Saturday, May 23, 2026

TRẬN ĐÁNH ĐẦU TIÊN VÀO MỘT QUẬN LỴ TỪ KHI KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH PARIS 1973.

 

Ngày 5/12/1973: Bắc quân chiếm quận lỵ Kiến Đức tỉnh Quảng Đức và phá hoại kho xăng Nhà Bè.

Chuyển ngữ từ bài viết của James Markham, đặc phái viên của báo New York Times, viết tắt là NYT, và đăng ngày 5/12/1973.




"SÀI GÒN, Nam Việt Nam, thứ tư, ngày 5/12/1973--Các xe tăng và lính CSBV đã tấn công và chiếm một quận lỵ trong tỉnh Quảng Đức xa xôi và đầy núi non, lại một lần nữa phát động cuộc tấn công kéo dài cả tháng này nhằm kiểm soát một hệ thống đường xá quan trọng ở Cao nguyên Trung phần, phát ngôn viên của QLVNCH thông báo sáng nay.
Cuộc tấn công vào Kiến Đức, 120 dặm hay 193 km bắc-đông bắc của thủ đô Sài Gòn, là một cuộc tấn công trực diện ĐẦU TIÊN của CS vào một quận lỵ kể từ Hiệp Định Paris 1973 có hiệu lực vào tháng Giêng.
Sau khi chiếm Kiến Đức, quân CSBV đã sẵn sàng để di chuyển từ thành phố nhỏ bé chuyên về khai thác gỗ (logging) này, mà dân số khoảng 5.000 người để tiến tới Gia Nghĩa, một tỉnh lỵ bị cô lập của tỉnh Quảng Đức, ở cách đó 13 dặm hay 20,9 km về phía đông và nằm trên con đường đất ngoằn nghèo.
Phát ngôn viên nói rằng Kiến Đức đã mất lúc 6:30 sáng hôm qua khi quân csbv, hỗ trợ bởi khoảng 20 xe tăng, đã tấn công quận lỵ LẦN THỨ TƯ trong cùng ngày. Có nhiều báo cáo cho biết cận chiến ác liệt (bitter) đã xảy ra trên đường phố trước khi BCH trung đoàn và quân trú phòng rút lui về Gia Nghĩa.
Trung tá Lê Trung Hiền, người phát ngôn của QLVNCH, nói rằng trước đó Bắc quân đã bắn 300 đạn đại bác 105-ly vào Kiến Đức, hủy diệt đạn dược và vài đại bác. Các phản lực chiến đấu cơ, đã bay 58 phi xuất khắp tỉnh, đã bắn cháy hai xe tăng T-54 ở ngoại ô của Kiến Đức, trước đó đã bị tấn công từ hướng tây và nam.
Ông nói thêm sđ 9 CSBV, từng tràn ngập hai tiền đồn trên QL14 trong trận đánh ngày 4/11, đã tấn công khắp tỉnh. Tin cho biết năm xe tăng của địch đã bị bắn cháy ở các nơi khác trong tỉnh.
Ông cho biết tại Quảng Đức, Bắc quân có 75 chết; nhưng ko nói rõ số tổng số thiệt hại của quân chính phủ tại Quảng Đức dù có 4 người chết và 18 bị thương trong một cuộc đụng độ.
Ông nói bộ binh csbv, hỗ trợ bởi xe tăng, đã tấn công vài vị trí của quân chính phủ (CP) ở nam Bu Prang và Bu Bong và phía tây của ngã ba Dak Son.
(Nói thêm: Bu Prang là một trại LLĐB nằm ở phía tây của QL14; và Bu Bong là một đồn ĐPQ với quân số một đại đội ở phía đông nam của Bu Prang và cách xa QL14 vài km. Hai nơi này bị tấn công ngày 4/11.
Dak Song là một ngã ba trên QL14, có hai ngã: một ngã theo QL14 chạy về tây nam tới Tuy Đức, ngã thứ hai chạy về đông nam, còn gọi là liên tỉnh lộ 8B (LTL-8B), chạy qua Đạo Trung, Nghi Xuân-những làng Công giáo mà TT Diệm đã đưa dân di cư 1954 lên đây để khẩn hoang lập ấp. LTL này chạy tới tỉnh lỵ Gia Nghĩa và tiếp tục tới Di Linh, dù đoạn này chỉ xử dụng một phần do mất an ninh sau khi TT Diệm bị lật đổ. (Tháng 3 năm 75, đoàn quân dân di tản từ Quảng Đức đã dựa một phần đoạn đường này để từ Gia Nghĩa đi Di Linh). Từ Di Linh, LTL 8B chạy tới Phan Thiết. Theo bản đồ của Hội Địa Lý Quốc Gia Mỹ in tháng 2 năm 1967 thì đoạn đường này tốt, ko bị gián đoạn. Tuy nhiên vào đầu TN 1990, lúc làm thông dịch cho người Pháp, chúng tôi đã dùng đường này để thăm một làng Chàm ở bắc Phan Thiết, đường rất xấu, tài xế phải thường xuyên nhảy ra khỏi xe để thẩy những khúc gỗ lót đường cho xe chạy. -- Người dịch).
Phát ngôn viên Lê Trung Hiền cho biết trận chiến đã tiếp tục lan rộng khắp tỉnh và không quân VNCH đã thực hiện nhiều phi vụ nhằm yểm trợ những đơn vị bộ binh bị bao vây (beleaguered). Theo tin tình báo, cuộc tiến công của CS tại tỉnh thưa thớt dân cư này bắt nguồn từ một kế hoạch nhằm nối liền một con đường mới xây dựng (xuất phát từ phía bắc của Nam Việt Nam, chạy ngoằn nghoèo dọc theo biên giới Lào và Cam-bốt) với QL-14 ở Quảng Đức.
"Đường xá đồng nghĩa với lãnh thổ,"một nhà quan sát quân sự thạo tin, đã nói rằng việc kiểm soát QL14 ở Quảng Đức sẽ cho phép CS mở rộng vùng kiểm soát của họ về phía nam xuyên qua những lãnh thổ bao gồm các thành phố bị cô lập như Phước Bình và An Lộc. Nói thêm: Dù tỉnh lỵ An Lộc của tỉnh Bình Long ko bị mất trong năm 1972 nhưng phần phía bắc của tỉnh lỵ đã nằm tay CS như quận lỵ Lộc Ninh. Riêng tỉnh lỵ Phước Bình của tỉnh Phước Long, dù do VNCH kiểm soát tới tháng giêng 1975, nhưng việc di chuyển và tiếp tế bằng đường bộ rất khó khăn vì dễ bị phục kích. Tới cuối năm 1974, sau khi Đồng Xoài bị mất, tỉnh lỵ bị đe dọa và mất luôn.-- Người dịch.
Phát ngôn viên cho biết ba tiểu đoàn BĐQ, ba TĐ ĐPQ và một trung đoàn của sđ 23 bộ binh VNCH--khoảng 5.000 người--đã cố gắng bẻ gẫy kế hoạch kiểm soát QL14 của đối phương.
Trận chiến ác liệt tại Quảng Đức chỉ xảy ra một ngày sau khi CS tấn công kho xăng dầu ở Nhà Bè, kế phía nam Sài Gòn. Đây là cuộc tấn công gây nhiều tiếng vang kể từ HĐ Paris 1973 khi đã phá hủy khoảng 18 triệu ga-lông (1 ga-lông = 3.78 lít) các sản phẩm từ dầu hỏa. Cuộc tấn công bằng rốc-két này, theo một số nguồn tin, được thực hiện bởi đặc công, đã gây tác hại lớn lao cho nền kinh tế VNCH vì chiếm 45/100 khối lượng dầu hỏa dành cho dân sự của cả nước.
CP đã lập tức ban bố một loạt biện pháp nhằm duy trì năng lượng.
Phái đoàn VC đặt tại sân bay TSN, lúc đầu đã chối bỏ (disclaim) trách nhiệm trong vụ tấn công kho xăng Nhà Bè, hôm nay đã ra thông báo rằng "dựa vào thông tin mới nhận", lực lượng của họ đã làm nổ kho xăng này.
Mỹ giúp VNCH bù đắp tổn thất.
Washington, ngày 4/12/1973 (UPI) -- Dù nước Mỹ đang khan hiếm nhiên liệu, Ngũ Giác Đài hôm nay đã nói sẽ thay thế số dầu hỏa đã bị phá hủy trong cuộc tấn công bằng rốc-két hôm qua. 18 triệu ga-lông bị phá hủy này--dù bằng 45/100 dự trữ dầu hỏa dành cho dân sự của VNCH--nhưng chỉ bằng mức dự trữ hiện nay (năm 1973) ở Mỹ trong 35-phút."
Nói thêm: một thùng (barrel) = 42 ga-lông (gallon). Theo thông tin ở: https://www.energy.gov/.../fact-894-october-12-2015-us...
mức sản xuất các sản phẩm dầu hỏa mỗi ngày ở Mỹ năm 1973 là 17.03 triệu thùng hay 715.26 triệu ga-lông.
Do đó số dầu bị phá hủy ở VN lúc đó chỉ bằng: 18/715.26 = gần khoảng 1/40 số dầu hỏa tiêu thụ một ngày tại Mỹ năm 1973. Vì một ngày có 24 x 60 = 1.440 thì con số này chia cho 40 sẽ là: 36 PHÚT. -- Người dịch.
===========================================
Thời gian để dịch bài này khoảng 2g 40 phút, dựa theo Stopwatch của iPhone.
SJ ngày 23/5/2023.


