Saturday, January 10, 2026

    

         

Dù cách nhau 1/2 vòng trái đất, nhưng 40 năm sau lần gặp gỡ đầu tiên tại Thung lũng Tình yêu Đà Lạt năm 1967- 68... họ đã gặp lại nhau lần nữa để trở thành vợ chồng, hạnh phúc cho đến nay và mãi mãi...

 

SAIGON—“If you want to make poulet à la crème (gà sốt kem), there aren't any good mushrooms. You can't make Swiss fondue (lẩu phô mai Thụy Sĩ) because there's no cheese or kirsch (rượu kirsch). Two years ago they stopped importing wines. But I suppose we shouldn't complain. There's a war on,” said Madame Madeleine Leccia, proprietor of the Guillaume fell restaurant in Saigon.

Madame Leccla's problems are common to French restaurateurs all over Vietnam, where the art of French cooking is still practiced fitfully (ko đều đặn) and with varying degrees of success in most of the large cities of the country.

A Mountain Resort

But to get a really good dish with mushrooms one must go more than 100 miles to the mountain resort of Dalat, to a French restaurant called l'Eau Vive (Nước của sự sống), where the Catholic lay (ko lành nghề) sisters who run the establishment as a religious duty say the secret of their success is that they cook for God.

The closest authentic

French potage aux legumes (súp rau củ), with the same consistency (nhất quán) of pulverized potato and carrot and the same taste that the soup has in France, is in pastoral outdoor restaurant called La Biche aux Abois (Con nai bị dồn vào Đường cùng) in Thu Duc, 10 miles east of Sai gon.

All three of these restaurants are run or supervised by Frenchmen. There are now only a few thousand natives of France left in Vietnam, which until 1954 was part of the French colonial empire in Indochina.

Madame Leccia, for example, is Alsatian and has been here for 19 years. Her husband, a Corsican, died in 1962.

“It's my livelihood (sinh kế),” she says of the Guillaume Tell. “I've had the same chef since 1954. He is Chinese, but most of the recipes are my own.”

Popular With Americans

The Guillaume Tell, one of the best of the 30 or so French restaurants in Saigon—only 5 are owned by Frenchmen—is in a large, highceilinged room cooled by eight airconditioners. It is favored by American businessmen and Embassy officials for catered dinners because upstairs there is a secluded room for parties that is considered secure from a terrorist attack.

The Chinese and Vietnamese waiters wear bow ties (cà vạt) and white jackets, and the maitre d’hotel (quản lý) wears a tuxedo (lễ phục), but Madame Leccia, a tall florid (tươi như hoa) woman with glasses, is the distinctive feature of the place.

The menu is like most French restaurant menus in Vietnam. It features such soups as consommé froid au porto (dùng lạnh với rượu porto), cream of asparagus and vichyssoise (súp Vichyssoise), each at about 90 cents, duck a l'orange (vịt sốt cam), at $2.50, tournedos (beefsteak hay chateaubriand) in several sauces at about $3, and a few vegetable dishes, none memorable.

The only wines available are the ones sold in the American Post Exchange (quân tiêp vụ của Mỹ), which dribble (tuồn ra) to the restaurants through the black market and are sold at inflated prices (nearly $10 for a bottle of Paul Masson pinot noir or Beaujolais, which costs a little more than $1 at the Exchange).

Madame Leccia, on whose restaurant's wall is displayed prominently a sign saying “in vino veritas (uống rượu sẽ nói thật),” said, “To import wines you have to have a license, and there's a 300 to500 per cent tax on them. It's the same with cheese. A camembert costs 1,000 piasters (more than $3).

What people really go to the restaurant for is the atmosphere, which by dint of murals (tranh vẽ trên tường) of Swiss chalets (biệt thự nhỏ băng gỗ ở Thụy Sĩ), and arrows bearing slogans like “carpe diem” (hành động ngay) and the motto on the menu (“He who knows not how to drink knows nothing”, kẻ nào ko biết uống rượu ko biết gì hết) makes it seem like a real French restaurant in a happier time and place.

The nuns’ restaurant in Dalat, l'Eau Vive, has both the atmosphere and the taste of a real French restaurant. Dalat is 5,000 feet up in the Annamite Mountains and there is occasionally frost there in the wintertime. The Eau Vive is in a villa that once belonged to a French colonialist.

