km đông bắc của
Carpenter khi họ gặp một TĐ
csbv. Hai bên đã giao chiến suốt đêm,
khiến đại đội B khó
tiếp cứu Carpenter kịp thời. Đại đội A của
1/327, giờ đây cũng do Emerson chỉ huy, cũng
bị chận đánh. Sau ba đợt xung
phong để phá phòng tuyến địch, đại úy
Willis, đại đội trưởng, cố gắng đi
vòng quanh nhưng thất bại. Cuối cùng,
đại úy cho đóng quân tại chỗ. Trước khi hừng
sáng, bắc quân đã giết 8 và làm bị thương
20 lính của Willis.
Tuy
nhiên, các đv khác đều ko phải như vậy. Lúc
1715 chiều, đại đội A của 2/502
của đại úy Brown, hoạt động chưa
tới 2 km tây của Carpenter, đã bắt đầu đi bộ tới chiến trường. Suốt đêm,
những lính này di chuyển về đông
nam trong lúc mưa nặng hạt, lúc mưa lúc tạnh. Trời rất tối đến độ có lúc
họ phải nắm tay để khỏi lạc. Khi
họ đến khoảng 500
m cách đại đội của
Carpenter, họ nghe giọng nói Việt Nam.
Brown lập tức gọi
Carpenter, yêu cầu bắn một loạt đạn để ông biết vị trí của đại đội của
Carpenter. Lính của ông vượt qua vòng dây của địch, và
toán đi đầu đã gặp Carpenter lúc 2135 tối và phần còn lại của đại đội của Brown
đến sau nửa đêm.
Từ đó,
lính của trung đội 3 của
Carpenter, như những bóng ma, đã lần mò trở về đại đội của mình.
Đối với phần còn lại của đại đội của
Carpenter, mà trước đây đã nghĩ rằng trung đội 3 đã
bị tiêu diệt, nay trung đội đã về gần đủ trừ ba người. Sau
khi kiểm kê quân số, Carpenter thấy đại đội chỉ chết 3, bị thương
34, và 3 mất tích.
Quyết tâm
chiến đấu này của bắc quân
đã khiến tướng Pearson mở rộng HQ
Hawthorne. Đầu tiên, ông chuyển TĐ 1/42 bộ binh
VNCH về hướng tây, ngăn cản địch rút
về hướng này. Lực lượng 1 Dã
chiến rút một đại đội của 2/327
để tăng phải cho TĐ của
Emerson. Sư đoàn 1 không kỵ tăng phái TĐ 1/5 không
kỵ đến phía đông của chiến trường. Với TĐ của
Hackworth tấn công từ bắc, và
Emerson từ nam, tướng Pearson nghĩ rằng đã
bao vây 4 mặt bắc quân.
Nhưng
Pearson muốn chắc chắn rằng ông
sẽ giã nát bắc quân, do vậy ngày
10/6, ông đã yêu cầu B-52 ném bom trước khi quân của ông tấn công.
Khi yêu cầu được chấp thuận, ông
nói các đại đội phải rút về sau ít
nhứt 3km, và đừng để bắc quân
biết.
Việc di tản thương
binh về nơi an toàn gặp khó khăn vì trực thăng
bị bắn khi đáp xuống.
Quân Mỹ phải đợi trời tối để khiêng
vác thương binh. Dù trực thăng đã thả cáng tải thương
(litter) cho 2 đại đội, nhưng vì mưa lớn, trời quá tối, và rừng quá
rậm, họ phải đợi trời sáng
mới di chuyển.
Ngày
11/6, khi trời sáng rõ của, hai đại đội đã bắt đầu đi bộ về phía
tây tới một bãi đáp mới lập. Họ chỉ thiệt 1 người vì bắn sẻ. Họ tới bãi
đáp sau 1100 sáng, lên máy bay, và đi hết lúc 1230 trưa. Suốt ngày
kế, họ nghỉ ngơi
và tái trang bị và chờ B-52 oanh kích trước khi
trở lại chiến trường.