Tuesday, May 19, 2026

 

Về một đại đội cũ

Trần Hoài Thư

Kính dâng huơng hồn anh Hồ văn Hoà

Trong đêm xứ người, nói gì về những người muôn năm cũ. Hai đứa chúng tôi như rưng rưng để nhớ về những đồng đội cũ của mình. Tôi hỏi anh Hòa về những gì anh biết về đại đội 405 thám kích. Bộ quân sử không nói về 405. (Nếu có, chỉ ba giòng trong trận đánh năm Mậu Thân). Quân đội miền Nam cũng chẳng bao giờ nhắc đến một 405.

Nó vô danh. Nó đánh giặc không phi pháo dọn đường, không được yểm trợ tối đa như những lực lượng tổng trừ bị. Nó là những tổ 3 người, những toán 4 người, mang trên vai những ba lô với mười mấy ngày lương khô xâm nhập trong lòng mật khu. Thế giới của nó là những cánh rừng thâm u, những ngôi làng sâu trong rừng, những con đường mòn xâm nhập của địch. Nó không cần ai biết. Nó buồn như thế đó. Lạc loài như thế đó. Nó lầm lì như thế đó. Nhưng tại sao, anh và tôi lại phải giữ gìn như giữ gìn những gì trân quí nhất ?

Viên cựu đại đội trưởng 405 TK nhắc lại một Y Đao như một con sóc rừng. “… Y nhanh lẹ không thể tưởng. Người y, khi mang ba lô 17 ngày lương thực, không thấy người, chỉ thấy cái ba lô. Còn hạ sĩ Nùng Lương văn Tướng, ông ta nói tiếng Việt vẫn còn lắp bắp, mặt lúc nào cũng lầm lì.

Ông ta còn có biệt danh là ông Tướng giải phóng. Tại sao là giải phóng, Thư biết không?.” “Thưa đại bàng, tôi không được biết”. Tôi trả lời. “Số là hôm ấy, toán ông bị phát giác. Lính Bắc hỏi : Ai đấy ? Ông Tướng lính quýnh trả lời: Biệt kích Giải phóng. Trời ơi, VC làm gì có biệt kích. Còn trung sĩ Tám, trung sĩ Khoái, trung sĩ Đặng, hạ sĩ Dự, hạ sĩ Lực, còn chuẩn úy Bùi Toàn Hảo, chuẩn úy Âu Hoàng Minh, chuẩn úy Phan Thái Gia, chuẩn úy Nguyễn Thái Lâm …”
Anh kể như thuộc lòng. Đó là điều hiếm hoi cho một người đã trải qua rất nhiều đơn vị. Nó chứng tỏ đại đội 405 là một dấu ấn đậm sâu vào tâm trí của một người lính cũ. Nó chứng tỏ, anh đã có một nơi để tự hào trong đời binh nghiệp của anh.

Rồi anh Hòa nhắc lại hạ sĩ Y Brep và hạ sĩ Ba. VC trồi lên đánh cận chiến. Thằng Y Brep quạt Thompson bảo vệ anh, thằng Ba xô anh xuống hố. Và kết quả, Hạ sĩ Ba chết, và Y Brep bị mù một con mắt.

Tôi lắng nghe tiếng anh nghẹn lại. Vâng, tôi cũng vậy. Anh nói rằng, những người lính 405 anh hùng quá, dũng cảm quá, anh chưa bao giờ thấy đơn vị nào mà tất cả đều cùng một lượt xung phong lên đồi cỏ tranh, đứng thẳng mà tiến lên. Anh chưa bao giờ thấy một đại đội lại đánh tan tành một tiểu đoàn… Vâng, anh kể lại thời của anh từ 1963 đến 1964, và tôi kể lại thời của tôi từ 1967 đến 1971. Anh làm tôi nhớ lại hạ sĩ Đông mang máy truyền tin. Đông cũng cõng tôi mà chạy dưới bao lằn đạn. Và ông Y Suk đã cứu tôi thế nào trên đỉnh Kỳ Sơn.

Tôi cũng muốn nói về cái uy danh của đơn vị, khiến lúc đơn vị bị vây khỗn, ngỡ chừng như tuyệt vọng, nhưng địch vẫn không dám ùa ra cận chiến…

Đêm nay, quê người, và hơn 30 năm xa cách cho hai cánh diều hâu bỏ đàn bỏ tổ. Những giọt lệ bỗng nhiên lại thêm một lần chảy lạnh cả tâm hồn. Người sống nhớ về người đã chết. Người may mắn nhớ về người không may mắn. Nguồn cội từ một mái nhà được phanh ra, để cùng nhau tự hào và cũng để cùng nhau mà khóc thầm. Những con người, không bao giờ nhìn lên, mà chỉ nhìn xuống, cam phận. Có ai còn nghĩ đến họ. Nghĩ đến một người như hạ sĩ Ba chịu hứng đạn thù để cứu một đại đội trưởng , để anh còn sống, để anh được cơ hội nhận hai lần thăng cấp tại mặt trận chỉ trong vòng hai tháng từ một ông tướng khó nhất là tướng Đỗ Cao Trí.