 

Food Cooked Perfectly

“The possibilities of cuisine here are very limited, because there's a war on,” said one of the lay sisters, a darkhaired young Belgian woman who said she did not want to give her name. But we must cook the food perfectly, because if we did not, we would be betraying our vows.

Foreigners in Vietnam learn that the way to order salad is to say to the waiter, “salade Dalat,” and the salad at l'Eau Vive is the best in the country. Most of Vietnam's lettuce and tomatoes are grown there because the colder climate suits them better. The tomatoes in l'Eau Vive's salad were red and juicy, not thin and drained as they usually are in Saigon.

The vegetable soup is better at La Biche aux Abois, a restaurant closer to Saigon, next to a manioc field under a grove of gum trees in Thu Duc, between Saigon and the giant United States Army base at Longbinh. The name of the restaurant mean the doe at bay and there are superb game recipes on the menu. One of the best that is occasionally on the menus is cuisson de sanglier (đùi heo rừng), or leg of wild boar.

The manager; a bald Frenchman named Robert Bords, has been ill recently, but his menu has a snappy sound to it. Sandwiches are called amuses — gueules (khai vị, ăn trước bữa ăn chánh), the French expression for some thing to fill your face with, and pork pâtés (pate heo) come in two varieties: petite and grande cochonneries, a play on words that suggests pigs but means inanities (những điều vô nghĩa).

The restaurant is a crescent — shaped space covered by a tin corrugated roof but otherwise open and surrounded by trees and flowering shrubs.

Most affluent Vietnamese who live in Saigon go to one of the numerous excellent and varied Chinese or one of the few truly Vietnamese restaurants when they want to celebrate. Despite the valiant efforts made by the remaining practitioners of the French culinary arts, who occasion ally do very well, the Vietnamese clearly know where they will get a better meal./.

 If you’ve taken a trip to Lâm Đồng within the last few years, these scenes seem like a distant dream of a sparsely populated and verdant Đà Lạt that’s engulfed by nature.

These incredible aerial shots were taken by Bill Robie, a US Air Force veteran, in 1968 and 1971. As his plane slid past downtown Đà Lạt, Robie was able to capture the central Đà Lạt Market and other famous landmarks in great detail. Many of these buildings may face demolition under a new urban development plan published not long ago by city officials.

See a bird’s-eye view of old Đà Lạt below:

The central area of Đà Lạt before 1975 with the Hòa Bình Theater on the left and Đà Lạt Market on the right.

Another viewpoint of Hòa Bình Theater.

Xuân Hương Lake.

Pongour Waterfall.

The roundabout in front of Đà Lạt Market.

An elevated path above a row of kiosks.

Đa Nhim Hydroelectric Power Station and dam on the right.

Central Đà Lạt, surrounded by forests.

Central Đà Lạt from above.

[Photos by Bill Robie via Redsvn]

Saïgon Chợ Lớn Then & Now

 Từ lâu, dựa vào quyển The Complete Of Chinese Horoscope của Chris Marshall, tôi biết mình có một may mắn lạ thường là đã có một dự trữ lớn lao về nội lực (vast reservoir of internal strength). Hôm nay tôi tìm một bài nói rõ về nội lực của bản thân, rất dúng những tính chất mà tôi có. Tôi định copy và paste trên blog của tôi, nhưng do ko làm được, nên copy link sau đây để bạn đọc bài này.

Nội lực là gì? Khái niệm, vai trò và cách rèn luyện để nội lực thêm vững chắc

Ảnh minh họa. 


Thursday, January 8, 2026

 

Tưởng cũng nên nhắc lại trận Cái Bè 1964.

“Lúc 0100 giờ ngày 20/7, quân cách mạng (revolutionaries) đã mở 1 tấn công lớn.

