Tuesday, February 9, 2021

 CÔNG ƠN TRỜI BIỂN CỦA TC ĐỐI VỚI VC .

Tôi vừa nhận sách này - đặt mua trên Amazon . Mới xem một số trang , tôi nhận xét , trong các trận đánh trong chiến dịch biên giới khoảng đầu TN 1950 , cố vấn TC đã hướng dẫn lực lượng Việt Minh đánh Tây , nghĩa là nếu ko có vũ khí và kinh nghiệm của TC , đã ko các chiến thắng trên đường thuộc địa số 4 (RC 4) và chiến thắng Điện Biên Phủ sau này .
I/ Quân viện của TC cho VC , chỉ so sánh giữa năm 1964 với 65 .
- Súng nhỏ (gun) : tăng 2.8 lần , từ 80,500 lên 220,767 khẩu .
- Súng đại bác (piece of artillery) , (có lẽ kể cả cối 61 ly , 82 ly , 120 ly và súng không giật 57 và 75 ly -- Tài) : tăng khoảng 3 lần , từ 1.205 lên 4.439 khẩu .
- Đạn súng nhỏ (gun bullet) : tăng gần 5 lần , từ 25.2 triệu lên 114 triệu viên .
- Đạn đại bác (artillery shell) : tăng gần 6 lần , từ 335.000 đến 1.8 triệu viên .
Giữa năm 1966-67 , nguồn quân viện này giảm nhẹ so với năm 1965 trước khi đạt cao điểm vào 1968 . Từ 1969-70 , giảm mạnh khi Bắc Kinh rút lực lượng hỗ trợ khỏi miền Bắc VN . Nhưng tới năm 1972 lại có sự tăng gia quân viện cho bắc VN , hậu quả của quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh .
II/ Một chi tiết khác .
Năm 1967 , để giúp đỡ cho 1.890 quân chính quy CSBV tại Thượng Lào , ngoài súng đạn và quân dụng , TC đã giúp : 5.670 bộ quân phục (ba bộ mỗi năm cho một người) , 5670 đôi giày (3 đôi mỗi năm cho mỗi ng) , 567 tấn gạo (0.8 kí mỗi ngày cho mỗi ng) , 20.7 tấn muối , 55.2 tấn thịt (meat) , 20.7 tấn cá , 20.7 tấn mè và đậu phộng , 20.7 tấn đậu , 20.7 tấn mỡ , 6.9 tấn xì dầu , 20.7 tấn đường trắng , 8.000 bàn chải răng , 11.100 ống kem chải răng , 24.700 cục xà bông thường , 10.600 cục xà bông thơm , và 109.000 gói thuốc lá . Tổng cộng có 687 món khác nhau bao gồm banh bóng bàn , bóng chuyền (volley ball) , kèn harmonia , bộ bài tây , kim gút , mực viết máy (fountain pen ink) , kim máy may (sewing needle) , và hạt giống rau cải (vegetable seed) ; xem chú thích 28 .
III/ Dựa theo báo cáo về "cuộc sống khó khăn của lính CSVN" của các ký giả TC khi họ thăm các đv CS tại vùng núi của Nam VN vào năm 1965 , tháng 11/65 Mao ra lịnh "phải gửi mùng , quần áo , thịt hộp (canned food) , thịt xấy (dried meat) , thuốc , quần áo kỵ nước (có lẽ bằng ni-lông -- Tài) , võng , và các thứ khác với số lượng lớn " cho những đv này . Chu ân Lai nói rõ , các thứ này phải "dễ dùng , dễ mang và dễ giấu" . Ông yêu cầu các thùng quân trang quân dụng này ko nặng quá 30 kí vì các phụ nữ VN ko thể mang trọng lượng như vậy trên đầu hay vai" , xem chú thích số 30 .
Dịch từ : China & the Vietnam Wars , 1950-1975 của Qiang Zhai , nxb The University of North Carolina Press .


No comments:

Post a Comment