“Thư à, lon mình không phải do tướng Đỗ cao Trí gắn mà là do hạ sĩ Y Brep, hạ sĩ Ba gắn…”

Cám ơn anh Hoà đã nhắc lại thời kỳ đầu tiên của một đại đội. Khi tôi hỏi anh một câu mà tôi nghĩ là quá thừa: Anh nghĩ thế nào về đại đội mình. Bên đầu dây xa, giọng anh ấy trở nên phấn khích: Đó là một đơn vị chỉ biết chiến thắng. Anh kể lại những địa danh rừng núi. Những mật khu, đặc khu. Những đồi tranh, và những trận đánh ác liệt. Anh lại kể lần tướng Đỗ Cao Trí, tướng Linh Quang Viên, đáp xuống ngọn đồi mà đại đội vừa chiếm lại giữa ầm ầm tiếng pháo, và la liệt xác phe bên kia. Tôi cũng kể lại những nồi cơm mà Bắc quân bỏ chạy còn nấu lỡ dở, trong những đêm chúng tôi đột kích mật khu ở Bình Định. Tôi nói suốt hơn bốn năm, đại dội không cho phép bất cứ một trái pháo nào lọt vào Bộ Tư Lệnh. Vì sao? Vì địch là ma, ta cũng là ma. Chúng tôi cùng nhau cười ha hả. Anh lại nhắc đến công trạng của thiếu úy Đặng đức Thành, người khai sinh ra đơn vị Biệt kích Sư đoàn, tiền thân của đại đội 405 thám kích. Anh còn nói nhiều nữa. Chính cái cái khăn quàng đen mà tiểu đoàn 35 Biệt Động Quân mang là biểu tượng truyền thống của đại đội 405 Thám kích sư đoàn 22 BB:

“Thư à, mình phải kể cho Thư nghe, ngày về nhận tiểu đoàn 35 BĐQ, mình đã mang theo chiếc khăn quàng cổ của đại đội cho đơn vị mới.”

oOo

Từ 405, anh Hòa đã mang chiếc khăn quàng cổ màu đen về 35 BĐQ. Từ 405, tôi cũng đã mang 9 tác phẩm văn học đến cùng độc giả. Con số quá đủ cho một tấm lòng đối với bạn bè đồng đội của mình. Tôi hẹn với lòng, sau Mặc Niệm Chiến tranh là bỏ viết. Tôi đã gởi gấm những gì mà tôi cần gởi gấm. Nhưng bây giờ, tôi lại ngồi trước máy. Những lời của anh Hòa chẳng khác cơn bão xoáy lốc vào tâm não. Một đằng, tôi cảm thấy mình thật hãnh diện, bởi vì tôi đã có mặt tại một đơn vị đã từng tạo nên một thành tích kỷ lục có một không hai trong QLVNCH. Khó có một ai trong bất cứ đơn vị nào được tướng Đỗ cao Trí thăng cấp hai lần trong vòng hai tháng ngay tại mặt trận. Có người gọi tôi là điên khùng. Có kẻ cho tôi là ái quốc lãng mạng. Vâng, quả tôi điên khùng thật. Nhưng bây giờ tôi phải cám ơn về cái điên khùng này. Nhờ nó tôi mới hiểu cái tàn bạo của con người, của chiến tranh, của hận thù, và những tay chỉ biết xúi tuổi trẻ ra chiến trường để chết thế, và nhất là một khi tuổi trẻ muốn bày tỏ những ước mơ chân thật của mình thì bị gán cho những danh từ như phản chiến, hèn nhát, trong khi chính những kẻ ấy là co rúm hơn ai hết. Chính nhờ nó, tôi mới hiểu cái câm nín chịu đựng của những người lính bộ binh trong một thời chỉ con ông cháu cha mới được sống. Chính nhờ nó tôi mới cảm nhận được thế nào là tình đồng đội cũng như nỗi kiêu hãnh của những người lính tác chiến.

oOo

Phải. Không tự kiêu sao được khi đám lính khăn choàng đen huy hiệu diều hâu vồ mồi đã làm địch Bình Định kinh hồn bạt vía. Chúng tôi đã áp dụng tối đa chiến thuật dạ kích. Anh bạn, tôi xin nhắc lại, nếu địch là ma, thì ta cũng là ma, tại sao mấy ngài chỉ huy cao cấp chỉ biết cái chiến thuật nhà giàu, ngày đánh, đêm về phố nhảy đầm hay ngủ với vợ. Tại sao các ngài không thành lập những đội quân chuyên đánh đêm, hay đổi lại chiến thuật đánh ngày sang đánh đêm. Địch lợi dụng bóng tối tại sao ta lại không lợi dụng bóng tối để đột kích mật khu, phá nát hậu cần, gây cảm giác lo âu kinh sợ cho đối phương, bắt đối phương lúc nào cũng hoang mang giao động ? Tại sao cứ chơi trò đóng đồn phòng thủ, chờ chuông báo tử.

Chuông báo tử. Những hồi chuông đã kéo hối hả khắp cả miền Nam, và bóng u minh đã òa chụp xuống từng người, từng thân phận. Không phải vì ta hèn. Chưa có một đội quân nào trên thế giới này, thua trận, nhưng lại tự hào cùng hàng ngũ, cùng màu cờ sắc áo như quân đội miền Nam này. Không phải một ngày, một tháng, mà cả đời. Chỉ có những kẻ trong cuộc mới hiểu và thấm thía được nỗi tự hào. Và đó là lý do cắt nghĩa tại sao tôi lại phải viết hoài, viết không mệt về màu áo cũ của mình.

oOo

Viết về một đơn vị, để mà tự hào, nhưng riêng tôi lúc này còn để hối hận. Bởi vì, ngòi viết của tôi chưa bao giờ có một nhân vật như Y Brep trên trang giấy. Và tôi cũng chưa bao giờ mời ông Tướng giải phóng, trung đội phó của tôi một cốc rượu, một lon bia. Ông ta anh hùng như thế, dẫn toán vào mật khu, hù lính Bắc quân, thế mà mỗi ngày vẫn chào tay tôi, trình diện tôi, giúp đỡ tôi, nâng bước chân tôi lên trên những bãi chiến trường sôi bỏng. Thế mà tôi không có cả một lời. Và dù có viết, thì đám kiểm duyệt ở Sài Gòn lại bôi đen chữ Tướng viện dẫn tôi chơi xỏ một ông tướng nào đó. Vâng, tôi đã vô tình quên họ, những người lính của trung đội tôi như Y Đao, Nay Lat,Y Suk, như Nha, Vọng, Tròn, Hường, Nai, Lợi, Ký, Mễ, Ưng Luông. Tôi chỉ bận tâm đến bản thân tôi. Tôi chỉ tìm mọi cơ hội để được thăng quan tiến chức, hay để được thoát khỏi địa ngục trong lúc họ vẫn tiếp tục cùng chiếc poncho, hay lon cơm gạo sấy, coi đơn vị là mái nhà vĩnh viễn của mình mà không một lời ta thán.

Trần Hoài Thư
(Viết dưới trời khói lửa)

Nguồn : https://thambao.wordpress.com/2012/03/09/v%E1%BB%81-m%E1%BB%99t-d%E1%BA%A1i-d%E1%BB%99i-cu/

 Trần Hoài Thư - Màu khăn quàng cổ của một đơn vị cũ (viết lại)