Họ tập hợp ba tiểu đoàn (TĐ) –- 261, 263, và 514—và tăng cường cho mỗi TĐ một đại đội súng không giựt (SKZ), đại liên, cối, và đặc công để tấn công quận lỵ Cái Bè ở phía tây của tỉnh Định Tường. Khoảng 300 chiến sĩ thuộc bộ chỉ huy (BCH) trung đoàn và lực lượng địa phương, gồm nghĩa quân và địa phương quân (NQ/ĐPQ) bảo vệ Cái Bè. Quân nổi dậy đã xâm nhập quận lỵ và gây nhiều thiệt hại, đặc biệt là khu gia binh của các gia đình ĐPQ/NQ. Họ đã giết 12 lính và 40 thân nhân của họ. 40 lính và 40 thân nhân khác bị thương. Quân nổi dậy rút lui lúc 0500 g sáng.

CP đã phản công với 5 TĐ, có thiết giáp yểm trợ, để đẩy họ ra bờ sông Tiền Giang, cách Cái Bè 5 km. TĐ 8 Dù tái chiếm quận lỵ và tiếp tục xuyên qua ruộng mía và ruộng lúa tới 1545 khi 2 đại đội dù bị chận đánh. Đ.đ. đi đầu của TĐ tiến thêm 90 m cho tới khi họ bị chận lại bởi đại liên. Đ.đ. còn lại đã do dự (falter) sau đ.đ. trưởng và hiệu thính viên chết. Các trực thăng võ trang hay gunship của Mỹ đã bắn 130 rốc-két lập hàng rào lửa cách phòng tuyến Dù 45 m. Cuối cùng TĐ dù  rút lui lúc 1900.

Trong khi đó, lúc 1600, quân nổi dậy đào công sự dọc theo 1 hàng cây, đã cầm chân một đ.đ. của TĐ 6 Dù. Sau một vài trì hoãn, TĐ trưởng đã nghe theo cố vấn để bao vây địch theo thế gọng kềm (pincer movement), nhưng thay vì tấn công vào 2 bên hông của địch, Dù đã tấn công chính diện. Cuộc tấn công bắt đầu lúc 1830, có hai máy bay Mohawk và vài gunship hỗ trợ. Xui thay, gunship đã bắn lầm TĐ 6 Dù, khiến họ mất bình tỉnh (unnerve), phải lập 1 chu vi phòng thủ qua đêm. Các trực thăng VNCH từ chối tản thương do trời tối, khiến 1 trực thăng Mỹ phải đến để cứu 12 thương binh. Cố vấn trưởng của lữ đoàn Dù, đại tá John Hayes, bày tỏ thất vọng vì sự ngại đụng độ của TĐ Dù hôm đó.

Kết quả: 16 lính Dù tử trận và 52 bị thương, trong đó có một cố vấn. Địch có 46 chết và 12 bị bắt sống. Một cố vấn phỏng đoán địch có thêm cả trăm người thương vong. Quân khu 2 của CS đã nhận định rằng CP nghĩ rằng sẽ có nhiều quận lỵ khác bị tấn công (để gây tiếng vang).

Các tướng Mỹ nhận định, quân VNCH buộc phải xé lẻ (split up) để tăng cường các đồn bót quận lỵ, và tinh thần binh sĩ có vẻ thờ ơ hay hờ hửng (apathetic) hơn trước”. Hết trích.