Trong
khi đó, tướng Pearson nhanh chóng chuẩn bị cho
B-52. Để địch quân nghĩ rằng quân
Mỹ vẫn còn trong khu vực, ông
ra lịnh cho phi pháo tấn công địch từ 11 -
13/6. Cùng lúc, các thành phần của TĐ của
Hackworth tích cực lục soát nhưng các đv này
từ từ rút lui, chỉ để lại trung
đội viễn thám của
Higinbotham. Trung đội này cũng rút lui vào sáng sớm 13/6,
vài giờ trước khi oanh kích bắt đầu. Hơn
nữa, các lực lượng ngăn
chặn đường rút lui của địch phải vào vị trí.
Ngày
ném bom có thời tiết rất tốt. Lúc
0750 sáng các chiến đấu cơ nhào lộn và
ném 900 hộp đựng (canister) hơi cay
vào khu vực mục tiêu. Pearson hy vọng rằng hơi
cay này sẽ khiến bắc quân
ra khỏi hầm hố trước khi
B-52 ném bom. Ba mươi phút sau, B-52 có mặt bên trên mục tiêu
và thả bom -- 648 tấn bom sắt.
Ngay
sau oanh kích chấm dứt, lính Mỹ đổ quân
xuống. Kinh nghiệm cho thấy địch đã
nhanh chóng tập họp lại sau một oanh
kích và biến mất trước khi bụi khói
tan, do đó Emerson và Hackworth đã cho các đại đội tới khu vực này
ngay lập tức. Phản ứng
nhanh này cho kết quả tốt. Những người lính
CSBV mất hồn (stunned) vì sốc sau cơn
mưa bom. Một đại đội của
Emerson bắt sống 20 tên. Những kẻ khác
chống cự yếu ớt.
Dựa vào
quan sát của trực thăng và tra hỏi 22 tù
binh, bộ tham mưu của Pearson kết luận có ít
nhứt 200 tên bị giết và có
lẽ thêm 250 tên khác bị giết. Quân
Mỹ ko có ai thiệt hại trong
ngày này.
Cuộc ném
bom đã tàn phá trung đoàn 24 csbv. Từng năng nổ đánh với quân
Mỹ từ 6 - 12/6, nay họ bắt đầu né
tránh và HQ Hawthorne đã nhanh chóng trở thành HQ đánh giá thiệt hại
(mop-up) của địch. Hai TĐ của
Emerson và Hackworth đã lục soát khu vực mà họ đã làm
trước oanh kích. Các đv có nhiệm vụ án ngữ cũng
tham gia việc săn lùng này. Bốn TĐ đã lục soát
suốt một tuần nhưng
ko gặp gì hết. Vào ngày 20/6,
Pearson chấm dứt HQ và rút lữ đoàn về Dak To
1.
Tổng kết, lực lượng của
Pearson tiêu diệt 479 quân địch và không quân giết thêm
52. Con số quân địch chết được ước lượng cao
hơn. Phe bộ binh cho biết có thêm 506 địch chết và
không quân 209. Cộng lại là 1.246 tên địch.
Nếu đây
là sự thực thì trung đoàn 24 csbv
với quân số 2.000 đã thiệt hại
60/100 quân số, ko còn khả năng chiến đấu. Theo
sĩ quan tình báo của Pearson, trung đoàn 24 đã ko tham gia một hoạt động đáng
kể trong hầu hết năm kế là
1967. Thiệt hại của Mỹ là 48
chết và 239 bị thương - 25 của TĐ
1/327 của Hackworth và 16 của 2/502 của
Emerson.
Tướng
Pearson nghĩ rằng lực lượng đặc nhiệm của ông
chẳng những đã bẻ gẫy cuộc tấn công
của địch ở Tou
Morong nhưng cũng ngăn ngừa bắc quân
thực hiện các mục tiêu
khác ở tỉnh Kontum. Tướng
Westmoreland đồng ý. Ông gọi Hawthorn là "một cuộc tấn công
phá hỏng ý định của đối phương"
và là khuôn mẫu của một cuộc HQ
thành công./."
San
Jose ngày 20/8/2022, cập nhật ngày 25/3/2026.
Tài
Trần.
No comments:
Post a Comment