March 12, 2012
Trong bài viết đăng trên nguyệt san KBC , nhan đề:
Tiểu Đoàn 35 BĐQ Chiến thắng tại mặt trận Chợ Lớn trong đợt 2 Mậu Thân 1968 của Văn Lang, tác giả nói về viên tiểu đoàn trưởng Hồ văn Hòa như sau:
“Đó là con mãnh hổ đầu đàn của TĐ 35 BĐQ, người Tiểu Đoàn Trưởng trẻ nhất của QLVNCH khi về nhận TĐ 35 BĐQ trước đó hai năm thì tuổi đời mới chỉ 25 mà thôi. Tiểu Đoàn Cọp Đen 35 BĐQ là đơn vị duy nhất của binh chủng Mũ Nâu dùng khăn quàng cổ màu đen, một màu vừa mang ý nghĩa đem đến tóc tang cho Việt cộng, cũng vừa là để tưởng nhớ Đại úy Trinh, Trưởng phòng 2 Sư Đoàn 22 BB đã tử trận năm 1962, là người thành lập đơn vị Biệt kích mà Thiếu tá Hòa từng là Chỉ huy trưởng đơn vị này tại Tây Nguyên…”
Là người trong cuộc, chúng tôi (THT) xin được bổ túc cũng như nói rõ thêm về vị sĩ quan tiểu đoàn trưởng trẻ nhất này.
– Thứ nhất, nếu nói thiếu tá Hòa mang màu chiếc khăn quàng của đơn vị cũ đến đơn vị mới là tiểu đoàn 35 BĐQ thì phải nói là hai màu đen và đỏ. Vì đơn vị cũ của ông là đại đội 405 thám kích Sư đoàn 22 BB, (mà kẻ viết bài này từng choàng quanh cổ suốt gần 4 năm) mà ông từng là đại đội trưởng nhiều năm.
– Đại úy Thành chớ không phải đại úy Trinh. Ông là người đã có công rất lớn trong việc thành lập đơn vị biệt kích đầu tiên của sư đoàn để ứng phó với chiến trường miền núi..
– Ngoài thành tích là một tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của QLVNCH, Thiếu tá Hòa còn là một sĩ quan được thăng cấp nhanh nhất của QLVNCH . Chỉ trong vòng hai tháng, ông được lên HAI cấp . Cả hai lần đều xảy ra trong thời gian ông làm đại đội trưởng 405 TK, cả hai lần được gắn từ mặt trận bởi một vị tướng có tiếng là khó nhất là tường Đổ Cao Trí.
Viết thêm: Tôi xin post lại bìa sách của tác phẩm Đại Đội Cũ Trang Sách Cũ của tôi do tôi tự trình bày với màu đen màu đỏ. Có người chê tôi trình bày kém, không nghệ thuật chút nào. Phải có tranh hình của một họa sĩ nổi tiếng. Chứ nhìn vào thấy một màu máu dưới màu đen ghê rợn như lòng địa phủ. Nhưng xin hãy thông cảm cho tôi. Nếu thiếu tá Hòa đã mang vào đời binh nghiệp của ông cái màu khăn quàng , thì tôi cũng mang nó vào cuộc đời văn chương chữ nghĩa của tôi. Đó là lý do tại sao tôi cứ viết hòai viết mãi về người lính thám kích bạn tôi trên Blog này như qua bài thơ "Cho những người bạn thám kích của tôi" của Charles SchwiderskTrần Hoài Thư - Màu khăn quàng cổ của một đơn vị cũ (viết lại)
March 12, 2012
Trong bài viết đăng trên nguyệt san KBC , nhan đề:
Tiểu Đoàn 35 BĐQ Chiến thắng tại mặt trận Chợ Lớn trong đợt 2 Mậu Thân 1968 của Văn Lang, tác giả nói về viên tiểu đoàn trưởng Hồ văn Hòa như sau:
“Đó là con mãnh hổ đầu đàn của TĐ 35 BĐQ, người Tiểu Đoàn Trưởng trẻ nhất của QLVNCH khi về nhận TĐ 35 BĐQ trước đó hai năm thì tuổi đời mới chỉ 25 mà thôi. Tiểu Đoàn Cọp Đen 35 BĐQ là đơn vị duy nhất của binh chủng Mũ Nâu dùng khăn quàng cổ màu đen, một màu vừa mang ý nghĩa đem đến tóc tang cho Việt cộng, cũng vừa là để tưởng nhớ Đại úy Trinh, Trưởng phòng 2 Sư Đoàn 22 BB đã tử trận năm 1962, là người thành lập đơn vị Biệt kích mà Thiếu tá Hòa từng là Chỉ huy trưởng đơn vị này tại Tây Nguyên…”
Là người trong cuộc, chúng tôi (THT) xin được bổ túc cũng như nói rõ thêm về vị sĩ quan tiểu đoàn trưởng trẻ nhất này.
– Thứ nhất, nếu nói thiếu tá Hòa mang màu chiếc khăn quàng của đơn vị cũ đến đơn vị mới là tiểu đoàn 35 BĐQ thì phải nói là hai màu đen và đỏ. Vì đơn vị cũ của ông là đại đội 405 thám kích Sư đoàn 22 BB, (mà kẻ viết bài này từng choàng quanh cổ suốt gần 4 năm) mà ông từng là đại đội trưởng nhiều năm.
– Đại úy Thành chớ không phải đại úy Trinh. Ông là người đã có công rất lớn trong việc thành lập đơn vị biệt kích đầu tiên của sư đoàn để ứng phó với chiến trường miền núi..
– Ngoài thành tích là một tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của QLVNCH, Thiếu tá Hòa còn là một sĩ quan được thăng cấp nhanh nhất của QLVNCH . Chỉ trong vòng hai tháng, ông được lên HAI cấp . Cả hai lần đều xảy ra trong thời gian ông làm đại đội trưởng 405 TK, cả hai lần được gắn từ mặt trận bởi một vị tướng có tiếng là khó nhất là tường Đổ Cao Trí.
Viết thêm: Tôi xin post lại bìa sách của tác phẩm Đại Đội Cũ Trang Sách Cũ của tôi do tôi tự trình bày với màu đen màu đỏ. Có người chê tôi trình bày kém, không nghệ thuật chút nào. Phải có tranh hình của một họa sĩ nổi tiếng. Chứ nhìn vào thấy một màu máu dưới màu đen ghê rợn như lòng địa phủ. Nhưng xin hãy thông cảm cho tôi. Nếu thiếu tá Hòa đã mang vào đời binh nghiệp của ông cái màu khăn quàng , thì tôi cũng mang nó vào cuộc đời văn chương chữ nghĩa của tôi. Đó là lý do tại sao tôi cứ viết hòai viết mãi về người lính thám kích bạn tôi trên Blog này như qua bài thơ "Cho những người bạn thám kích của tôi" của Charles Schwiderski :
Tôi xây trong tim tôi
ngôi nhà cho những người bạn thám kích
Mỗi người một căn phòng cố định
Dù tất cả cửa sổ
Đều phủ màn đen
Và chủ phòng không bao giờ trở lại
(mời đọc Viết về một đại đội cũ )
Trần Hoài Thư , đại đội trưởng 405 thám kích của SĐ 22 VNCH . (Trung tá Nguyễn văn Dưỡng đã thành lập nhiều đại đội TK cho sđ 22) .i :
Tôi xây trong tim tôi
ngôi nhà cho những người bạn thám kích
Mỗi người một căn phòng cố định
Dù tất cả cửa sổ
Đều phủ màn đen
Và chủ phòng không bao giờ trở lại
(mời đọc Viết về một đại đội cũ )
Trần Hoài Thư , đại đội trưởng 405 thám kích của SĐ 22 VNCH . (Trung tá Nguyễn văn Dưỡng đã thành lập nhiều đại đội TK cho sđ 22) .

Monday, May 18, 2026

Sunday, May 17, 2026

 