MỘT SO SÁNH NHẸ: CẦU ĐƯỜNG Ở MIỀN NAM TRƯỚC 75 VÀ MIỀN BẮC XHCN VÀO ĐẦU THẬP NIÊN (TN) 1990.
- Trong năm 1967, viện trợ kinh tế của Mỹ cho VNCH hơn 550 triệu đô, bằng $5,329,983,333 đô của năm 2025. Giá cả đã tăng 869/100, với lạm phát trung bình 3.99/100 mỗi năm. Nên nhớ dân miền nam lúc đó khoảng 17 triệu.
Nhờ phục vụ ở sư đoàn 7 bộ binh trước 75, nên tôi đã đi lại nhiều lần trên QL-4 (đã đi từ SG xuống tới “bắc” (bắc là tiếng Pháp, có nghĩa bến phà) Vĩnh Long bắt qua Sông Tiền Giang, và từ “bắc” Cần Thơ từ Vĩnh Long qua Cần Thơ). Trước 75, người ta vẫn còn thấy đường dẫn qua sông, đang xây dở dang, có lẽ chế độ cũ định xây cầu để thế ‘bắc’ Vĩnh Long từ Quận Giáo Đức qua Vĩnh Long.
Khoảng năm 1973-75, các cầu trên đoạn đường từ SG xuống tới ‘bắc’ Vĩnh Long đều xây mới, do cơ quan USAID của Mỹ đài thọ (vì có tấm bảng ghi công dựng kế cầu trong đó ghi tên nhà thầu, ngày khởi công, ngày khánh thành, v.v…); cầu bằng bê-tông cốt sắt, rất rộng rải. Các cầu được nghĩa quân canh giữ cẩn mật ngày đêm trong đó có dùng hàng rào kẻm gai bọc nhiều lớp quanh các chân cầu đề phòng đặc công CS đưa chất nổ đến chân cầu để giựt sập. Các xe thiết giáp chạy bánh V-100 tuần tiểu suốt đêm trên QL-4; cầu nào bị giựt sập thì quận trưởng mất chức. Vì QL-4 là con đường huyết mạch đưa lúa gạo và rau quả từ đồng bằng Sông Cửu Long để nuôi dân SG. Tôi còn nhớ, mỗi lần có biến động hay trận đánh nào đó trên QL-4 là má tôi ra chợ Xóm Chiếu mua 1 bao gạo).
Tưởng nên nói qua về viện trợ kinh tế của Mỹ thời chiến tranh.
“Cố gắng của USAID tại VN.
Từ 1962-75, Nam VN đã nhận phần lớn nhứt của trợ giúp kinh tế của USAID. Chỉ riêng năm 1967, cơ quan này đã dành riêng cho VN hơn 550 triệu đô trong ngân sách toàn thế giới là hơn hai tỉ dù VN chỉ có khoảng 17 triệu dân.
Từ 1961 – 1972, USAID đã lập rất nhiều dự án như trường, bịnh viện, xa lộ, nhà máy thủy điện, trung tâm kỹ nghệ và HTX nông nghiệp. Cơ quan cũng gửi hang ngàn chuyên viên về anh nông, bác sĩ, y tá, thày giáo, kỹ sư, nhân viên tình báo, và cố vấn dân sự. Ví dụ, hơn 700 bác sĩ Mỹ từng làm việc trong các bv do USAID xây. – hết trích.
==
Trong khi miền nam, dù đang có chiến tranh phá hoại, nhưng CP đã tích cực phát triển hệ thống cầu đường ở mọi nơi nếu tính hình an ninh cho phép. Khoảng năm 1974, trong lúc hành quân trên đường liên tỉnh Cai Lậy đi Mộc Hóa, chạy dọc theo Kinh 12, tôi đã gặp ông Nguyễn văn Đô, một thầu khoán bạn ba tôi. Ông nói đang lãnh thầu đào kinh (dùng xáng thổi đào kinh).
Khoảng đầu TN 1990, khi làm thông dịch cho Pháp, tôi đã đi đường bộ từ HN đi Hải Phòng, trên QL-5, có từ đời Pháp. Đường rất xấu, giằng xóc nên tôi bị ói mửa. Trên đường chỉ có cầu sắt, cũng có từ thời Pháp, trước 54, xe qua lại chỉ có MỘT CHIỀU – nghĩa là xe bên đây cầu qua hết thì tới bên kia qua. Nên nhớ, Mỹ đã ngưng ném bom miền bắc từ 1972, nghĩa là trước đó khoảng 18 năm, vật mà chánh phủ của CHXNCNCN vẫn không có tiền để sửa cầu, dù họ đã ĐỔI MỚI KINH TẾ từ năm 1986.
SJ ngày 8 Jan 26.

Wednesday, January 7, 2026

TỔ CHỨC THANH THIẾU NIÊN BỐN T TRƯỚC 1975 THUỘC TY NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM CỘNG HÒA

Nguồn ảnh: Do một "kiến" hữu gửi cho tôi, và tôi đăng lại trên blog. 

- Ôn cái cũ để biết cái mới.

Trước 75, ở SG có trường nữ trung học công lập Sương Nguyệt Ánh, học sinh được học nữ công gia chánh. Trường nằm gần đường Lê văn Duyệt và Sân Tao Đàn thuộc quận Nhất SG. 

                                                                         






NGÓI THÔNG HƠI, CHÓ MÈO CÓ THỂ CHUN QUA.