TỪ SÔNG BÉ 1965 ĐẾN PHƯỚC LONG 1975

Tác giả: Trần Lý
(Phước Long đã được ghi trong lịch sử Việt Nam như khởi đầu cho sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hoà, rất nhiều bài báo, sách vở đã được viết về Trận Phước Long 1975 từ những bài của các tác giả Việt Nam Cộng Hoà đến các bài “quân sử” của cộng sản bắc Việt.. Bài này chỉ xin ghi nhận một số chi tiết tại Phước Long trước tháng 12/1975)
● Vài chi tiết về Phước Long: Tỉnh Phước Long phía Bắc giáp Kampuchea, phía Đông giáp hai Tỉnh Quảng Đức và Lâm Đồng, phía Nam giáp Tỉnh Phước Thành, phía Tây giáp Tỉnh Bình Long, Phước Long chiếm diện tích 7.490 cây số vuông. Tỉnh lỵ đặt tại Phước Bình còn gọi là Sông Bé.
Các thay đổi hành chánh:
- 1958: Khu vực Bù Gia Mập thành Quận Phước Hoà, nhưng sau đó bị hủy bỏ. Khu vực Bù Đăng thành Phước Tân và sau đó đổi thành Đức Phong
- 1961: khu vực Đồng Xoài thành Quận Đôn Luân. Tóm lại cho đến 4/75 Phước Long có 4 Quận: Bố Đức, Phước Bình, Đức Phong và Đôn Luân ​(theo Đông Tiến trong Nước Tôi, Dân Tôi trang 507).
● Sông Bé: Địa danh Sông Bé trong chiến sử Việt-Mỹ thường được hiểu (theo Lực Lượng Đặc Biệt) thì là: Doanh trại Lực Lượng Đặc Biệt của Specia lForce (5thSF) thành lập vào tháng 4 năm 1965. Trại (hay chính xác là Cơ sở hành chánh) được bảo vệ riêng trong vòng rào phòng thủ, nằm cách Tỉnh lỵ Phước Bình khoảng 2 km về phía Tây-Nam. Tên “Song Be Base camp” còn được gọi là Song Be Airfield, Farley Field hay LZ Buttons (FSB Buttons)
Phi trường Sông Bé có phi đạo dài 1036 m, lót vỉ sắt, các C-130 có thể đáp được. Trại này sau đó phát triển rộng trở thành Căn Cứ đóng quân tạm của nhiều đơn vị Hoa Kỳ và khi Hoa Kỳ rút quân, Căn Cứ được giao lại cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
- Tháng 4/1966: Lữ Đoàn 173 Dù Hoa Kỳ trú đóng tại đây trong cuộc hành quân Denver.
- Tháng 12/1966 đến tháng 2/1967: Lữ Đoàn Bộ Binh 199th (Light Infantry) - Tháng 5, 6/1969: nơi đóng quân của Lữ Đoàn 1 / Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ - Tháng 4/1970 Lữ Đoàn 2 / Sư Đoàn 1 Không Kỵ trú đóng đến tháng 3/1971. Trận Sông Bé (Tháng 5/1965). Cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 1963 và sau đó là các cuộc chỉnh lý tranh giành quyền lực của các phe phái trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà và các đảng phái chính trị đã làm suy yếu khả năng chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Cộng sản bắc Việt nhân cơ hội đã tập trung quân địa phương và đưa quân từ miền Bắc xâm nhập trang bị các võ khí mới của khối Cộng, sửa soạn cho một chiến dịch tấn công vào Phước Long…
Ngày 16 tháng 4 năm 1965, toán B-34 của Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ được gửi đến Phước Long, để giúp lực lượng Việt Nam Cộng Hoà, tại đây đang có một toán cố vấn quân sự của MAC-V ngụ tại Toà hành chánh Tỉnh. Toán B-34 bắt đầu xây dựng một doanh trại hay căn cứ tiền đồn tại một ngọn đồi gần đó… Căn cứ này có thêm 120 địa phương quân Việt Nam và vài xe bọc thép cũ (thiết giáp Mã lai) bảo vệ. (Gọi là “doanh trại” vì đây không phải là một Căn Cứ Biên Phòng tiêu chuẩn, nơi đóng quân của các Dân Sự Chiến Đấu, quân số 3 đến 400 người, do một toán A Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, cùng một toán Lực Lượng Đặc Biệt Việt giữ nhiệm vụ Chỉ Huy Căn Cứ).
Lúc 1 giờ 45 sáng ngày 10 tháng 5, hai Trung Đoàn 761 và 763 cộng sản bắc Việt, gồm trên 2500 quân đã mở cuộc tấn công vào Thị xã từ nhiều hướng, bắt đầu bằng tiền pháo (súng cối) và sau đó… hậu xung… Quân sử của 5th SF ghi lại về trận này như sau:
“… trong khi Toán B-34 được xếp để ở chung toà nhà đủ tiện nghi với Toán 94 Cố vấn MAC-V, địa điểm này chỉ được phòng ngự sơ sài… Các quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt thuộc Toán B-34 di chuyển ra đóng ngoài tiền đồn, Thiếu Tá Mitchell Sakey theo linh tính đã đặt thêm nhiều vị trí súng máy và súng cối quanh tiền đồn… Công cuộc chuẩn bị đang tiến hành thì cộng quân đã tấn công và họ cũng không ngờ SF lại bố trí hoả lực thật mạnh tại đây! Cộng quân pháo kích cả vào khu vực hành chánh của Tỉnh lẫn doanh trại của B-34. Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân đang trú đóng tại Tỉnh, bị cộng quân đẩy dạt sang một phía và chúng tiến thẳng vào nơi cư trú của các quân nhân Mỹ: tại đây có 22 quân SF và 14 người Mỹ khác chia nhau trú tại 2 toà nhà…
Pháo cộng quân phá hủy các toà nhà ngay trong đợt pháo kích đầu… Chỉ huy toán B-34, Trung Tá Alton Parks bị thương… Thiếu Tá Sakey thay quyền chỉ huy chống trả… Các quân nhân SF kháng cự trong bóng đêm… cộng quân bị chặn tại vòng ngoài hàng rào gốc phía Tây-Nam, chúng dùng bộc phá, phá một khu vực rào giữa Trại và đặc công tiến vào dùng lựu đạn tấn công các giao thông hào… Các quân nhân Hoa Kỳ chống trả quyết liệt kể cả cận chiến bằng dao, lưỡi lê. Các quân nhân của MAC-V và của Đại Đội 120th không vận Army cũng giúp chống đỡ.
Các trực thăng võ trang đã đến yểm trợ chỉ 2 giờ sau khi cộng quân tấn công, nhưng trần mây thấp và khói súng che khuất tầm quan sát của trực thăng… Các trực thăng phóng rocket và bắn phá khu vực phía Tây Tỉnh lỵ giúp khoá các ổ súng cối của cộng quân. Thiếu Tá Sakey điều khiển các đợt không kích và loại dần các ổ súng máy của cộng quân… Trực thăng tải thương đã đáp được xuống lúc 8 giờ sáng và 16 thương binh được di tản. Cuộc chống trả quyết liệt của các quân nhân SF đã ngăn cộng quân tràn ngập khu hành chánh Tỉnh, cộng quân chỉ ở trong khu vực đến trưa… Ngay từ sáng Tiểu Đoàn 36 Biệt Động Quân đã phản công giải toả khu vực Chợ và Nhà thờ Tỉnh lỵ, nhưng Đại Úy Nghĩa (?) Tiểu Đoàn Trưởng đã hy sinh… Các cuộc không kích tiếp tục và Tiểu Đoàn 34 Biệt Động Quân tăng viện đã đến và tái chiếm toàn Tỉnh lỵ…”
Tổn thất:
Tử thương: 5 quân nhân Mỹ; 49 binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà. Cộng quân bỏ lại 85 xác.
● Các đụng độ tại Sông Bé sau 1965:
- 29 tháng 9 năm ​1967: Quân Đội Mỹ mở cuộc hành quân Shenandoah II sử dụng 2 Lữ Đoàn Bộ Binh khai thông Quốc lộ 13, cuộc hành quân sau đó mở rộng sang địa phận Bình Long và Phước Long khi tìm được các bằng chứng Sư Đoàn 9 cộng quân đang sửa soạn tấnc ông Thị xã Sông Bé – 27 tháng 10 năm ​1967 Trung ương Cục Miền Nam (cộng sản Việt Nam) đã mở các đợt tấn công nhằm vào khu vực Bình Long - Phước Long. Tấn công vào một căn cứ do một Tiểu Đoàn Bộ Binh / Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam trấn đóng tại Đông-Nam Sông Bé. Khoảng 200 quân Việt Nam Cộng Hoà trấn giữ tại đây. Cộng quân bị đẩy lui nhờ sự yểm trợ oanh kích của Không Quân Hoa Kỳ. Cộng quân bỏ lại 134 xác và 2 cán binh bị thương, bị bắt. Quân Việt Nam Cộng Hoà tịch thu được 73 súng cá nhân, 10 súng cộng đồng và 3 súng phun lửa. Việt Nam Cộng Hoà có 12 tử trận.
Những ngày sau Việt Nam Cộng Hoà đưa 1 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân và Hoa Kỳ đưa Tiểu Đoàn 1/18 thuộc Sư Đoàn 1 Hoa Kỳ vào tảo thanh khu vực nhưng cộng quân đã chuyển về hướng Bố Đức nhưng cũng bị đánh tan… Các đơn vị nhỏ của cộng quân tiếp tục các hoạt động quấy rối… và tấn công vào Lộc Ninh…​ (Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ - 1954-75 Tập V - Thiếu Tá Nguyễn văn Vinh) – Ngày 6 tháng 11-​ năm 1967: ​các đơn vị của Trung Đoàn 275 cộng sản bắc Việt đã phục kích 1 Đại Đội Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đang hoạt động tại Nam Sông Bé. Quân tiếp viện Việt Nam Cộng Hoà được gửi đến và cộng quân áp sát quân Việt Nam Cộng Hoà, nên Không Quân và Pháo binh không thể oanh kích yểm trợ. Kết quả cộng quân bỏ lại 265 xác; bên Việt Nam Cộng Hoà có 54 tử trận, 55 bị thương và 15 mất tích​ (Periodic Intel Report No 45/IIFPV).​
Tướng Weygand nghi ngờ cộng quân có thể mở các cuộc tấn công quy mô hơn nên đưa 2 Tiểu Đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 25 Bộ Binh Mỹ vào tảo thanh các khu vực quanh Thị xã Sông Bé… Sau hai tuần hoạt động các Tiểu Đoàn này về lại đơn vị, nhưng ngay sau đó, thám kích đã tìm ra dấu vết của Trung Đoàn 271 cộng sản bắc Việt vừa di chuyển vào khu vực và cộng quân tập trung quanh Bù Gia Mập một Ấp bỏ hoang cách Sông Bé 28 km về phía Đông-Bắc… có thể sửa soạn cho một trận đánh mới vào Sông Bé?
Ngày 25 tháng 11, Trung Đoàn 275 cộng sản bắc Việt tấn công thăm dò một trại quân của Việt Nam Cộng Hoà phía Nam Sông Bé… Trận đánh kéo dài 4 tiếng và cộng quân rút lui bỏ lại gần 100 xác! Sau đó cho thấy đây chỉ là trận cầm chân quân Việt Nam Cộng Hoà khi cộng quân tấn công vào Bố Đức (29 tháng 11)! ​(Periodic Intel Report No 47II/FFV) ​(Xin đọc bài Bù Đốp của Trần Lý) –Trong năm 1967, SF mở thêm nhiều trại hành quân giữa những khu vực mật khu của cộng quân và ven biên, dùng các lực lượng biệt kích lưu động (Mike force) và toán thám sát hoạt động ngăn chặn các đường xâm nhập và chuyển vận quân và tiếp liệu dùng Chiến khu D để di chuyển vào vùng ven đô Sàigòn. Các Trại có mục đích lâu dài và gặp nguy hiểm nhất là Prek Klok và Tống Lê Chân tại Chiến khu C, trại Bunard (xem bài về Bunard của Trần Lý) tại Chiến khu D và các trại của Sông Bé gây trở ngại cho các cuộc xâm nhập của cộng quân từ Kampuchea…
- Năm​ 1968, cộng quân tránh các cuộc tấn công trực tiếp vào Tỉnh lỵ nhưng vẫn liên tục quấy phá các Trại Lực Lượng Đặc Biệt thuộc Tỉnh… Các lực lượng hậu cần của cộng quân như Đoàn 86, tìm cách tránh các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà, dùng các đường vòng…
- Ngày 26 tháng 2: một toán Dân Sự Chiến Đấu (CIDG) từ Bù Đốp (A-341) đã phục kích tại một địa điểm cách Tỉnh lỵ 32 km về phía Đông. Toán đã chặn đánh một chiếc xe vận tải quân sự bắc Việt (Molotova 2.5 tấn). Xe chở đầy quân bắc Việt chạy xuống phía Nam về vùng Kampuchea. Xe lọt ổ phục kích của CIDG và bị tiêu diệt hoàn toàn: 17 cộng quân bị hạ, 2 bị thương; tịch thu 16 võ khí cá nhân và 2 súng cộng đồng. Phía CIDG có 1 bị thương cùng 1 SF Mỹ.
- Ngày 28/2 Trại Bunard (A-344) bị pháo kích 20 quả 82 ly… 15 CIDG bị thương.- (Trong những tháng đầu năm 1965, cộng quân đã xây dựng một con đường chiến lược tại vùng phía Đông Sông Bé, có thể sử dụng cho xe vận tải, đường chạy từ biên giới Miên đến gần Quốc lộ 14… Không Quân Việt Mỹ và các toán CIDG đã liên tục oanh kích và ngăn chặn các cuộc chuyển vận của cộng quân…)
- Ngày 16 tháng 3: Dân sự chiến đấu Bù Đốp tiếp tục phục kích cộng quân xâm nhập: tại 33 km Đông-Bắc Tỉnh lỵ Sông Bé: 2 xe vận tải ¾ tấn bị tấn công; cộng quân bỏ chạy vào rừng, 2 xe bị hủy , bỏ lải 2 xác…
- Hành quân trực thăng vận “Tamatta Shanee” từ 23 đến 28 tháng 3, tảo thanh khu vực Tây Nam Phước Long. Lực lượng hành quân tiến theo hai hướng… cộng quân tránh đụng độ.. Phá hủy được nhiều kho tiếp liệu: 16,000 lbs gạo trong bao, 1 quả bom 500 lbs, 12 xe đạp thồ,.. 6 cộng quân bị hạ, 1 bị bắt cùng 30-40 hầm hố, lô cốt bị san bằng…
- Nhiều đơn vị Hoa Kỳ đã từng trú đóng tại Sông Bé (Xem phần trên)
● Sông Bé: 1969
Năm 1969 có một vài trận đánh giữa cộng quân và lực lượng Hoa Kỳ trú đóng tại Phước Long trong đó đáng kể nhất là trận đụng độ tại Căn cứ Hoả lực Buttons. Căn cứ hoả lực Buttons (Fire Support Base = FSB) nằm về phía Bắc và hơi chếch về phía Tây của núi Bà Rá (Phước Long), cách Phước Bình 1.5 km về hướng Tây. Tỉnh lộ 310 nồi liền Sông Bé và Phước Bình. Hai tỉnh lộ 310 (chạy Đông-Tây) và 311 (Bắc-Nam) gặp nhau tại Liên tỉnh lộ 1A. Tỉnh lộ 310 nối FSB Buttons với phi trường Sông Bé và FSB nằm ven lộ 310… Núi Bà Rá cách FSB Buttons chừng 1 km về phía Nam. FSB Buttons là nơi đặt Bộ chỉ huy của Tiểu Đoàn 5/7 Không Kỵ, tại đây có một Pháo Đội 6 khẩu 105 và nơi trú đóng của một lực lượng thám kích Delta. Pháo Đội 105 yểm trợ cho các cuộc hành quân của Tiểu Đoàn 5/7 Không Kỵ và các toán thám kích Delta…
Tiểu Đoàn 5/7 do Trung Tá Thomas Healy chỉ huy (ông này sau lên Tướng Hoa Kỳ) và sau đó FSB Buttons do Đại Tá Meyer chỉ huy (Tướng Meyer, năm 1980 là Tham Mưu Trưởng Lục quân Hoa Kỳ) cộng quân đã tấn công vào FSB Buttons ngày 4 tháng 11 năm 1969. Cộng quân sử dụng 2 Tiểu Đoàn Đặc công với trên 500 quân với ý định đột kích căn cứ cố gây tổn hại cho quân Mỹ và rút thật nhanh. Ngay 1 giờ sáng sớm cộng quân pháo kích vào Căn Cứ với đủ loại pháo 107, 120 và cối 82… và đặc công cắt rào xâm nhập…
Cuộc tấn công hoàn toàn thất bại trước hoả lực rất mạnh của các thiết quân vận AC AV và chiến xa Sheridan của Tiểu Đoàn 5/7 Không Kỵ (mỗi AC AV được gắn 1 đại liên 0.50 cal, với 1500 viên đạn, 2 đại liên M-60 với 12 ngàn viên chưa kể M-79, súng cá nhân…) cộng quân rút chạy lúc 5 giờ sáng sau khi gần như toàn bộ đặc công cộng sản xâm nhập bị bắn hạ, ngoài ra Hoa Kỳ còn có thêm các trực thăng võ trang và AC-47 yểm trợ. Cộng quân bỏ lại 172 xác, đổi lại phía Mỹ có 2 chết và 26 bị thương…
Các tài liệu tịch thu được ghi lại: cộng quân đã dùng Đoàn đặc công tinh nhuệ nhất của COS Việt Nam - J-16 và 1 Tiểu Đoàn thuộc Trung Đoàn 141/Sư Đoàn 7 cộng sản bắc Việt trong trận đánh (Xin đọc thêm “Incursion" của J.D Coleman trang 165-166). Ngày 14 tháng 11 năm 1969, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 7 cộng sản bắc Việt đã tấn công vào Căn cứ hoả lực Jerri (Đây là một Cứ Điểm bảo vệ một bãi đáp trực thăng và pháo binh, cách Trại SF Bù Đốp khoảng 4 km, do vài đơn vị Hoa Kỳ thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ trấn giữ). Cộng quân pháo kích dữ dội vào căn cứ bằng súng cối và hoả tiễn trong suốt 30 phút. Cộng quân rút chạy ngay khi quân Hoa Kỳ phản pháo… Bên Mỹ có 5 quân nhân tử thương… Các Căn cứ hoả lực Buttons và Jerry sau này được Quân Đội Hoa Kỳ trong cuộc tấn công vượt biên giới qua đất Miên ngày 1 tháng 5 năm 1970.
● Sông Bé: Hè 1972
Trong mùa Hè 1972: Cộng quân tập trung lực lượng tấn công vào An Lộc (Bình Long). Khu vực lãnh thổ trách nhiệm của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà (Tư lệnh là Chuẩn Tướng Lê văn Hưng) gồm các Tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phước Long (Tỉnh Trưởng là Đại Tá Lưu Yểm): Tại Phước Long có Tiểu Đoàn 1/9 đóng quân tại Bố Đức, chịu trách nhiệm bảo vệ Thị xã phối hợp với Địa Phương Quân và Nghĩa Quân cơ hữu của Tình… Cộng quân chỉ tấn công quấy rối Sông Bé, dùng các lực lượng địa phương phục kích các đường lộ và pháo kích vào các cứ điểm phòng thủ để cầm chân các lực lượng trú phòng.
● Sông Bé: Sau Hiệp định Paris
Hiệp định Paris được ký ngày 27 tháng Giêng 1973, các vùng đất cộng quân chiếm đươc trong Trận Tổng tấn công Mùa Hè 1972 được xem là Vùng “giải phóng”. Quân Việt Nam Cộng Hoà không thể tấn công tái chiếm. Cộng quân kiểm soát hầu như toàn bộ Tỉnh Bình Long, ngoại trừ Thị xã An Lộc và Cứ điểm Chơn Thành. Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà cố gắng khai thông Quốc lộ 13 phía Bắc Lai Khê nhưng việc tiếp tế cho An lộc và Chơn Thành rất khó khăn và phải dùng không vận.
Cộng quân cũng kiểm soát các vùng đất quanh Phước Bình (Sông Bé), Thị xã của Phước Long! Cho đến cuối năm 1972, cộng quân thay đổi các bố trí lực lượng: Sau An Lộc, cộng quân chỉ để lại Trung Đoàn 95 C trong khu vực.
Sư Đoàn 18 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà giao việc phòng thủ An Lộc lại cho Biệt Động Quân Quân Khu 3 (có 8 Tiểu Đoàn trong đó Tiểu Đoàn 92 lo phòng thủ Căn cứ Tống Lê Chân). cộng quân đưa Trung Đoàn 272 về vùng quanh Bố Đức và vùng Tây Bắc Phước Long để phá rối, đồng thời dưỡng quân; Trung Đoàn 271 chuyển về Đông Bắc Chơn Thành, chặn Quốc lộ 13 giữa An Lộc và Chơn Thành, đồng thời dự trú tấn công các Căn Cứ Chí Linh (thuộc Bình Long) và Đồng Xoài (thuộc Phước Long). Các căn cứ này do Địa Phương Quân trấn giữ và được tiếp tế bằng không vận.
Đồng Xoài được nối với Phú Giáo bằng Quốc lộ 1A (Phú Giáo là căn cứ của Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 Việt Nam Cộng Hoà). Đầu tháng Giêng 1973, Trung Đoàn 7/5 hành quân khai thông Quốc lộ và một đoàn xe tiếp tế đã đến được Đồng Xoài, nhưng Quốc lộ 14 phía Bắc Đồng Xoài vẫn bị chặn nên Thị xã Sông Bé và các căn cứ quân sự tại Sông Bé phải được tiếp vận bằng phi cơ và nếu dùng đường bộ phải đi vòng ngõ Quảng Đức…
Đề phòng thủ Phước Long, Trung Đoàn 9 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà đã đến trú đóng tại Sông Bé Năm​ 1973​: là năm “Giành dân-Giữ đất” (Land Grab) trước khi các bên ký Hiệp định Đình chiến: Cộng quân lo củng cố các vùng họ đã chiếm đóng sau cuộc tiến công Hè 72. Bên Việt Nam Cộng Hoà tìm cách lấy lại các Xã Ấp bị mất. Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà vẫn cố giữ Sông Bé: một căn cứ phòng thủ mới, được xây dựng thêm cạnh phi trường. Việc chống giữ Sông Bé chỉ có giá trị “chính trị” vì Sông Bé không phải là một “tiền đồn” nhằm ngặn chống lại cộng quân trong các cuộc tiến công về Sàigòn.
Từ đầu năm 1974, TỈnh lỵ Sông Bé (Phước Bình) chỉ nối kết với bên ngoài bằng đường bộ qua ngã Kiến Đức (Tỉnh Quảng Đức): đường rất xa và khúc khuỷu vì qua nhiều vùng đồi núi: từ Nha Trang đi Ban Mê Thuột, qua Gia Nghĩa đến Kiến Đức và rẽ về phía Tây để đến Sông Bé: đoạn Quốc lộ 14 lưu thông được nhờ quân trú phòng tại Đức Phong canh giữ (giữa Kiến Đức và Sông Bé). Có thể đi từ Đức Phong qua lối Bù Na để đến Sông Bé nhưng không an toàn. Từ giữa tháng 3/74 đường 14 lưu thông từ Bắc Đồng Xoài cũng bị cắt đứt… Việc tiếp tế cho Sông Bé tùy thuộc vào khả năng của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà sử dụng các C-130 A, Chinook và trực thăng UH-1.
Không Quân Việt Nam Cộng Hoà bị mất 2 chiếc C-130 A tại Phi trường Sông Bé:
- 18 tháng 12 năm 1974: Chiếc S/N 55-000521 trúng đạn pháo kích khi đang lên-xuống hàng. Phi cơ hư hại hoàn toàn. Phi Hành Đoàn: Thiếu Tá Nguyễn Chánh Mỹ và Trung Uý Châu Vĩnh Khải vô sự và được trực thăng bốc về Biên Hoà.
- 25 tháng 12 năm 1974: Chiếc S/N 55-0016 bị bắn hạ khi đang đáp.
Trong thời gian đình chiến, cộng quân đã lo xây dựng các kho tiếp liệu quân sự, các kho thực phẩm, làm đường xá, thiết lập các ổ phòng không. Cộng quân đưa thêm các xe tăng… lập các trung tâm huấn luyện tại khu vực Lò Gò (Tây Ninh) và Bù Đốp (Phước Long) cộng quân cô lập hoá Thị xã Sông Bé, dùng pháo các loại pháo kích và dùng bộ binh tấn công các tiền đồn của Việt Nam Cộng Hoà dọc suốt 75 km đường lộ, kéo dài từ Phú Giáo đến Sông Bé. Cộng quân pháo kích phi trường Sông Bé và tấn công Đồng Xoài, cắt đường bằng cách phá cây cầu bắc ngang sông Sông Bé, Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, trong các ngày 14 đến 22 tháng 11 năm 1974, đã tập trung 122 phi vụ khu trục oanh kích các vị trí phòng không, pháo binh và kho hàng của cộng quân tại Phước Long để ngăn chặn các cuộc tập trung quân của cộng quân trong vùng. Tại Bù Đốp ngày 5 tháng 12, Không Quân dùng 23 chiếc A-1, 17 chiếc F-5 và 18 chiếc A-37 oanh kích phá hủy 45 toà nhà, 2 vị trí phòng không, một kho đạn, kho xăng dầu gây nhiều đám cháy và nhiều vụ nổ phụ
● Những diễn biến trước cuộc tấn công lấn chiếm Phước Long:​
(Theo The Last Christmas: Phuoc Long của William E Le Gro trong “VietNam from Cease-Fire to Capitulation, trang 132-133) Tỉnh Phước Long, do vị trí khá xa Sàigòn nên không nằm trong các kế hoạch phòng thủ Sàigòn từ xa của Bộ Tỗng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Sau Hiệp định Paris (1973), Phước Long có là “biểu tượng chính trị” để cho thấy Phe Cộng không chiếm đươc “trọn” một Tỉnh nào của Việt Nam Cộng Hoà hơn nữa sự hiện diện của các “tiền đồn” Việt Nam Cộng Hoà trong các khu vực bị cộng quân chiếm vẫn là những cái “gai” gây khó khăn cho cộng quân về cả chính trị lẫn quân sự. Nhiều đơn vị hậu cần và chiến thuật của Trung Ương Cục Miền Nam cộng sản bắc Việt (COS Việt Nam) đã di chuyển vào các khu vực an toàn tạm chiếm tại vùng đồn điền cao su Bố Đức – Bù Đốp. Bộ Chỉ huy Thiết giáp M-26 của cộng quân, có 3 Tiểu Đoàn xe tăng đóng tại Phi trường Bù Đốp, chỉ cách Căn Cứ quân Việt Nam Cộng Hoà tại Sông Bé có 25 km. Bộ Chỉ huy Công binh của COS Việt Nam cũng đặt tại Bố Đức với 3 Tiểu Đoàn, mở rộng các đường lưu thông giữa Lộc Ninh và Bù Gia mập. Các Tiểu Đoàn Phòng không, Vận tải, Tiếp liệu… di chuyển vào Khu tạm chiếm, nằm trong tầm bắn của Pháo Binh Việt Nam Cộng Hoà đóng tại Phước Bình (Sông Bé). Ngoài ra 4 con đường tiếp liệu, xâm nhập chiến lược của cộng quân, đi qua Phước Long, từ Bắc xuống Nam, vòng qua các Cứ Điểm nơi quân Việt Nam Cộng Hoà trấn đóng và vượt các đoạn đường mà quân Việt Nam Cộng Hoà tuần tiễu!
Mùa Hè 1974, Phước Long yên ổn. Tháng 8/1974 một hồi chánh viên, ra hàng tại Tiểu Khu Phước Long cung khai cho biết cộng quân đã gửi 2 toán trinh sát thăm dò các Căn Cứ của Việt Nam Cộng Hoà: một toán trinh sát Sông Bé và một toán thăm dò Đức Phong. Vì sau đó không thấy cộng quân tấn công nên Đại Tá Nguyễn Thống Thành, Tỉnh Trưởng cho rằng các hoạt động trinh sát này của cộng quân chỉ nhẳm mục đích tìm đường vận chuyển tiếp liệu quân sự và lương thực… hơn nữa theo tin tức tình báo thì cộng quân chưa tập trung đủ quân trong vùng để đe doạ trực tiếp Phước Long (?), tuy vẫn có thể gây trở ngại cho các cuộc di chuyển của quân Việt Nam Cộng Hoà trên các đường lộ dẫn đến Tỉnh lỵ Sông Bé: như Quốc lộ 14 đi Quảng Đức, và các Tỉnh lộ nối Sông Bé với Bù Na.
Sư Đoàn 7 cộng sản bắc Việt cắt đường giữa Buna đi Đồng Xoài nên phải dùng lối Quảng Đức rất xa và nhiều trở ngại. Đồng Xoài chỉ nhận tiếp vận bằng trực thăng… Cộng quân đóng chốt liên tục trên Quốc lộ 14, phía Đông Phước Bình - Sông Bé nên quân Việt Nam Cộng Hoà phải mở các cuộc hành quân khai thông mỗi khi muốn chuyển vận tiếp liệu và thực phẩm vào Thị xã Sông Bé. Nhu cầu gạo của Tỉnh mỗi tháng khoảng 500 tấn, địa phương chỉ tự canh tác được chừng 200 tấn, phần còn lại phải vận chuyển vào Tỉnh bằng xe vận tải. Lực lượng trú phòng giữ mức tồn trữ đạn đủ dùng trong một tuần trong trường hợp đánh lớn và đạn dự trữ phải được cung cấp liên tục…
Việt Nam Cộng Hoà phải dùng các C-130 để phụ thêm cho nhu cầu… (xem tổn thất C-130 phần trên). Để dự trù chuyến tiếp liệu vào tháng 11 năm 1974, Đại Tá Thành cho khai thông Quốc lộ. Để bảo vệ các Cứ Điểm trong lúc các đơn vị Địa Phương Quân trú phòng tham dự cuộc hành quân mở đường, Quân Đoàn III, không còn quân Bộ Binh trừ bị, đành gửi cho Phước Long 3 Đại Đội Trinh sát, lấy từ quân số của 3 Sư Đoàn (5, 18 và 25) thống thuộc Quân Đoàn, Các lực lượng Địa Phương Quân của Đức Phong gồm Tiểu Đoàn 362 Địa Phương Quân, 4 Trung Đội Nghĩa quân, một Trung Đội Pháo 105 phối hợp cùng 2 Đại Đội của Tiểu Đoàn 340 Địa Phương Quân (Sông Bé) được rải dọc Quốc lộ 14. Trong một cuộc đụng độ gần biên giới Quảng Đức, lực lượng này hạ được 4 cộng quân thuộc Trung Đoàn 201 bắc Việt, tân lập (thuộc Sư Đoàn 3 cộng sản bắc Việt cũng tân lập riêng cho Phước Long)… Tuy cuộc hành quân mở đường thành công nhưng dấu hiệu có mặt của một Trung Đoàn cộng quân trong vùng Đức Phong đã đặt một câu hỏi nghiêm trọng! Ngoài hai Tiểu Đoàn 340 và 362 Địa Phương Quân trên, Đại Tá Thành còn có Tiểu Đoàn 341 Địa Phương Quân tại Đồng Xoài và Tiểu Đoàn 363 Địa Phương Quân tại Bù Na, thêm vào đó là 34 Trung Đội Nghĩa quân phòng vệ cho các Ấp quanh Sông Bé, trong đó 14 Trung Đội lo phòng thủ 8 Ấp thuộc Chi Khu Đức Phong, 9 Trung Đội phòng vệ các Xã Ấp quanh Đồng Xoài… Toàn Tỉnh được yểm trợ bởi 4 khẩu 155 và 16 khẩu 105… mỗi Chi Khu còn có 2 khẩu 105… cộng quân chính thức tấn công Phước Long ngày 13 tháng 12, 1974… và Phước Long thất thủ ngày 6 tháng Giêng 1975.
Trần Lý 1/2020
Le Yen
sau Paris 73 miền nam VN yếu dần : cắt viện trợ, không quân Mỹ hết yểm trợ, các chiến thuật chiến lược vụn vặt, tướng tá kém vì ô Thiệu ô Viên thụ động , vài sq giỏi bị trói tay